ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------------------
PHAN THANH THẮNG
NGHIÊN CỨU KINH NGHIỆM SỬ DỤNG TÀI
NGUYÊN CÂY THUỐC CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI
DAO TẠI HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ LÂM NGHIỆP
Thái Nguyên - 2019
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------------------
PHAN THANH THẮNG
NGHIÊN CỨU KINH NGHIỆM SỬ DỤNG TÀI
NGUYÊN CÂY THUỐC CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI
DAO TẠI HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN
CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ : 8.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HD KHOA HỌC: TS. ĐỖ HOÀNG CHUNG
Thái Nguyên - 2019
3.1.2. Đặc điểm hình thái của một số cây dược liệu tiêu biểu được người dân tộc
dao Định Hóa sử dụng thường xuyên .......................................................................23
3.2. Tri thức địa phương trong việc khai thác và sử dụng các loài cây thuốc ...........30
3.2.1. Tri thức địa phương trong việc khai thác các loài cây thuốc .........................30
3.2.2. Tri thức địa phương trong việc sử dụng các loài cây thuốc ...........................36
3.3. Các loài thực vật dùng để làm thuốc cần được bảo tồn, nhân rộng ...................42
3.4. Đề xuất một số giải pháp trong công tác bảo tồn và nhân rộng các loài cây
thuốc, bài thuốc của cộng đồng dân tộc Dao ............................................................44
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...................................................................................46
Kết luận .....................................................................................................................46
Kiến nghị ...................................................................................................................47
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................49
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam được đánh giá là nước
đứng thứ 16 trên thế giới về sự phong phú, đa dạng sinh vật, trong đó độ đa dạng về
cây cỏ khoảng 10.386 loài thực vật có mạch đã được xác định, dự đoán có thể tới
12.000 loài, trong số này, nguồn tài nguyên cây làm thuốc chiếm khoảng 30 (Trần
Công Khánh, 2002, tr. 2). Nằm tại khu vực giao lưu các nền văn hóa ở các nước
Đông Nam Á, Việt Nam còn là quốc gia đa dạng về các nền văn hóa của 54 dân tộc
anh em sinh sống trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Với mức độ đa dạng về hệ thực vật văn hóa như vậy, chúng ta đang được kế thừa một kho tàng tài nguyên cây thuốc
quý giá của các cộng đồng dân tộc khác nhau sử dụng trong công tác chăm sóc sức
khỏe và phát triển kinh tế.
Phần lớn cây thuốc Việt Nam mọc hoang dại ở vùng rừng núi - một vùng
chiếm ¾ diện tích toàn lãnh thổ, là nơi cư trú của 54 dân tộc mà phần lớn là dân tộc
quán… của các dân tộc thiểu số mà ít ai quan tâm đến vấn đề y học cổ truyền bản
địa của họ, chưa có một quyển sách nào ghi chép lại tên tuổi của những ông lang, bà
mế nổi tiếng của các dân tộc thiểu số, cũng như kinh nghiệm chữa bệnh gia truyền
của họ - một trong những bản sắc văn hóa, một trong những hoạt động kinh tế góp
phần bảo đảm nhu cầu cuộc sống và phát triển văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu
số. Gần đây nhất, tác phẩm “Dân tộc H’Mông và thế giới thực vật” của Diệp Đình
Hoa (1998) chỉ nói về mối quan hệ giữa người H’Mông và thực vật một cách khái
quát, chung chung. Một số công trình của các nhà thực vật học, dược học, y học
dành nhiều thời gian và tâm huyết vào công tác điều tra cơ bản nhằm kế thừa, phát
hiện và khai thác nguồn tài nguyên quý giá này trong công tác chăm sóc, bảo vệ sức
khỏe cũng như phát triển kinh tế (Sách“Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” –
Đỗ Tất Lợi, 2006; “Cây thuốc Việt Nam” của lương y Lê Trần Đức, 1997;“Từ điển
cây thuốc Việt Nam” của Võ Văn Chi, 1997). Như vậy, mặc dù đã thu được nhiều
kinh nghiệm quý báu, xong vẫn còn rất nhiều cây thuốc và tri thức sử dụng cây
thuốc đó ở những vùng đồng bào dân tộc thiểu số chưa được khám phá.
Thực tế cho thấy có nhiều dân tộc thiểu số ở Việt Nam như người Dao, Sán
Dìu (Ba Vì, Tam Đảo), người Cao Lan (Tuyên Quang), người Cơ Ho, Raglai, Chăm
3
(Bình Thuận, Ninh Thuận)…, tuy không có lý thuyết âm dương, hàn nhiệt, ngũ
hành, lục khí như y học cổ truyền Trung Quốc, hoặc như y học cổ truyền chính
thống Việt Nam, nhưng từ lâu đời họ đã hình thành tập quán sử dụng thực vật, có
những quan điểm riêng trong cách trị bệnh, có những cây thuốc quý báu và kinh
nghiệm chữa bệnh rất hay mà chúng ta chưa từng biết đến. Trong khi đó hiện nay,
do nhiều biến động lớn về nguồn tài nguyên cây thuốc cũng như nền văn hóa các
dân tộc thiểu số, đặc biệt thời kỳ mở cửa phát triển kinh tế hàng hóa, trước sự xâm
nhập ồ ạt của “thuốc tây” với nhiều ưu thế: tiện sử dụng, tác dụng nhanh đã làm
nhiều người xem nhẹ giá trị chữa bệnh bằng những loại thuốc từ cây cỏ. Mặt khác,
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Phát hiện được từ cộng đồng người Dao các bài thuốc, cây thuốc dân gian
dùng để trị các loại bệnh thường gặp trong cuộc sống.
- Lựa chọn được các bài thuốc, cây thuốc hay quan trọng để phát triển nhân
rộng và bảo tồn trên cơ sở lựa chọn có sự tham gia của người dân.
- Tư liệu hóa được tri thức sử dụng, một số bài thuốc gia truyền và những
kinh nghiệm chữa bệnh của đồng bào dân tộc Dao từ các loài cây hoặc các bộ phận
của cây sử dụng an toàn và có hiệu quả.
- Tư liệu hóa được tri thức trong việc trồng, khai thác và chế biến cây thuốc
của các cộng đồng người Dao ở khu vực nghiên cứu
3. Ý nghĩa của đề tài
3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Qua việc thực hiện đề tài sẽ giúp học viên làm quen với việc nghiên cứu
khoa học, cũng cố kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tế; biết các thu
thập, phân tích và xử lý thông tin cũng như kỹ năng tiếp cận và làm việc với cộng
đồng thôn bản và người dân.
3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
Đề tài góp phần nghiên cứu về việc sử dụng các loài thực vật Lâm sản ngoài
gỗ để làm thuốc nhằm bảo tồn nguồn tri thức địa phương.
5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu trên Thế giới
Trên thế giới, nhiều nước đã sử dụng nguồn Lâm Sản Ngoài Gỗ để làm
thuốc, nhiều nước đã có nhiều đề tài nghiên cứu về thuốc và họ cũng đã sử dụng
nhiều nguồn tài nguyên này xuất khẩu làm dược liệu và thu được nguồn ngoại tệ
đáng kể. Đặc biệt là Trung Quốc, có thể khẳng định đây là quốc gia đi đầu trong
nghiệm về cây thuốc và dược liệu để soạn thành quyển: “Bản thảo cương mục”.
Đây là cuốn sách vĩ đại nhất của Trung Quốc về lĩnh vực này. Tác giả đã mô tả và
giới thiệu 1.094 cây thuốc và vị thuốc từ cây cỏ (Lý Thời Trân, 1963).
Năm 384 – 322 (TCN), Aristote người Hy Lạp đã ghi chép và lưu trữ sớm
nhất về kiến thức cây cỏ ở nước này. Sau đó, năm 340 (TCN) Theophraste với tác
phẩm “Lịch sử thực vật” đã giới thiệu gần 480 loài cây cỏ và công dụng của chúng.
Tuy công trình của ông mới chỉ dừng lại ở mức mô tả, thống kê, song nó mở đầu
cho một giai đoạn tìm tòi, nghiên cứu sâu về lĩnh vực này. Thầy thuốc người Hy
Lạp Dioscorides năm 60 – 20 (TCN) giới thiệu 600 loài cây cỏ chủ yếu để chữa
bệnh. Đồng thời, ông cũng là người đặt nền mống cho nền y dược học. Năm 79 – 24
(TCN) nhà tự nhiên học người La Mã Plinus soạn thảo sách “Vạn vật học” gồm 37
tập giới thiệu 1000 loài cây có ích. Năm 1952, tác giả người Pháp A. Pétélot có
công trình “Les phantes de médicinales du Cambodye, du Lao et du Việt Nam” gồm
4 tập nghiên cứu về cây thuốc và sản phẩm làm thuốc từ thục vật ở Đông Dương.
Như vậy, những công trình nghiên cứu về dược liệu đã có từ lâu đời, hình thành và
phát triển cùng với tiến trình lịch sử của nhân loại. Tuy nhiên, do sự hạn chế của
trình độ khoa học đương thời nên những công trình này chỉ dừng lại ở mức độ mô
tả, thống kê và chỉ ra công dụng của chúng, chưa có cơ sở để chứng minh thành
pahanf hóa học của chúng có tồn tại trong đó và tham gia vào việc chữa bệnh như
thế nào. Chỉ đến khi khoa học kỹ thuật phát triển thì vấn đề này mới được làm sáng
tỏ, tạo độ tin cậy đối với người bệnh khi sử dụng (Dẫn theo Vũ Văn Chuyên, 1976).
Manju Panghal và cs. (2010) nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng các loài cây
thuốc của các cộng đồng tại huyện Jhajjar, bang Haryana, Ấn độ. Kết quả cho thấy
có 57 loài cây thuốc được sử dụng, thuộc 51 chi và 35 họ thực vật. Trong đó có 19
loài thuộc 13 họ có tác dụng chữa trị rắn cắn. Có 48 loài thuộc 34 họ được sử dụng
7
để chữa trị các bệnh khác. Phân theo dạng sống có 20 loài cây thân thảo (36%), 16
Gangwar và cs. (2010) nghiên cứu đa dạng thực vật dân tộc tại huyện
Kumaun Himalaya, bang Uttarakhand, Ấn độ. Kết quả cho thấy các loài cây thuốc
dân tộc truyền thống rất đa dạng. Đã thống kê được 102 loài cây thuộc 48 họ được
sử dụng như là cây thuốc truyền thống của người dân bản địa, số loài thuộc các họ
được thống kê từ cao tới thấp là: các họ Asteraceae, Limiaceae và Rosaceae (mỗi họ
có 9 loài) tiếp theo là các họ Solanaceae và Poaceae (4 loài); Araceae,
Euphorbiaceae, Polygonaceae, Ranunculaceae, Scrophularaceae và Valerianaceae
(3 loài mỗi họ); Apiaceae, Apocynaceae, Liliaceae, Meliaceae, Moraceae, Pinaceae,
Plantaginaceae, Rutaceae, Saxiferagaceae, Verbenaceae và Zingiberaceae (2 loài
mỗi họ); và 25 họ khác (mỗi họ 1 loài). Về dạng sống, có 50 loài cây thân thảo, 24
loài cây bụi, 22 loài cây gỗ, thân bò và dây leo mỗi dạng có 3 loài. Bộ phận sử
dụng, có 21 loài sử dụng cả cây; 43 loài sử dụng một vài bộ phận (nhiều hơn 1 bộ
phận như lá, cành và rễ, thân, rễ và vỏ…); 14 loài sử dụng rễ; 8 loài sử dụng lá; 4
loài sử dụng quả; vỏ, thân ngầm và hạt mỗi loại có 3 loài; 2 loài sử dụng thân và 1
loài sử dụng hoa.
Gidey Yirga (2010) điều tra tri thức bản địa sử dụng cây thuốc tại phía Bắc
Ethiopia. Kết quả thống kê có 16 loài cây được sử dụng để trị các bệnh cho người.
Phần lớn các loài cây (68,75 %) cây hoang dại và gây trồng được sử dụng lá.
Rey G. Tantiado (2012) nghiên cứu tài nguyên cây thuốc bản địa tại Iloilo,
Philippines. Kết quả thống kê cho thấy có 101 loài cây thuộc 92 chi và 44 họ. Bộ
phận sử dụng, có 59% số loài dùng lá, 13% số loài dùng quả, 10% số loài dùng
thân, 7% số loài dùng rễ, 5% số loài dùng hoa, 4% số loài dùng cả cây và 2% số loài
dùng hạt.
Koushalya Nandan Singh (2013) nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây
thuốc ở phía Tây dãy Himalaya, Ấn độ. Kết quả ghi nhận có 86 loài thực vật thuộc
69 chi và 34 họ được sử dụng để chữa trị khoảng 70 bệnh khác nhau. Các loài thực
vật được sử dụng trong các bài thuốc thảo dược chủ yếu thuộc về các họ
Asteraceae, Lammiaceae, Gentianaceae, và Polygonaceae. Hầu hết các loại thuốc
“Từ Điển cây thuốc Việt Nam” ghi 3200 cây thuốc trong đó có cả cây thuốc nhập
nội… Theo tài liệu của Viện Dược liệu (2002) thì Việt Nam có đến 3.948 loài cây
10
làm thuốc, thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật (kể cả rêu và nấm) có công dụng làm
thuốc. Trong số đó có trên 90% tổng số loài cây thuốc mọc tự nhiên. Nhưng qua
điều tra thì con số này có thể được nâng lên vì kiến thức sử dụng cây thuốc của một
số đồng bào dân tộc thiểu số chúng ta nghiên cứu chưa được đầy đủ hay còn bỡ
ngỡ. Trong những năm qua, chỉ riêng ngành Y học dân tộc cổ truyền nước ta đã khai
thác một lượng dược liệu khá lớn. Theo thống kê chưa đầy đủ thì năm 1995, chỉ
riêng ngành Đông dược cổ truyền tư nhân đã sử dụng 20.000 tấn dược liệu khô đã
chế biến từ khoảng 200 loài cây. Ngoài ra còn xuất khẩu khoảng trên 10.000 tấn
nguyên liệu thô (Viện Dược Liệu, 2002).
Khi phát hiện được tác dụng an thần rất ưu việt của I-tetrahudropalmatin từ rễ,
củ của một số loài Bình vôi thì việc khai thác chúng cũng được tiến hành ồ ạt. Để
tách chiết một loại ancloit I-tetrahudropalmatin làm thuốc ngủ rotundin người ta đã
khai thác một hỗn hợp củ của rất nhiều loại Bình vôi mà trong đó có loại không chứa
hoặc chỉ chứa hàm lượng I-tetrahydropalmatin không đáng kể. Do khai thác bừa bãi
để chế biến trong nước hoặc bán nguyên liệu thô qua biên giới sang Trung Quốc mà
nhiều loại Bình vôi trở nên rất hiếm. Đến năm 1996, tuy mới biết được trên 10 loài
thuộc chi Bình vôi (Stephania) thì đã có 4 loài phải đưa vào sách đỏ việt Nam (Viện
Dược Liệu, 2002).
Theo Lê Trần Đức, 1997, Sa nhân là cây thuốc quý trong y học cổ truyền
phương Đông, thuộc chi Sa nhân (Amomum Roxb), họ Gừng (Zingiberaceae). Trên
thế giới chi Amomum roxb có khoảng 250 loài phân bố phân bố chủ yếu ở vùng
nhiệt đới núi cao. Ở Ấn Độ có 48 loài, Malaysia có 18 loài, Trung Quốc có 24 loài.
Ở nước ta, Sa nhân phân bố hầu hết các tỉnh vùng núi Bắc và Trung Bộ có khoảng
30 loài trong đó có gần 30 loài mang tên Sa nhân, trong đó 23 loài đã được xác định
thời gian gần đây không ngừng tăng lên:
- Năm 1952 toàn Đông Dương có 1.350 loài.
- Năm 1986 Việt Nam đã biết có 1.863 loài.
- Năm 1996 Việt Nam đã biết có 3.200 loài.
- Năm 2000 Việt Nam đã biết có 3.800 loài
Ninh Khắc Bản và cs. (2013) nghiên cứu tri thức sử dụng các loài cây thuốc
của cộng đồng dân tộc Cơ tu và Vân kiều tại vùng đệm Vườn quốc gia Bạch Mã.
Kết quả thống kê cho thấy, các loài cây thuốc dùng để chữa bệnh không
những đa dạng về thành phần loài (249 loài thuộc 82 họ của người Cơ Tu, 27
12
loài thuộc 21 họ của người Vân Kiều), về dạng sống (thân thảo 61,0%, dạng gỗ, bụi
39,0%), về bộ phận sử dụng (người Cơ Tu sử dụng làm thuốc vẫn là cành, lá 77 loài
chiếm 31%; tiếp đến là cả cây 73 loài chiếm 30%; rễ, củ 68 cây chiếm 28%; hoa
quả 15 loài chiếm 7%; các bộ phận khác 9 loài chiếm 4%. Người Vân Kiều sử dụng
rễ củ 13 loài chiếm 42%; cành lá 8 loài chiếm 26%; cả cây 5 loài chiếm 16%; các
bộ phận khác (nhựa, dịch thân,...) 4 loài chiếm 13% và hoa quả 1 loài chiếm 3%)
mà còn đa dạng về các nhóm bệnh được chữa trị (11 nhóm bệnh).
Bùi Văn Hướng và cs. (2013) nghiên cứu đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc
của đồng bào dân tộc tại tỉnh Gia Lai. Qua điều tra nghiên cứu, bước đầu đã xác
định được 145 loài thực vật được sử dụng làm thuốc thuộc 112 chi và 61 họ
của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch đó là Ngọc lan (Magnoliophyta),
Dương xỉ (Polypodiophyta), Thông đất (Lycopodiophyta). Ngành Ngọc lan
(Magnoliophyta) chiếm ưu thế với 53 họ, chiếm 86,9%; 105 chi, chiếm 93,8% và
137 loài, chiếm 94,5% so với tổng số họ, chi, loài cây thuốc đã điều tra. Về dạng
sống của cây thuốc thì nhóm cây bụi với 62 loài, chiếm 42,8%; tiếp đến là nhóm
cây thân thảo với 31 loài, chiếm 21,4%; nhóm cây dây leo với 25 loài, chiếm
17,2%; nhóm cây gỗ với 21 loài, chiếm 14,5% và cuối cùng là nhóm cây thân rễ
trên nhóm cộng đồng người Dao tại Định Hóa thì chưa được đề cập, chính vì vậy
hướng nghiên cứu của đề tài là cần thiết để tài liệu hóa tri thức địa phương nhằm
phát huy giá trị của các kiến thức địa phương về khai thác và sử dụng cây thuốc của
cộng đồng người Dao tại Định Hóa.
14
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Chỉ nghiên cứu tri thức sử dụng các loài
thực vật của cộng đồng dân tộc Dao tại huyện Định Hóa.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại 3 xã (Kim Sơn, Bảo
Linh và Phú Đình) có người Dao sống thành cộng đồng tại huyện Định Hóa.
2.2. Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 6/2018 đến tháng 8/2019
2.3. Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Xác định danh mục các loài cây được sử dụng làm thuốc tại khu
vực nghiên cứu
- Xác định các loài cây được người Dao khai thác và sử dụng làm thuốc.
- Mô tả một số đặc điểm hình thái của các loài cây thuốc.
Nội dung 2: Tri thức bản địa trong việc khai thác và sử dụng các loài cây thuốc
- Tư liệu hóa kiến thức bản địa về khai thác như: Bộ phận thu hái; Mùa vụ và
kỹ thuật thu hái;
- Tư liệu hóa kiến thức bản địa về về bảo quản sản phẩm: Biện pháp xử lý,
bảo quản sản phẩm sau thu hoạch.
- Tư liệu hóa kiến thức bản địa về cách chế biến và sử dụng các loài cây
thuốc: Các phương thức chế biến đối với từng cây ở từng cộng đồng, từng hộ như
NCCT được phân thành một số nhóm nhất định (theo kinh nghiệm; dân tộc; độ tuổi;
giới...), sau đó lấy ngẫu nhiên NCCT từ các loại đó.
Phỏng vấn: Sử dụng một câu hỏi duy nhất cho tất cả NCCT, ví dụ: “Xin bác
(anh/chị/ông/bà) kể tên tất cả các cây trong khu vực có thể được sử dụng làm thuốc
mà bác (anh/chị/ông/bà) biết?”. Điều quan trọng nhất khi phỏng vấn là đề nghị
NCCT liệt kê đầy đủ tên cây làm thuốc bằng tiếng dân tộc của mình. Điều này tránh
được sự nhầm lẫn tên cây thuốc giữa các ngôn ngữ, văn hóa khác nhau (đã phỏng
vấn 60 người trên địa bàn 3 xã).
16
Hình 2.1. Đường cong xác định cây thuốc trong một cộng đồng cho thấy có thể
dừng phỏng vấn khi số loài không tăng.
Xử lý dữ liệu: Dữ liệu điều tra được xử lý bằng tay hay bằng các phần mềm
máy tính, bao gồm: (i) liệt kê tất cả các tên cây thuốc được NCCT nhắc đến, (ii)
đếm số lần tên cây thuốc n được nhắc đến (tần số nhắc đến), và (iii) xếp danh mục
các tên theo thứ tự nào đó, ví dụ như xếp theo tần số giảm dần. Có thể xác định
danh mục các loài được dùng làm thuốc tiêu biểu (hay các loài cốt lõi), là các loài
được nhiều NCCT nhắc đến, cộng với một số lượng lớn các loài được một số ít
NCCT hay chỉ một người nhắc đến. Các loài tiêu biểu phản ánh sự tồn tại của một
tiêu chuẩn văn hóa, tri thức chung của cộng đồng liên quan đến lĩnh vực cây thuốc
trong khu vực điều tra. Các loài còn lại thể hiện cái nhìn, tri thức, kinh nghiệm riêng
của các thành viên trong cộng đồng.
2.4.3.2. Xác định cây thuốc
Sau khi xử lý dữ liệu và loại bỏ tên đồng nghĩa, chúng ta có trong tay một
danh mục tên các cây được cộng đồng sử dụng là thuốc. Tuy nhiên đây chỉ là danh
mục bằng tên địa phương, chưa rõ tên nào thuộc loài nào. Do đó, cần thiết phải xác
định tên phổ thông và tên khoa học của các cây mang tên đó. Để làm được việc này,
cần thu thập mẫu tiêu bản của tất cả các tên cây thuốc đã được nêu ra trong danh
Cách thu thập thông tin khác, có hệ thống hơn, là NCCT và điều tra viên dừng lại
tại mỗi điểm có sự thay đổi về thảm thực vật và phỏng vấn đối với tất cả các loài
cây thuốc xuất hiện trong khu vực đó.
Thông tin cần phỏng vấn bao gồm: tên cây (tên địa phương), bộ phận dùng,
cách dùng....Để tiết kiệm thời gian người ta thường in sẵn một sổ mẫu biểu có các
18
nội dung điều tra đã định trước và đánh dấu tại các nội dung phù hợp trong quá
trình điều tra. Bất kỳ cây nào được NCCT xác định là cây thuốc đều được thu thập
để xác định tên khoa học (Phụ lục 5) .
+ Xử lý thông tin: Thông tin thu thập được theo phương pháp này thường có
tính chất định tính, bao gồm: Danh mục loài (tên địa phương, tên khoa học, bộ phận
dùng, công dụng,...), ước lượng tần số xuất hiện trong tuyến điều tra.
2.4.3.4. Xác định các loài cây thuốc cần ưu tiên bảo tồn
Phân hạng cây thuốc theo mức độ đe dọa của loài (Theo Martin, 2008):
+ Độ hữu ích của loài đối với người dân địa phương: sử dụng thang 3 mức điểm
- Loài không có tiềm năng được dùng ở địa phương: 0 điểm
- Loài sử dụng ít đối với người dân địa phương: 1 điểm
- Loài có tầm quan trọng đối với người dân địa phương: 2 điểm
+ Mức độ để xâm nhập (vị trí mọc của loài để bị tìm thấy để khai thác): sử
dụng thang 2 mức điểm
- Loài mọc ở nơi rất khó xâm nhập: 0 điểm
- Loài mọc ở nơi rất dễ xâm nhập: 1 điểm
+ Tính chuyên biệt về nơi sống (sự xuất hiện của loài thể hiện khả năng sống
thích nghi của loài hạn hẹp hay phổ biến): sử dụng thang 3 mức điểm
- Loài xuất hiện ở nhiều nơi sống khác nhau: 0 điểm
- Loài xuất hiện ở một số ít nơi sống: 1 điểm
- Loài có nơi sống hẹp: 2 điểm
Thảo luận nhóm: Sau khi có kết quả bước đầu về tri thức và kinh nghiệm
qua phỏng vấn, để kiểm tra độ chính xác cũng như để có thêm các thông tin bổ
sung, đánh giá mức độ ưu tiên bảo tồn các loài cây thuốc, chúng tôi tiến hành thảo
luận nhóm. Nhóm thảo luận bao gồm cả những người tham gia và không tham gia
phỏng vấn trước đó. Trong khi thảo luận, cán bộ nghiên cứu lần lượt đưa các thông
tin đã thu thập được ra để mọi người tranh luận, nhiều kinh nghiệm đã được chỉnh
lý và bổ sung qua quá trình này.
2.4.4. Phương pháp nghiên cứu thực vật học
Thu mẫu: Các mẫu vật được thu thập theo kinh nghiệm sử dụng của người
dân địa phương.
Các mẫu tiêu bản tốt phải đảm bảo có đầy đủ các bộ phận đặc biệt là cành, lá
cùng với hoa, quả (đối với cây lớn) hay cả cây (cây thảo nhỏ hay dương xỉ). Các
20
cây lớn thu từ 3- 5 mẫu trên cùng cây; các cây thảo nhỏ và dương xỉ thì thu 3 - 5 cây
(mẫu) sống gần nhau. Điều này là rất cần thiết để bổ sung cho nhau trong quá trình
21
định mẫu và trao đổi mẫu vật. Các mẫu được thu thập phải có tỷ lệ tương đối phù
hợp với kích thước chuẩn của mẫu tiêu bản: 41 x 29 cm.
Tuy nhiên trong điều tra thực vật dân tộc học, các mẫu tiêu bản thu được
thường không đầy đủ các tiêu chuẩn trên. Trong các trường hợp này, cần thu thập
các mẫu vật có thể (cành, lá, hoa, quả, hạt, rễ… ), các mẫu này không đủ cơ sở để
xác định chính xác tên khoa học nhưng có thể định hướng cho quá trình thu thập
thông tin kèm theo và thu mẫu tiêu bản bổ sung sau này.
Bên cạnh các mẫu thực vật điển hình thì để mô phỏng cho giá trị sử dụng,