Thiền Tông chỉ nam của Trần Thái Tông - Pdf 62

Thiền Tông chỉ nam của Trần Thái Tông
Trẫm thầm nhủ: Phật không chia Nam Bắc, đều có thể tu mà tìm; tính người có trí ngu, cũng
nhờ giác ngộ mà thành đạt. Vì vậy, phương tiện dẫn dụ đám người mê muội, con đường tắt
sáng tỏ lữ tử sinh, ấy là đại giáo của Đức Phật. Đặt mực thước cho hậu thế; làm khuôn mẫu cho
tương lai, ấy là trách nhiệm của tiên thánh.
Cho nên Lục tổ (có nói): "Bậc đại thánh và đại sư đời trước
không khác gì nhau. Như thế đủ biết đại giáo của Đức Phật ta
phải nhờ tiên thánh mà truyền lại cho đời, thế thì nay lẽ nào
trẫm không coi trách nhiệm của tiên thánh là trách nhiệm của
mình, giáo lý của Đức Phật là giáo lý của mình ư!
Và thuở trẫm còn niên thiếu, hiểu biết mới võ vẽ được nghe
loáng thoáng lời dạy bảo của thiền sư đã dập tắt ngay mọi điều
vương vấn; lòng thốt nhiên trong lặng, để tâm vào nội giáo (3),
tham cứu đạo Thiền, dốc lòng tìm thầy, thành khẩn mộ đạo.
Tuy nhiên cái ý hồi tâm hướng đạo ấy đã nẩy mầm mà cái cơ
cảm xúc còn chưa thấu.
Vừa mười sáu tuổi, Thái hậu đã chán cõi trần, trẫm nằm rơm gối đất, huyết lệ nát lòng; ngoài nỗi ưu
phiền, nghĩ đâu việc khác. Thế rồi mới vài năm sau, Thái tổ Hoàng đế lại bỏ ngôi trời (4). Niềm nhớ
mẹ chưa nguôi, tình thương cha càng nặng (5). Ngổn ngang đau xót, khó nỗi khuây lòng.
Trẫm nghĩ: Cha mẹ vỗ về nuôi nấng con không thiếu cách gì, con dù thịt nát xương tan cũng không
đủ báo đền trong muôn một. Huống chi, đấng hoàng khảo Thái tổ ta xây dựng cơ nghiệp rất mực gian
nan, trị nước giúp đời lại càng khó nhọc. Người đem ngôi báu trao lại cho trẫm từ lúc ấu thơ khiến
trẫm đêm ngày lo sợ, không chút thảnh thơi.
Trẫm tự bảo mình: Trên đã không có cha mẹ để nương tựa, dưới lại e chẳng xứng với lòng dân trông
đợi, biết làm thế nào? Suy đi nghĩ lại, không gì hơn lui về chốn núi rừng tìm học Đạo Phật, để hiểu rõ
nghĩa lớn của việc sống chết, cung đền đáp công ơn khó nhọc của mẹ, cha, thế chẳng tốt hơn sao?
Thế là chí trẫm đã quyết. Đêm mồng ba tháng Tư năm Bính Thân, niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình
thứ năm (6) trẫm cải dạng ra khỏi cửa cung rồi bảo với tả hữu rằng: "Trẫm muốn ra ngoài chơi để
lắng nghe tiếng nói của dân, xem xét lòng dân, ngõ hầu biết được mọi khó khăn của công việc"
Bấy giờ tả hữu đi theo trẫm chỉ bảy tám người. Giờ Hợi đêm ấy trẫm cưỡi một ngựa lặng lẽ ra đi;
qua sông về hướng Đông, mới mang tình thực nói với tả hữu.

- Phàm đã là bậc nhân quân tất phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình; lấy tấm lòng của
thiên hạ làm tấm lòng của mình. Nay muôn dân đã muốn đón bệ hạ về thì bệ hạ không về sao được!
Duy có việc nghiên cứu nội điển xin bệ hạ đừng chút xao lãng mà thôi.
Vì thế trẫm cùng mọi người trở về kinh, miễn cưỡng lên ngôi. Trong khoảng hơn chục năm, mỗi khi
được rảnh việc trẫm lại hội họp các vị tuổi cao đức cả để tham vấn đạo Thiền. Còn như các kinh điển
của đại giáo thì không kinh nào không nghiên cứu.
Trẫm thường đọc kinh Kim cương, đến câu: "Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm" (10) vừa gấp sách lại
ngâm nga, bỗng nhiên tỉnh ngộ, liền đem những điều giác ngộ được làm bài ca này, đặt tên là Thiền
Tông chỉ nam.
Năm ấy Quốc sư từ núi Yên -tử về kinh, trẫm cho ở chùa Thắng- nghiêm để trông coi việc khắc bản
in kinh sách. Nhân đó, trẫm đưa bài ca cho Quốc sư xem. Mới đọc qua một lần, sư đã mấy phen tán
thưởng, nói:
- Tấm lòng của chư Phật ở cả trong bài ca này, sao không khắc in thành kinh bản để chỉ dẫn cho kẻ
hậu học?
Trẫm nghe lời sư, sai thợ viết chữ chân phương rồi truyền cho khắc bản. Chẳng riêng để chỉ dẫn
đường mê cho đời sau mà còn muốn mở mang công nghiệp của các thánh nhân thuở trước. Vì thế
trẫm làm bài tựa này.

Chú thích:
1. Theo ĐVSKTT, vị hoàng hậu Chiêu Thánh, lâu chưa có con, Trần Thủ Độ bắt Trần Thái Tông phế
đi, và cướp vợ Trần Liễu (anh ruột ông, bà này là chị ruột Chiêu Thánh) lúc đó đang có thai lập làm
hoàng hậu. Trần Liễu tức giận họp quân làm loạn. Thái Tông vì thế chán việc đời, bỏ ngôi vua vào tu
ở núi Yên- tử. Sau Thủ Độ dắt quần thần tìm đến khuyên giải và ép trở về. Tác phẩm Thiền Tông chỉ
nam ca đã mất, chỉ còn lại bài tựa này.
2. Lục tổ: tức sư Tuệ Năng (? - 713), họ Lư, người Lĩnh-nam, là học trò thiền sư Hoằng Nhẫn, tổ thứ
năm dòng Thiền tông Trung- quốc, trụ trì ở chùa Bảo - lâm, núi Tào -khê, Thiều- châu.
Ông được Hoằng Nhẫn truyền y bát làm tổ thứ sáu, nhưng Thiền tông đến ông thì chia làm hai: Nam
tông và Bắc tông. Tuệ Năng là người mở đầu của Nam tông. Bắt đầu từ ông, Thiền tông không
truyền y bát nữa.
3. Nội giáo: Cũng như đại giáo đều chỉ đạo Phật; các thuật ngữ như nội điển, đại tạng đều chỉ kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status