Trần Thái Tông – Nhà thiền học, nhà thơ pot - Pdf 20

Trần Thái Tông – Nhà thiền học, nhà thơ

Trần Thái Tông, vị vua mở đầu triều Trần (1225 - 1400), người anh hùng trong
cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông xâm lược lần thứ nhất 1258, nhà Thiền
học và nhà thơ, có cuộc đời riêng đầy bi kịch.

Theo sắp xếp của Trần Thủ Độ, lúc ấy đang giữ chức Điện tiền chỉ huy sứ, Trần
Cảnh lấy Lý Chiêu Hoàng, vua nhà Lý (do Lý Huệ Tông, không có con trai
nhường ngôi cho). Sau được Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi, Trần Cảnh lên làm
vua (miếu hiệu là Thái Tông), phong Chiêu Hoàng là Hoàng hậu. Nhưng vì lấy
nhau gần chục năm mà Hoàng hậu vẫn không sinh con, nên Trần Thủ Độ lại ép
Trần Cảnh bỏ Lý Chiêu Hoàng, để lấy chị bà là Thuận Thiên, vợ Trần Liễu, anh
ruột Trần Cảnh khi đang có mang. Trần Liễu căm phẫn nổi binh chống lại, song
thế yếu phải xin hàng. Trần Thủ Độ định giết Trần Liễu nhưng Trần Thái Tông đã
ra sức bảo vệ, sau đó lấy đất vùng Yên Sinh (thuộc huyện Đông Triều) cho Trần
Liễu làm ấp thang mộc và phong là Yên Sinh Vương ở đất ấy.

Đức khoan dung không giết anh của Trần Thái Tông được Trần Dụ Tông (1341
– 1369), vua thứ bẩy của nhà Trần, làm một bài thơ ca ngợi rất hay:

Đường Việt khai cơ lưỡng Thái Tông.

Bỉ xưng Trinh Quán, ngã Nguyên Phong.

Kiến Thành tru tử, An Sinh tại, Miếu hiệu tuy đồng, đức bất đồng.

(Khai sáng cơ nghiệp nhà Đường và Đại Việt cùng là hai vua Thái Tông.

Vua Đường xưng niên hiệu Trinh Quán, vua Việt niên hiệu Nguyên Phong.

Kiến Thành bị giết chết, còn An sinh thì sống,

được ghi lại trong sách Khoá hư lục, một tác phẩm Phật học quan trọng do Trần
Thái Tông viết vào thời gian ông làm Thái Thượng hoàng (1258 – 1277).

Khoá hư lục có nghĩa là ghi chép quá trình tu luyện đạo Phật theo tinh thần kiên
trì học tập nhưng không cố chấp để bị trói buộc bởi những giáo điều, nhằm đạt tới
sự chứng ngộ hoàn toàn tự do “Phật cũng không mà Tổ cũng không, không cần trí
giới, không cần niệm Kinh…”. Đó cũng chính là tinh thần thực tiễn, phá chấp,
khai phóng, táo bạo của Phật giáo Thiền tông đời Trần.

Nội dung cốt lõi của tư tưởng thiền học Trần Thái Tông được ông nói rõ ở bài
Toạ Thiền luận (Bàn về ngồi Thiền): “Người học đạo chỉ cần kiến tính”. “Kiến
tính” là thấy tính. Tính là tâm, tâm là phật. Phật tính có ở mọi vật, mọi người.
Điều cốt yếu đối với một thiền gia là phải thấy rõ Phật tính trong mình. Khi thấy
tính có nghĩa là thành Phật. Xuất phát từ tư tưởng “kiến tính thành Phật” để đi tìm
chân lý nên trong cuộc đời Trần Thái Tông không ngừng tự thức tỉnh, tinh tiến
vươn lên; sống và hành động phóng khoáng, dũng cảm. Hình ảnh Trần Thái Tông
là hình ảnh một con người khi làm tướng đánh giặc thì “xông pha giữa tên đạn”,
khi làm vua thì sẵn sàng “trút bỏ ngai vàng như trút bỏ đôi dép rách”, như lời nhận
xét của sử gia Ngô Thì Sĩ.

Khi nghiên cứu tư tưởng Thiền của Trần Thái Tông, chúng ta không thể không
liên hệ đến phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử do Trần Nhân Tông đứng đầu và sẽ thấy,
tư tưởng Trần Nhân Tông nói riêng và tư tưởng của phái Trúc Lâm nói chung,
thực ra là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời khỏi hệ thống tư tưởng Thiền đời
Trần, trong đó nổi bật lên vai trò chủ đạo có ảnh hưởng chi phối của tư tưởng Trần
Thái Tông và Tuệ Trung Thượng sĩ. Ở đây chỉ nói riêng về Trần Thái Tông. Khi
luận về niệm Phật, ông nói: “Người trí có ba hạng: người thượng trí, tâm tức Phật,
không tần tu thêm. Niềm tức là bụi, không dung một mảy may. Niềm bụi vốn
trong sạch, cho nên nói như, không động tức là thân Phật. Thân Phật tức là thân ta,
không có hai tướng. Tướng, tướng không hai, lặng lẽ có thường, có mà không biết,

thứ nhất.

Có lẽ ít thấy trong lịch sử Phật giáo nước nào lại nêu vấn đề “quốc gia xã tắc” ra
và giải quyết theo hướng đặt “quốc gia xã tắc” lên trên hết, trươc shết như thế.

Ở Việt Nam “quốc gia xã tắc” bao giờ cũng là vấn đề trọng đại nhất. Thái độ
đối với “quốc gia xã tắc” chính là thước đo giá trị của mỗi người bất kể họ ở
cương vị nào.

Về phương diện này, Trần Thái Tông đã để lại tấm gương sáng ngời trong lịch
sử.

Khoá hư lục không chỉ là một tác phẩm chứa đựng những tư tưởng triết học
phật giáo sâu sắc mà còn thể hiện rõ tác giả Trần Thái Tông là một con người có
tâm hồn thi sĩ dạt dào cảm xúc trữ tình. Những bài kệ dưới hình thức thơ thất
ngôn, ngũ ngôn trong Khoá hư lục khá giầu hình tượng thi ca. Thí dụ bốn bái kệ
nói về bốn ngọn núi (Tứ sơn kệ) tượng trưng cho bốn giai đoạn của một đời người
mà ai cũng phải trải qua, đó là sinh (núi thứ nhất), lão (núi thứ hai), bệnh (núi thứ
ba), tử (núi thứ tư).

Cũng như tình yêu, cái chết đã trở thành một đề tài vĩnh cửu của văn học nghệ
thuật thế giới xưa nay. Trần Thái Tông là một nhà thơ cổ Việt nam viết về cái chết
thật lạ và mới, khiến người đọc đến bàng hoàng. Trong bài kệ thứ tư, để diễn tả cái
chết, đúng hơn là để thức tỉnh nhân thế rằng, đời người chỉ là một ảo ảnh giữa bão
giông rồi sẽ biến mất, chỉ còn lại sự tĩnh lặng ngàn đời. Trần Thái Tông đã mượn
hình ảnh ông chài say tuý luý trên chiếc thuyền câu mong manh trong cuồng
phong và dòng sông với bóng trăng, nhằm nêu lên triết lý về tính bất định, hư ảo
của cuộc đời.

Bãi đãng cuồng phong quát địa sinh


Trăng lặn sông dài đêm mấy canh!

(Bản diễn nôm của Phúc Điền hoà thượng, thế kỷ XIX).

Về phương diện văn chương, bài kệ này quả là một thi phẩm có hình tượng độc
đáo, chứng tỏ Trần Thái Tông là một nhà thơ giàu tài năng. Tâm hồn thi sĩ của
Trần Thái Tông được thể hiện rất đẹp qua bài Ký Thanh Phong am tăng Đức Sơn
(Gửi nhà sư Đức Sơn ở am Thanh Phong) ông viết trong một đêm ở am Thanh
Phong cùng với thiền sư Đức Sơn ngắn trăng khuya:

Phong đả tùng quan nguyệt chiếu đình,

Tâm kỳ phong cảnh cộng thê thanh.

Cá trung tư vị vô nhân thức,

Phó dữ sơn tăng lạc đáo minh.

Nghĩa là:

Gió đập cành thông cửa chùa, trăng chiếu trên sân,

Tâm hồn với phong cảnh cùng tĩnh lặng.

Cái thú vị riêng trong đó không ai biết,

Cứ cùng với nhà sư vui đến sáng.

Là một nhà thiền học xuất sắc, một ông vua anh hùng, một nhà thơ trữ tình tinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status