Phật giáo và văn học cổ điển Việt Nam
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ
TÊN ĐỀ TÀI:
LÝ GIẢI PHƯƠNG THỨC HÀNH TRÌ
TU CHỨNG TRONG TÁC PHẨM
KHÓA HƯ LỤC CỦA TRẦN THÁI TÔNG
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Kim Thoa
Mã số sinh viên: 0956010165
Lớp: Cử Nhân Tài Năng
TP.Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 5 năm 2010
MỤC LỤC
Nguyễn Thị Kim Thoa Trang 1
Phật giáo và văn học cổ điển Việt Nam
Mở đầu…………………………………………………………………………… 3
Nội dung chính…………………………………………………………………… 4
I. Khái quát chung… 4
1.Trần Thái Tông…………………………………………………… 4
2. Khoá Hư Lục… 4
II. Lý giải về phương thức hành trì tu
chứng trong Khoá Hư Lục của Trần Thái Tông…………………………………6
1. Khái niệm về hành trì tu chứng………………………………………… 6
2. Lý giải phương thức hành trì tu chứng
Trong Khoá Hư Lục của Trần Thái Tông………………………………….7
2.1. Phương thức niệm Phật…………………………………………….7
2.2. Lục thời sám hối khoa nghi…………………………………… 9
2.3. Phương thức toạ thiền…………………………………………….15
Kết luận…………………………………………………………………………… 21
Tài liệu tham khảo………………………………………………………………… 22
2. Giới thiệu về Khóa Hư Lục
II. LÍ GIẢI PHƯƠNG THỨC HÀNH TRÌ TU CHỨNG
1. Khái niệm về phương thức hành trì tu chứng
2. Lí giải phương thức hành trì tu chứng trong Khóa Hư Lục.
-Phương thức niệm phật.
-Lục thời sám hối khoa nghi.
-Phương thức toạ thiền.
Nghiên cứu phương thức hành trì tu chứng trong Khoá Hư Lục-Trần Thái Tông sẽ
giúp ta có cái nhìn cụ thể, rõ ràng và đầy đủ hơn về con đường tu tập để đạt đến chánh
quả, tránh khỏi luân hồi sáu nẻo, và thoát khỏi bể trầm luân.
NỘI DUNG CHÍNH
I.KHÁI QUÁT CHUNG
1.Giới thiệu về Trần Thái Tông
Trần Thái Tông (1218-1277), Hoàng đế khai nghiệp nhà Trần. Tên thật là Trần
Cảnh; miếu hiệu Thái Tông (1225 - 1258). Là con của ông Trần Thừa và bà Lê Thị
Phong. Sinh ngày 17/07/1218. Quê làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường, Nam Định.
Ông lên ngôi vua từ năm 1225, do vợ là Lý Chiêu Hoàng trao nghiệp nhà Lý cho ông kế
thừa dưới sự giúp đỡ, sắp đặt của người chú là Thái sư Trần Thủ Ðộ.
Triều đại ông việc chính trị, văn hóa, tôn giáo đều cực thịnh. Ông là người chuyên tâm
nghiên cứu Phật học và sùng mộ đạo Phật, nhưng không hề xem thường cái học của các
trường phái khác. Học thuật nước nhà do đó phát triển. Năm 1257, cùng cả nước ông đã
đánh thắng quân Nguyên-Mông xâm lược để lại tiếng vang trong lịch sử dân tộc. Ðất
nước hòa bình, nhân dân an cư lạc nghiệp phần nào giúp ông thư thái trong tâm hồn. Ông
có đủ thời giờ để lo tu niệm, trước tác nhiều kinh sách về Phật giáo; và là người có ảnh
hưởng rõ rệt trong đời sống Phật giáo thời Lý-Trần. Ông mất ngày 04/05/1277.
2. Giới thiệu về Khóa Hư Lục
Nguyễn Thị Kim Thoa Trang 4
Phật giáo và văn học cổ điển Việt Nam
Giải nghĩa Khóa Hư Lục: “Khóa trong Khóa Hư là chỉ sự thành trì tu tập; Hư được
dùng với nghĩa là thái độ không cố chấp vào hình thức giáo điều. Nhu yếu của Khóa là
+ Thụ giới luận( nêu lên sự cần thiết của việc gìn giữ giới luật để thân tâm
thanh tịnh ).
+ Tọa thiền luận( nêu nguyên tắc ngồi Thiền, định tâm và vai trò quan trọng
của tọa Thiền để đạt đến giác ngộ).
+ Tựa giáo giám luận(mối quan hệ giữa định và tuệ)
+ Tựa Thiền tông chỉ nam( cương lĩnh, kim chỉ nam cho Thiền học đời Trần)
+Bài tựa sách Chú giải Kinh Kim Cương Tam Muội.
+Bài tựa sách Lục thời sám hối khoa nghi và bài tựa Bình đẳng lễ sám văn .
1
Trang 12, Chuyên đề Phật giáo trong văn học cổ điển Việt Nam, PGS.TS. Nguyễn Công Lý
2
Trang 12, Chuyên đề Phật giáo trong văn học cổ điển Việt Nam, PGS.TS. Nguyễn Công Lý
Nguyễn Thị Kim Thoa Trang 5
Phật giáo và văn học cổ điển Việt Nam
+Phổ thuyết hướng thượng nhất lộ ( những gợi ý về một đề tài
thiền định trong sách Bàn Sơn Thuỳ Ngữ)
+ Ngữ lục vấn đáp môn hạ( ghi chép những lời Thái Tông đối
với môn đệ).
+ Niềm tụng kệ ( ghi lại 43 công án Thiền do Thái Tông nêu
cử, gợi ý và lời kệ tụng )
- Quyển Hạ :
+ Lục thời sám hối khoa nghi :ghi chép sáu nghi thức sám
hối,áp dụng sáu lần trong một ngày đêm, nhằm thanh lọc tâm lí, giữ
gìn sáu căn.
Về hình thức nghệ thuật, tác phẩm kết hợp ba lối văn tản văn, biền văn
và vận văn trong đó tản văn và biền văn là chính. Khoá Hư Lục không những
là một sách quan trọng và xưa nhất nuớc ta mà còn là một tác phẩm triết học
Phật giáo sâu sắc “ đây là tác phẩm đuợc viết như máu chảy đầu ngọn bút,
nuớc mắt thấm từng trang giấy . Sau bao khát khao tìm tòi chân lý với nỗi
đau thế thái nhân tình, để rồi đạt đến chỗ sở đắc chân tâm”
Vậy hành trì tu chứng tức là luôn luôn duy trì việc tu tập một cách thường
xuyên và liên tục để chứng lý, chứng quả vị , Niết Bàn. Như thế việc hành trì
tu chứng mà Trần Thái Tông chỉ ra trong Khoá Hư Lục là gì? Người tu tập
theo có chứng được quả vị hay không?
Để trả lời câu hỏi trên trước hết, ta phải biết Trần Thái Tông đã chỉ ra những
phương pháp nào trong Khoá Hư Lục ? Đó chính là 3 phương pháp chính:
- Niệm Phật.
- Hành lễ sám hối lục thời khoa nghi.
- Toạ thiền.
Mà mỗi phương pháp đều có cách thức, mục đích, hiệu quả rõ ràng.
2. Lí giải phương thức hành trì tu chứng trong Khoá Hư Lục
của Trần Thái Tông
2.1. Phương thức niệm Phật
Niệm Phật “là tưởng niệm, tưởng nhớ, là nhớ nghĩ đến danh hiệu của Phật,
công hạnh của Đức Phật để nương theo mà tu tập”
1
Người niệm Phật thì tâm phải thanh tịnh, dẹp bỏ lòng trần, lòng chỉ hướng về
cõi Phật. Theo Trần Thái Tông thì “ niệm Phật là do cái lòng dậy. Lòng dậy
ở điều thiện thì là niềm thiện. Niềm thiện dậy thì nghiệp thiện báo lại. Lòng
dậy ở điều ác thì là niềm ác. Niềm ác dậy thì nghiệp ác ứng lại”
2
. Tức là khi
niệm Phật, là tác động vào cái tâm, làm dậy cái tâm. Nếu lòng dậy ở điều
thiện, tức là miệng niệm Phật, tâm nghĩ về Phật, về công đức của Phật, về cõi
Niết Bàn, về miền Giác ngộ… thì đó chính là niềm thiện. Niềm thiện đã sinh
thì nghiệp thiện ắt ứng báo, nếu siêng năng tụng niệm thì sẽ được vãn sanh
vào Tây phương cực lạc. Còn nếu miệng niệm Phật mà lòng không chuyên
chú, suy nghĩ điều gian, lòng đầy ẩn trắc, hận thù,… thì đó chính là niềm ác.
Niềm ác đã sinh thì nghiệp ác ắt ứng báo. Không những quả thiện không
thành mà còn phải đeo mang nghiệp chướng. Vì thế niệm Phật đòi hỏi người
2
(Trong lúc niệm Phật
thân thẳng ngồi ngay, không làm việc tà, như vậy là tắt được nghiệp thân.
Miệng tụng lời chân chính, không nói điều xằng bậy, thế là tắt được nghiệp
miệng. Ý chăm chú ở sự tinh tiến, không nảy sinh ý nghĩ tà, thế là tắt được
nghiệp ý).
Song người có ba hạng : Thượng trí, Trung trí, Hạ trí. Phương thức hành trì
của mỗi đối tượng dựa trên sự phân chia căn trí cao thấp khác nhau nên cách
hành trì, tu tập, niệm Phật của mỗi bậc cũng khác nhau.
Bậc Thượng trí là những người hiểu ngộ, tự thân biết tâm mình chính là tâm
Phật, sống trong bụi trần và tâm không nhiễm trần, không cần tu niệm thêm
gì cả : “Thượng trí giả, tâm tức thị Phật, bất giả tu thiêm. Niệm tức thị trần,
bất dung nhất điểm. Trần niệm bản tịnh, cố viết như như bất động, tức thị
Phật thân. Phật thân tức ngã thân thị, vô hữu nhị tướng; tướng tướng vô nhị,
tịch nhiên thường tồn, tồn nhi bất tri, thị vi hoạt Phật.”
3
(Bậc thượng trí thì
tâm tức Phật, không phải nhờ thêm sự tu hành. Ý nghĩ là bụi trần không
1
UBKHXH,viện văn học: Thơ văn Lý-Trần, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội,1998
2
Trang 104, sđd
3
Trang 104, sđd
Nguyễn Thị Kim Thoa Trang 8
Phật giáo và văn học cổ điển Việt Nam
vướng một mảy. Ý nghĩ bụi trần vốn tịnh, cho nên nói như như không động là
thân Phật. Thân Phật tức là thân ta, không có hai tướng. Tướng và tướng
không phải là hai, lặng lẽ tồn tại hằng thường. Tồn tại mà không biết, đó là
Phật sống).
chắc, thích hợp với quần chúng. Ông khuyến cáo mọi người hãy bắt đầu thực
thi tẩy rửa thân tâm từ cách thức hành trì này, hai cách kia nói thì dễ nhưng
thực sự đòi hỏi căn duyên cao, không phải ai cũng thực hiện được. Niệm
Phật trở thành phương thức tu tập loại bỏ tập khí cấu nhiễm, hướng đến
1
Trang 105,sđd.
2
Trang 105, sđd.
Nguyễn Thị Kim Thoa Trang 9
Phật giáo và văn học cổ điển Việt Nam
thuần thục để tâm trở nên tịch tịnh: “Kim chi học giả, ký thụ nhân thân, tam
nghiệp tình hữu, nhi bất dĩ niệm Phật cầu sinh Phật quốc giả, bất diệc nan
hồ? Như dục niệm Phật, tức dĩ hạ trí vi tiên. Hà giả? Vị hữu chú ý cố dã. Thị
như tác tam tằng chi đài nhi bất dĩ hạ tằng vi tiên, vị chi hữu dã” (Nay kẻ tu
hành đã nhận lấy thân, ắt ba nghiệp đều có. Thế mà không niệm Phật để cầu
sinh vào nước Phật chẳng cũng khó sao. Như muốn niệm Phật, hãy lấy cách
của hạ trí làm đầu. Sao vậy? Bởi vì có sự chú ý mà thôi. Ví như làm một toà
lâu đài ba tầng mà không làm tầng dưới trước, đó là điều chưa từng có vậy).
Niệm Phật không chỉ mong vãn sanh vào Tây phương mà còn là cách cứu rỗi
linh hồn. Khi con người bị vô minh che đậy nên điên đảo, mê lầm, lại do sáu
căn, ba nghiệp (6 căn : nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý. 3 nghiệp : Thân, khẩu, ý)
cộng với Tham, Sân, Si hợp lại có thể gây nên nhiều tội chướng, trong đó có
năm tội Vô Gián(5 tội nghịch nếu phạm sẽ đoạ vào ngục Vô Gián, là chỗ thọ
khổ không lúc nào ngưng ngớt đó là : giết cha, giết mẹ, giết thánh nhân, ác
tâm làm thân Phật ra máu, phá hoà hiệp tăng), và nhiều tội khác. Một khi thất
tỉnh thì vô cùng đau khổ cà căm ghét bản thân không thể nào tha thứ cho
chính mình, thâm tâm cắn rứt, dằn vặt khôn nguôi. Lúc đó chỉ có niệm phật
mới mong gột rửa được tội lỗi và mong giảm nhẹ nghiệp chướng, nhờ đó mà
họ tu tâm vào niệm Phật, nương theo bóng Phật để tâm mình được rửa sạch,
bớt đau khổ, dằn vặt chính mình.
đầy quyển, cốt cho người ta tụng đọc đều vui, nghe thấy dễ hiểu. Ngõ hầu
tínn đồ có thể ở ngày đêm phát sinh lòng thành, lấy khoa nghi mà làm lễ sám
hối. Như thế thì chẳng phụ cái chí nguyện lợi mình lợi người của Trẫm.
Những ngươì mắt sáng sau này chớ lấy nghi văn mà cười. Tuy nhiên như
vậy, không nhân đường tía hoa khai sớm, tranh được vàng anh dưới liễu
tơ.”
1
Như vậy, sự lễ lạy bái sám theo Lục thời sám hối khoa nghi có giá trị tẩy rửa
các tội lỗi, đưa con người trở về bản tâm thanh tịnh. Do căn tánh con người
khác nhau, tuỳ theo bệnh mắc phải mà cho thuốc. Theo nhà vua, phương
thức sám hối cũng có chức năng tẩy rửa các khách trần cấu bẩn, huỷ diệt ác
nghiệp tích luỹ nhiều đời, nhiều kiếp. Nó có một vai trò quan trọng trong đời
sống tu tập mỗi cá nhân đối với việc thăng hoa: “Lợi xuyên chi lai vãng giả,
châu xa dã, địch thân tâm chi trần cấu giả, lễ sám dã. Dục địch thân tâm nhi
bất dĩ lễ sám tắc hà dị ư dục lợi lai vãng nhi bất dĩ châu xa giả hồ? Thị tri lễ
sám kỳ dụng đại hỹ. Cố Đại tập kinh vân: “Như bách niên cấu y, khả ư nhất
nhật cán linh tiên tịnh”. Như thị bách thiên kiếp trung sở tập chư bất thiện
nghiệp, dĩ Phật lực cố, thiện thuận tư duy, khả ư nhất nhật thời tận năng tiêu
diệt dã”
2
(Tiện lợi cho việc đi lại dưới sông trên bộ là xe với thuyền; rửa
sạch bụi nhơ trên mình, trong dạ là lễ sám hối thì khác nào muốn tiện lợi
cho việc đi lại mà không dùng xe và thuyền. Thế mới biết công dụng của lễ
sám hối thật lớn lao! Cho nên, kinh Đại tập có câu:“Như chiếc áo bẩn hàng
trăm năm có thể giặt sạch trong một ngày”. Như thế, ác nghiệp tích tụ hàng
1
Trang 109, tựa lục thời sám hối khoa nghi,sđd
2
Trang 108, tựa lục thời sám hối khoa nghi,sđd
Nguyễn Thị Kim Thoa Trang 11
lòng hồi hướng. 9. Dốc lòng phát nguyện. 10. Đọc kệ vô thường buổi trưa.
Đến Thời lễ sám hối buổi chiều cũng tương tự: 1. Lễ đọc văn dâng hương
buổi chiều. 2. Kệ dâng hương. 3. Kệ dâng hoa. 4. Lời tâu bạch. 5. Lời sám
hối tội căn do mũi. 6. Dốc lòng phát nguyện. 7. Đọc kệ vô thường buổi chiều.
Riêng buổi lễ ban đêm, nửa đêm, về khuya thì ngay buổi lễ sám đêm, trước
bước đọc văn dâng hương, có thay đổi hai bước:1. Kệ khuyên chúng vào lúc
hoàng hôn. 2. Kệ tám khổ. 3. Văn dâng hương đêm. 4. Lời tâu bạch. 5. Lời
Nguyễn Thị Kim Thoa Trang 12
Phật giáo và văn học cổ điển Việt Nam
sám hối tội căn do lưỡi. 6. Dốc lòng phát nguyện. 7. Đọc kệ vô thường đêm.
Các lễ sám nửa đêm, khuya cũng thực hiện những bước tương tự, chỉ trừ hai
bước đầu.
Nghi thức sám hối nói trên có nội dung tác động chuyển đổi tâm lý, từ rong
ruỗi theo sáu trần, đi đến sự tỉnh thức và cuối cùng là loại trừ các phiền não.
Cứ như thế, trải qua sáu thời khoá trong mỗi ngày đêm, con người trở nên
giác tỉnh vô thường, vô ngã với sắc thân thường hữu. Con người lễ sám ở đây
không phải là lễ sám trước đức Phật thờ tự trong mỗi ngôi chùa, mỗi gia
đường tôn nghiêm, mà thực sự lễ lạy bái sám cái thân mình, tức là ông Phật ở
cõi lòng “Phật thân tức Ngã thân”, “Phật thân tức ngã thân thị” và lễ Phật ở
đây là “lễ Pháp thân vô tướng chi thể”, nghĩa là lễ chân lý cuộc đời theo như
Lục thời sám hối khoa nghi diễn bày.
Theo đó, trong sám hối tội Nhãn căn, Ngài đã chỉ rõ những tội lỗi mà Nhãn
căn gây ra, đó là : “Nhãn ác xem kỹ, nghiệp thiện coi khinh, Lầm nhận hoa
giả, quên ngắm trăng thật. Yêu ghét nổi dậy, đẹp xấu tranh dành, Chợp mắt
dối sanh, mờ đường chánh kiến. Trắng qua xanh lại, tía phải vàng sai, Nhìn
lệch các thứ,nào khác kẻ mù. Gặp người sắc đẹp, liếc trộm nhìn ngang, Lòa
mắt chưa sanh, bản lai diện mục. Thấy ai giàu có, giương mắt mãi nhìn, Gặp
kẻ bần cùng, lờ đi chẳng đoái. Người dưng chết chóc, nước mắt ráo khô,
Thân quyến qua đời, đầm đìa lệ máu. Hoặc đến Tam bảo, hoặc vào chùa
chiền, Gần tượng, thấy kinh mắt không thèm ngó. Phòng Tăng, điện Phật
đoái. Hoặc ra phố chợ, hoặc vào bếp sau, thấy bẩn thèm ăn, ưa nhơ kiếm
nuốt. Chẳng ngại tanh hôi, không kiên hành tỏi, Mê mãi không thôi, như
lợn nằm ổ. Hoặc chảy nước mũi, hoặc hỉ đàm vàng, Bôi cột quẹt thềm,
làm nhơ đất sạch. Hoặc say nằm ngủ, điện Phật phòng Tăng, Hai mũi thở
hơi, xông kinh nhơ tượng. Ngửi sen thành trộm, nghe mùi thành dâm,
Không biết không hay, đều do nghiệp mũi, Những tội như thế, vô lượng vô
biên, Sau khi mạng chung, đọa ba đường khổ. Trải ngàn muôn kiếp, mới
được làm người, Dù được làm người, quả báo bệnh mũi. 4 Nghiệp căn
Lưỡi là: Tham đủ mọi thứ, thích xét ngon dở, Nếm hết các thứ, rõ biết béo
gầy. Sát sanh hại vật, nuôi dưỡng thân mình, Quay rán cá chim, nấu hầm
cầm thú. Thịt tanh béo miệng, hành tỏi ruột xông. Ăn rồi đòi nữa, nào thấy
no lâu. Hoặc đến đàn chay, cầu thần lễ Phật, cố cam bụng đói, đợi lúc việc
xong. Sáng sớm ăn chay, cơm ít nước nhiều, giống hệt người đau, gắng
nuốt thuốc cháo. Mắt đầy mỡ thịt, cười nói hân hoan, rượu chuốc cơm
mời, nóng thay nguội đổi. Bày tiệc đãi khách, cưới gả cho con, giết hại
chúng sanh, vì ba tấc lưỡi. Nói dối bày điều, thêu dệt bịa thêm, hai lưỡi
bỗng sanh, ác khẩu dấy khởi. Chửi mắng Tam bảo, nguyền rủa mẹ cha,
khinh khi Hiền thánh, lừa dối mọi người. Chê bai người khác, che dấu lỗi
mình, Bàn luận cổ kim, khen chê này nọ. Khoe khoang giàu có, lăng nhục
người nghèo, xua đuổi Tăng Ni, chửi mắng tôi tớ. Lời dèm thuốc độc, nói
khéo tiếng đàn, Tô vẽ điều sai, nói không thành có. Oán hờn nóng lạnh,
phỉ nhổ non sông, tán dóc Tăng phòng, ba hoa điện Phật. Những tội như
thế, vô lượng vô biên, Ví như cát bụi, đếm không thể cùng. Sau khi mạng
chung, vào ngục Bạt thiệt Cày sắt kéo dài, nước đồng rót mãi. Quả báo hết
rồi, muôn kiếp mới sanh, dù được làm người, lại bị câm bặt.5 Nghiệp căn
Thân là: Tinh cha huyết mẹ, chung hợp nên hình, Năm tạng trăm hài, cùng
nhau kết hợp. Chấp cho là thật, quên mất pháp thân, sanh dâm, sát, trộm,
bèn thành ba nghiệp:a Nghiệp Sát Sanh là: Luôn làm bạo ngược, chẳng
Nguyễn Thị Kim Thoa Trang 14
Phật giáo và văn học cổ điển Việt Nam
đây, đều do nghiệp giận.c Tội ngu si là: Căn tánh dần độn, ý thức tối
tăm, chẳng hiểu tôn ty, không phân thiện ác. Chặt cây hại mạng, giết gấu
gãy tay, mắng Phật chuốc ương, phun Trời ướt mặt. Quên ơn quên đức,
bội nghĩa bội nhân, không tỉnh không xét, đều do si nghiệp. Những tội
như thế, rất nặng rất sâu, đến lúc mạng chung, rơi vào địa ngục. Trải
trăm ngàn kiếp, mới được thọ sanh, dù được thọ sanh, lại mắc ngu báo.
Nếu không sám hối, đâu được tiêu trừ, nay trước Phật đài, thành tâm sám
hối.”
1
1
Lục thời sám hối khoa nghi,Sđd
Nguyễn Thị Kim Thoa Trang 15
Phật giáo và văn học cổ điển Việt Nam
Phật dạy ai ai cũng có thể lầm lỗi nhưng biết sám hối thì lầm lỗi đó sẽ hết.
Trái lại nếu che giấu thì lỗi càng tăng, nên sám hối có công dụng giúp chúng
ta tiêu ma những nghiệp cũ và sạch những nghiệp mới. Có như thế sự tu hành
của chúng ta mới tiến mau, chớ nghiệp cũ còn tràn đầy, nghiệp mới lại tiếp
tục tạo thì việc tu hành sẽ càng ngày càng lui sụt. Vì thế sám hối là một điều
rất thiết yếu. Sám hối là kể lại những lỗi lầm, những sai sót chúng ta đã gây
ra, những tội lỗi chúng ta thường vấp phải, để chúng ta nhớ rồi sửa và tránh.
Nếu sám hối mà không biết mình nói gì, không hiểu mình làm gì thì lời sám
hối không có giá trị. Điều đáng buồn là lâu nay, ở các chùa, Phật tử chúng ta
mỗi nửa tháng đều sám hối, thật là đúng tinh thần Phật dạy, nhưng khi quì
xuống đọc những lời sám hối, thí dụ như sám hối Hồng Danh quí vị đọc:
Như thị đẳng nhất thiết thế giới chư Phật Thế Tôn v.v , đọc một mạch xong
rồi không biết nói gì, vậy sám hối là sám điều gì? Đó là điều rất đáng tiếc.
Đúng ra sám hối là chúng ta phải biết mình có lỗi gì, nay xin chừa cải những
lỗi lầm đó ôn đi ôn lại cho tâm trí ghi nhớ để mỗi khi gặp những việc đó,
sực nhớ mới tránh được, chớ nói mà không biết rõ nói gì thì buổi sám hối
làm sao có tác dụng? Đó là điều tôi thường hay buồn vì thấy dường như
Phật giáo Đại thừa cũng như Thiền tông đều cho rằng chúng sinh đã là Phật,
nhưng Thiền cũng nhấn mạnh rằng, điều khác nhau là tin hiểu điều đó một
cách lí thuyết hay đã trực ngộ điều đó. Kinh nghiệm trực ngộ đó chính là giác
ngộ, mà hành trì tọa thiền là một phương pháp ưu việt.
Bước chân đầu tiên của việc thực tập thiền định là phải điều chỉnh tâm ra
khỏi vùng tâm lý rối loạn của những định kiến sai lầm, lối tư duy võ đoán,
tác nhân bên ngoài thường xuyên kích động và quấy nhiễu tâm thức. Tâm
thức con người trở nên lắng đọng, đi vào chánh niệm tỉnh giác nhằm tẩy rửa
các hạt giống chứa sự nhiễm ô, thu góp toàn bộ năng lực để chuyển hoá thân
tâm, bước sâu vào con đường thiền định.
Thông qua các văn bản như Giới định tuệ luận, Thụ giới luận, Toạ thiền
luận, Tuệ giáo giám luận đủ minh chứng con đường thiền định của nhà vua
là hành trì giới định tuệ. Quán triệt tinh thần này, nhà vua nói rõ “Phù học
đạo chi nhân, duy cầu kiến tính. Tuy thụ kỳ nhất thiết tịnh giới nhi vô toạ
thiền tắc định lực bất sinh. Định lực bất sinh tắc vọng niệm bất diệt, nhi dục
kiến tính gải, bất diệc nan hồ”
1
(Người học đạo chỉ cốt thấy được bản tính.
Tuy thụ hết mọi tịnh giới mà không ngồi thiền thì định lực không sinh. Định
lực không sinh thì ý nghĩ sai lầm không diệt được, thế mà muốn thấy bản
tính chẳng cũng khó sao)
Như vậy, giữa giới định tuệ có một mối liên hệ hữu cơ. Nó là quy trình biện
chứng giải thoát mà Thái Tông giải trình trong Tuệ giáo giám luận “Phù tuệ
giả sinh ư định lực. Nhược tâm định tắc tuệ giám sinh. Nhược tâm loạn tắc
tuệ giám diệt. Diệc như đồng kính, tiên giả ma lung, nhiên hậu phương hữu
quang tịnh minh chiếu. Nhược bất ma lung tắc đài ngân hôn cấu. Ký dĩ hôn
cấu, quang hà dĩ sinh? Cố tri tuệ do định hiện, định ư tuệ sinh, định tuệ
tương y, lưỡng vô di nhất.”
2
(Nói chung tuệ sinh ra từ định lực; nếu như tâm
định. Định tức là tọa thiền. Ngài nói người học đạo phải cầu kiến tánh, tức
nhận ra bản tánh thanh tịnh sáng suốt của mình, gọi là kiến tánh.
“Tuy thọ được tất cả tịnh giới, mà không tọa thiền thì định lực chẳng
sanh.” Nghĩa là mình có được giới trong sạch là có phước, là tránh được
phiền não, nhưng không tọa thiền thì sức định không mạnh.
“Định lực chẳng sanh thì vọng niệm không diệt.” Không có sức định
thì vọng niệm không diệt, nó cứ lăng xăng làm cho tâm mình rối loạn không
an. Bởi vậy có giới rồi kế đó phải tọa thiền để tâm được định. Tâm được định
thì vọng tưởng mới dừng.
2
Luận về gương tuệ giáo, sđd
Nguyễn Thị Kim Thoa Trang 18
Phật giáo và văn học cổ điển Việt Nam
“Muốn được kiến tánh, thật là khó vậy.” Nếu vọng niệm chưa hết mà
muốn được kiến tánh thật là khó. Bởi vì nếu tâm chưa dừng lặng mà muốn
nhận ra được bản tánh thật là điều khó, không thể được. Cho nên đầu tiên là
Giới, kế đó là Định. Định là nhờ sức tọa thiền. Nhờ tọa thiền tâm mới lặng.
Tâm lặng thì tánh giác mới hiện tiền.
Đây dẫn chứng: “Đức Phật Thích-ca vào núi Tuyết, ngồi ngay thẳng
sáu năm, chim Cáp làm tổ trên đầu, cỏ tranh mọc xuyên qua bắp vế, mà thân
tâm thản nhiên.” Đây là chỉ lúc đức Phật tu khổ hạnh sáu năm, chim làm tổ
trên đầu, cỏ mọc qua bắp vế, mà Ngài vẫn ngồi yên thiền định.
“Tử Cơ ngồi tựa ghế, thân như cây khô, tâm tợ tro tàn.” Tử Cơ là
người học đạo tiên. Người tu tiên cũng ngồi thiền định cho tâm yên lặng, khô
kiệt không còn rối loạn nữa.
“Nhan Hồi ngồi quên, tay chân rời rã.” Nhan Hồi là người tu theo
Nho vẫn ngồi quên cả thân thể, buông thõng tay chân. Đây để chỉ tu theo
Phật, Lão, Khổng đều phải nhờ thiền định.
“Đuổi thông minh, lìa ngu trí, đồng với đại đạo.” Đại đạo là chỉ tánh
giác thanh tịnh. Muốn được tánh giác thanh tịnh thì đừng giữ thông minh,
đó mới thắng được vọng tưởng, nếu không thì vọng tưởng cứ ào ào tuôn ra
dừng không nổi. Bởi vậy, tu cần phải cố gắng chịu đựng mới thắng được, chớ
không phải dễ dàng.
“Nếu khi ngồi không dứt các niệm, tâm khỉ đua nhảy, ý vượn chạy
rong, hoặc vọng tưởng mà biết tiền trần, hoặc vô ký mà quên tự tánh.” Ở đây
Ngài nói, khi ngồi cốt dứt vọng niệm, mà vọng niệm không dứt thì tâm, ý
chạy lăng xăng loạn động. Như đang ngồi ở Thiền đường Trúc Lâm mà đi
dạo nơi khác, có khi chạy xuống Thường Chiếu, chạy khắp mọi nơi. Đó là
tâm khỉ đua nhảy, ý vượn chạy rong.
“Hoặc vọng tưởng mà biết tiền trần, hoặc vô ký mà quên tự tánh.”
Vọng tưởng và vô ký là hai bệnh của người ngồi thiền. Vọng tưởng nhớ lại
cảnh này cảnh nọ, hoặc hình ảnh của những ngày qua, biết là biết theo cái
bóng của những việc đã qua. Vô ký là chuẩn bị hôn trầm. Nếu ngồi mà tỉnh
sáng, thì không lìa tánh giác. Có nhiều người không hiểu, ngồi cứ cầu cho
thấy tánh. Cần thấy tánh làm gì? Chỉ cần tỉnh sáng không vọng tưởng là đủ
rồi. Sao vậy? Vì tánh hiện đó chớ đâu, còn cầu thấy chỉ là bệnh. Cho nên vô
ký quên tự tánh là khi mờ mờ mịt mịt quên cái tỉnh sáng của mình.
Đây nói những bệnh: “Tựa giường, dựa vách, nhắm mắt che tròng
ngủ gục, nước miếng chảy, đầu cúi, xương sống cong.” Đó là những bệnh
của người ngồi thiền còn lôi thôi. Ngồi thiền mà ngồi trong mùng tựa giường,
vừa mỏi muốn dựa vách cho đỡ mỏi, hoặc nhắm mắt một hồi rồi gục lên gục
xuống, hoặc ngồi đầu cúi, nước miếng chảy xuống, xương sống cong. Người
tập tu thiền có những bệnh ở trên đây cần phải ráng sửa.
Nguyễn Thị Kim Thoa Trang 20
Phật giáo và văn học cổ điển Việt Nam
“Tuy giả danh là tọa thiền, mà ngồi dưới núi đen, trong hang quỉ.”
Ngồi như vậy là giả danh ngồi thiền, vì bị mờ mờ mịt mịt đâu có thấy gì, mà
quỉ thì ở trong bóng tối, nên nói là ngồi dưới núi đen, trong hang quỉ, chớ
không phải ngồi trong nhà Phật, trong nhà thiền. Như vậy ngồi thiền phải
ngồi cho ngay thẳng, không nương dựa vào vật gì, mắt mở nhỏ, không nên
Phật giáo và văn học cổ điển Việt Nam
- Đạt nhân, pháp đều không mà tu, gọi là Đại giáo thiền. Ở chỗ khác
theo lời giải của ngài Tông Mật có thêm cái thứ năm nữa là Tối thượng thừa
thiền, đó là Thiền tông.
“Tạo kế khác, ưa trên chán dưới mà tu, gọi là ‘Ngoại đạo thiền’.” Tức
là ưa ngồi thiền để có một cái gì bên ngoài tựa vào mình để được thành
Thánh thành Thần; hoặc ngồi thiền để mong cầu có một sức mạnh thiêng
liêng nào ở bên ngoài tựa vào mình, dầu sức mạnh đó có điện lực gì cũng
thuộc về Ngoại đạo thiền.
“Chánh tín nhân quả, cũng ưa trên chán dưới mà tu, gọi là ‘Phàm phu
thiền’.” Nghĩa là nghe trong kinh Phật dạy, người tu được Sơ thiền, Nhị
thiền, Tam thiền, Tứ thiền thì được sanh trên các cõi trời Sắc giới Vì ham
sanh ở các cõi trời Sắc giới mà tu để chứng các thứ thiền đó, nên gọi là Phàm
phu thiền. Tuy có tin nhân quả, nhưng kết quả chỉ sanh lên các cõi trời Sắc
giới thôi.
“Rõ lý sanh không, chứng đạo thiên chân mà tu, gọi là ‘Tiểu giáo
thiền’.” Sanh không là rõ về thân con người không có ngã. Sanh không chỉ
do cái nhân con người phá được ngã chấp, mà tu thiền chứng được đạo thì
gọi là Tiểu thừa thiền hay Tiểu giáo thiền. Đây chứng được quả A-la-hán,
giải thoát sanh tử.
“Đạt nhân, pháp đều không mà tu, gọi là ‘Đại giáo thiền’.” Người tu
phá được chấp ngã chấp pháp, cả hai đều không mà tu thì gọi là Đại giáo
thiền hay Đại thừa thiền.
“Nay người hậu học, cần lấy Đại giáo thiền làm chánh. Nơi đây tập
tọa thiền dứt niệm, chớ sanh kiến giải.” Ngài khuyên người thời nay tu hành
nên theo Đại giáo thiền, là thiền không còn chấp ngã, chấp pháp. Ngã là chỉ
cho mình cho người, pháp là chỉ cho sự vật chung quanh. Cả hai đều không
chấp gọi là Đại giáo thiền, cũng gọi là thiền Đại thừa. Pháp tu này mới giải
thoát sanh tử cho mình và phát đại bi tâm cứu độ mọi người. Vì vậy Ngài
khuyên chúng ta nên học theo Đại giáo thiền này mà tu dứt niệm, không nên
tấm lòng của một minh quân từ bi, bác ái, hiền lương hết mực quan tâm đến
đời sống của nhân dân, luôn trăn trở tìm đường giác ngộ, giải thoát cho dân
chúng, luôn tìm mọi cách để dân chúng được sống ấm no, hạnh phúc.
Tác phẩm không phải mang tính lý thuyết, giáo điều mà đó là một tác phẩm
hết sức thực tế. Vì nhà vua kêu gọi mọi người cần phải tu tập theo những
phương thức mà nhà vua đã vạch ra đó là: niệm Phật, sám hối,toạ thiền.
Những phương thức đó không phải khó thực hiện mà nó rất đơn giản, nhà
vua cũng đã cố viết cho thật đơn giản, dễ hiểu để người người đều có thể tu
tập theo.
Nguyễn Thị Kim Thoa Trang 23
Phật giáo và văn học cổ điển Việt Nam
Ngoài ra, Khoá Hư Lục cò là một kiệt tác văn học bỡi lẽ nhà vua đã viết tác
phẩm này bằng ngòi bút của một văn nhân, một thi sĩ đại tài. Các bài kinh,
kệ, luận… đều được viết rất sâu sắc. Kết hợp ba lối văn: tản văn, biền văn,
vận văn làm cho tác phẩm vừa hài hoà, cân xứng, vừa biến hoá uyển chuyển,
nhịp nhàng, tinh tế. Trải qua nhiều thế kỉ, nhiều tác phẩm rất có giá trị của
Trần Thái Tông đã không còn nữa, nhưng những gì còn sót lại đến nay vẫn
còn nguyên giá trị và được quan tâm nghiên cứu sâu sắc và kĩ lưỡng.
HẾT
Tài liệu tham khảo:
1. Trương Văn Chung, Tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm
đời Trần, NXB Chính trị Quốc gia.
2. Hoà Thượng Thích Thiện Hoa(2005), Phật học phổ thông (quyển
một), NXB Tôn Giáo, Hà Nội.
3. Nguyễn Lang (1992), Việt Nam Phật giáo sử luận tập 1, Nguyễn
Huệ Chi giới thiệu, NXB Văn Học Hà Nội.
4. Nguyễn Công Lý, Phật học căn bản.
5. Nguyễn Công Lý, chuyên đề “ Phật giáo và văn học cổ điển Việt
Nam.”