Giáo trình tuabin thủy lực - Pdf 63

GIÁO TRÌNH TUABIN THỦY LỰC
Tháng 11-2010

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG
1 LỜI NÓI ĐẦU

Để đáp ứng nhu cầu học tập Thuỷ điện của sinh viên khoa Xây dựng Thuỷ
lợi - Thuỷ điện thuộc Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng trong giai đoạn mới,
chúng tôi biên soạn giáo trình "Turbine thuỷ lực - các thiết bị thuỷ lực và Công
trình trạm Thuỷ điện" (là giáo trình môn học Thuỷ điện 2). Giáo trình này được
biên soạn theo nộ
i dung "Đề cương môn học Thuỷ điện" đã được nhà trường phê
duyệt năm 2005.

Tác giả
2


TURBINE THỦY LỰC & CÁC THIẾT BỊ THỦY LỰC CỦA TTĐ

Turbine thủy lực là loại động cơ chạy bằng sức nước, nó nhận năng lượng dòng
nước để quay và kéo rô to máy phát điện quay theo để tạo ra dòng điện. Tổ hợp turbine
thủy lực và máy phát điện gọi là "Tổ máy phát điện thủy lực". Ở phần này chúng ta chỉ
nghiên cứu về turbine thủy lực, thiết bị điều tốc và giới thiệu một số h
ệ thống thiết bị
thủy lực có liên quan .

Chương I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TURBINE THỦY LỰC

I. 1. PHÂN LOẠI TURBINE THỦY LỰC CỦA TRẠM THỦY ĐIỆN
Trong quá trình đấu tranh sinh tồn và cải tạo thế giới tự nhiên, loài người đã sớm
biết sử dụng các động cơ thủy lực: từ những bánh xe nước dùng vào việc kéo máy xay
xát nông sản đến phát triển chúng lên thành những turbin thuỷ lực hi
ện đại kéo máy
phát điện để sản xuất ra điện năng ngày nay. Để sử dụng một cách có hiệu quả năng
lượng dòng nước đặc trưng bởi tổ hợp cột nước và lưu lượng khác nhau cần phải có đủ
những loại turbine khác nhau về cấu tạo, kích thước cũng như quá trình làm việc của
chúng.
Dựa vào việc sử dụng dạng năng lượng trong c
ơ cấu bánh xe công tác (BXCT)
của turbine người ta chia turbine thủy lực ra làm hai loại: turbine xung kích và turbine
phản kích. Trong các loại lại chia ra các hệ và các kiểu turbine.
Viết phương trình Becnully cho cửa vào (chỉ số1) cửa ra (chỉ số2) của bánh xe
công tác turbine, ta có năng lượng viết cho một đơn vị trọng lượng nước như sau:
H = (Z
1
- Z
2

22
2
VV−
2g
: là động năng ( Đ ).

Từ những thành phần năng lượng trên ta có những loại turbine thuỷ lực sau:
* Turbine chỉ sử dụng phần động năng để làm quay BXCT gọi là loại turbine xung
kích. Loại này còn gọi là turbine dòng chảy không áp vì dòng chảy trong môi trường
khí quyển nên chuyển động của dòng tia trên cánh BXCT là chuyển động không áp, áp
suất ở cửa vào và cửa ra như nhau và bằng áp suất khí tr
ệ sau:
ời. Turbine xung kích đuợc chia
ra các h
+ Hệ turbine xung kích gáo
(turbine Penton);
+ Hệ turbine xung kích kiểu phun xiên;
+ Hệ turbine xung kích hai lần (turbine Banki).
3
4
ảy
òng
ệ sau:
ục ( gọi tắt là là turbine tâm trục, hay Franxis);
+ Hệ TB dòng ( gồm turbine dòng nửa thẳng và turbine dòng thẳng );
m việc theo hai chế độ: máy bơm và turbine).

dòng tia trên các cánh bánh xe công tác (BXCT) là
chúng ta nghiên cứu cụ
thể các

Hình 1-1. Turbine xung kích gáo
Sau đây chúng ta xem xét cấu tạo và tác dụng các bộ phận chính của turbine gáo
(hình 1-2). Vòi phun 1 nhận nước từ ống áp lực biến toàn bộ năng lượng dòng nước
thành động năng trước khi đưa vào BXCT và điều chỉnh lưu lượng vào turbine nhờ dịch
5
.
Sự phố hợp dịch chuyển van kim và thiế
t bị tách dòng liên hợp với nhau nhờ cơ cấu
liên hợp trong máy điều tốc (xem chương VII -Thiết bị điều tốc của turbine thuỷ lực).

chuyển qua lại của van kim 3 đặt bên trong (hình 1-2,a). Turbine gáo cột nước cao và
ống áp lực dài còn có bộ phận tách dòng 5 để hướng một phần hay toàn bộ tia nước
không cho vào BXCT để tránh hiện tượng nước va xảy ra quá lớn khi đóng nhanh van
kim của nó. Bộ phận này chỉ làm việc khi cắt giảm phụ tải máy phát điện. Khi phụ tải
giảm, van kim cần phải nhanh chóng đóng bớt độ mở để giảm lưu lượng thich hợp, tuy
nhiên n
ếu van đóng quá nhanh trong vòi phun sẽ xuất hiện áp lực nước va quá lớn làm
bể vòi phun. Để giảm trị số áp lực nước va, lúc này máy điều tốc sẽ nhanh chóng nhấc
thiết bị tách dòng 5 lên ngắt bớt phần lưu lượng thừa ra khỏi cánh gáo. Nhờ vậy lưu
lượng vào BXCT vẫn giảm ngay theo yêu cầu giảm tải mà van kim chỉ phải đóng từ từ
i

Hình 1-2. Các bộ phận chính của turbine gáo
Bánh xe công tác của turbine gáo ( hình 1-1 và 1-2b,c ) gồm có đĩa 1 trên chu vi
đĩa có gắn các cánh dạng gáo 2 (nên gọi là gáo). Phụ thuộc vào cột nước mà số gáo có
từ 14÷60 cánh. BXCT có thể là một khối liền khi các cánh gáo và đĩa được đúc thành
một khối, và không phải là khối liền khi cánh gáo được đúc riêng và được gắn lên đĩa
bằng bu lông hoặc hàn. Chính giữa cánh gáo có gân 3 chia gáo làm hai phần bằng nhau
để chia tia nước tác động vào gáo thành hai phần đi về hai hướng bắn ra hai bên. Đuôi
d

được sử dụng với cột nước cao lưu lượng nhỏ. Turbine gáo loại lớn có phạm vi sử dụng
cột nước từ 200÷2000m hoặc hơ
n nữa, turbine gáo loại nhỏ thì từ 40÷250m. Trục
turbine gáo có thể đứng (hình 1-3) hoặc ngang. Trạm TĐ Bôgôta ở Côlombia đã đạt đến
cột nước rất cao H = 2000m, công suất lắp máy N = 500 MW. Trạm Raisec ở Úc có cột
nước H = 1767m. Nước ta có các trạm H = 500÷800m như Vĩnh Sơn và Đa Nhim, sử
dụng hệ turbine xung kích gáo.
I. 2. 2. Turbine xung kích hai lần ( turbine Banki )
Turbine xung kích hai lần có phạm vi sử dụng cột nước từ 6÷150m, thường từ
10÷60m. Kết cấu của nó rất đơ
n giản (hình1-4), dễ chế tạo nên được sử dụng rộng rãi ở
, ccác trạm thủy điện nhỏ có lưu lượng bé ột nước vừa, trục thường nằm ngang. Hình 1-4. Turbine xung kích 2 lần

Turbine gồm có vòi phun tiết diện hình chữ nhật 4 được nối liền với đoạn ống
chuyển tiếp 8. Vòi có cơ cấu điều chỉnh lưu lượng gồm van phẳng 3 gắn với trục điều
khiển 2 có tay quay vô lăng. Khi vô lăng quay, trục điều chỉnh sẽ tịnh tiến về phía trước
hoặc phía sau làm cho tiết diện ra của vòi phun thay đổi, nên lư
u lượng vào turbine cũng
được thay đổi theo. Bánh xe công tác gồm các cánh cong 7 được gắn giữa các đĩa 6, số
cánh từ 12÷48. Trục turbine xuyên qua giữa bánh xe công tác gắn chặt với các đĩa bằng
then. Vỏ (buồng) 9 dùng để chắn không cho nước từ BXCT bắn ra ngoài. Hầm xả 5 có
nhiệm vụ dẫn nước về hạ lưu.
Hình dáng BXC ồng sóc. Dòng nước t
vòi phun tác dụng vào các cánh phía trên (nhận khoảng chừng 80% năng lượng của
hất, xong lại đi vào khoảng trống giữa BXCT rồi lại tác
dụng lầ
ư


I . 3. TURBINE PHẢN KÍCH
Turbine phản kích là loại sử dụng phần thế năng và một phần động năng của
dòng nước. Bánh xe công tác của nó làm việc trong môi trường chất lỏng liên tục và áp
lực nước ở phía trước bánh xe công tác lớn hơn phía sau của nó. Khi chảy qua rãnh tạo
bởi bề mặt cong của các cánh, dòng nước sẽ thay đổi hướng tác dụng lên cánh và làm
quay BXCT. Dựa vào hướng của dòng nước ở cửa vào và cửa ra BXCT ngườ
i ta chia
turbine làm các hệ: tâm trục, hướng trục, cánh chéo, turbine dòng, thuận nghịch.
Hình 1-6. Các bộ phận chính của turbine phản kích.

Xét về mặt cấu tạo, bất cứ hệ turbine phản kích nào cũng gồm các bộ phận chính
sau: buồng turbine 1, vòng bệ 2, cơ cấu hướng dòng 3, BXCT 4, buồng BXCT 5, ống xả
6, trục và ổ trục 7 và các thiết bị phụ của chúng (hình 1-6).
Sáu bộ phận đầu hình thành bộ phận qua nước của turbine, còn ổ trục và trục là
bộ phận kết cấu có nhiệm v
ụ tiếp nhận và truyền mô men quay từ BXCT đến rôto của
8
9
máy ph

I. 3. 1.
theo hướng dọc trục. Do vậy gọi là turbine tâm trục. Turbine này do kỹ sư người
i là turbine Franxis.

át điện. Trong các bộ phận qua nước thì BXCT là bộ phận trực tiếp biến đổi thủy
năng thành cơ năng chuyển động quay. Bộ phận cơ cấu hướng nước có tác dụng thay

mà người ta chia turbine tâm trục làm 3 dạng:
- Dạng D
1
< D
2
gọi là turbine tỷ tốc cao loại này dùng với cột nước thấp (H< 80m) vì
cấu tạo của chúng có khả năng chịu lực không cao (hình 1-7,b);
- Dạng D
1
> D
2
gọi là turbine tỷ tốc thấp (hình 1-7,c) loại này có cấu tạo vững chắc
do vậy chúng được dùng với cột nước cao, đã có turbine làm việc với cột nước 550m;
- Dạng D
1
= D
2
gọi là turbine tỷ tốc trung bình, nó là loại trung gian giữa 2 loại trên.
Turbine tâm trục có phạm vi sử dụng cột nước thường từ vài mét đến 550m. Ở
nước Nga, Trạm thủy điện Cracnoarck sử d oại này với công suất mỗi turbin là
508MW, đường k
ị An u dùng turbine
ụng l e
ính D
1
= 7,5m. Ở nước ta, TTĐ sông Đà và Tr đề
tâm trục, TTĐ Hòa Bình dùng 8 turbine tâm trục, công suất mỗi turbine là 240MW, H =
88m.
I. 3. 2. Bánh xe công tác của turbine hướng trục
Gọi là turbine hướng trục vì hướng chảy của dòng nước trong phạm vi BXCT

Turbine cánh quạt được sử dụng ở Trạm thuỷ điện có cột nước H = 1,5÷40m, hiện nay
thường dùng ở TTĐ nhỏ, tuy rằng đã có turbine dạng này đường kính đạt đến 9 m.

2. Turbine cánh quay ( Kaplan )
Turbine cánh quay (hình 1-10) là loại ra đời sau cánh quạt. Năm 1924 giáo sư
người Tiệp tên là Kaplan đã cải tiến thành công turbine cánh cố định thành cánh quay
được, nên turbine này còn được gọi là turbine Kaplan. Nhờ
cánh có thể quay được xung
uanh bầu, do vậy thích ứng được các chế độ làm việc khác chế độ thiết kế dẫn đến
vùng làm việc của turbine v . Do vậy TB cánh quay có
khả năng làm việc với công suất và cột nướ đổi nhiều. BXCT của TB cánh quay
q
ới hiệu suất cao được mở rộng
c thay
gồm có: bầu, cánh, chóp thoát nước và bộ phận quay cánh xung quanh BXCT. Bầu phải
có hình cầu để giảm bớt khe hở giữa cánh vớ
i bầu khi quay cánh. Chóp thoát nước có
tác dụng làm cho nước chảy khỏi BXCT thuận dòng hơn và giảm được tác dụng mạch
động. Khi làm việc, các cánh BXCT hướng trục chịu tác dụng áp lực nước ở dạng sơ đồ
chịu lực kiểu dầm côngxôn do không có vành dưới, tại nơi tiếp giáp cánh với bầu chịu
mômen uốn lớn nhất. Người ta đã đo được áp lực nước tác dụng lên một cánh có thể đạt
t
ới 240 tấn. Do vậy phải sử dụng động cơ tiếp lực dầu cao áp mới quay được cánh .
Bộ phận quay cánh gồm trục cánh 6 (hình 1-10,b), động cơ tiếp lực 4, hệ thống
thanh truyền 7. Tay quay 8 được nối với trục cánh 6, còn thanh truyền có chốt nối liền
12
u có áp vào một ngăn nào đó của xi
còn ở ngăn kia dầu thông với lỗ dầu xả thì pittông lẫn thanh truyền 7 sẽ dịch lên
píttông 5 của động cơ tiếp lực với tay quay. Pittông 5 chia xi lanh của động cơ tiếp lực
làm hai ngăn: trên và dưới. Dầu có áp từ thiết bị dầu áp lực qua hai ống dẫn đồng tâm

0
,60
0
nên dòng chảy trong
XCT héo góc với ay, các cánh BXCT quay được
oại turbine này đã

Buctamin có công suất N = 77MW, cột nước H =
61m, đ Turbine cánh chéo (hình 1-11) được ra đời chậm hơn các loại turbine trên, nó là loại
trung gian giữa tâm trục và hướng trục. Nó kết hợp được các ưu điểm của hai hệ turbine
loại turbine cán
các tr với trục turbine một góc 30
B c trục. Cũng như turbine cánh qu
quanh trục của nó, nhờ cơ cấu quay cánh gồm vành sao 5 và thanh truyền 4 nằm trong
bầu nên hiệu suất bình quân của nó cao hơn turbine tâm trục ở hầu hết các chế độ làm
việc. Mặt khác số cánh BXCT của turbine này nhiều hơn so với turbine cánh quay nên
có thể làm việc với cột nước cao hơn mà vẫn không bị khí thực. L
được chế tạo ở Nga dùng cho T
ường kính D
1
= 4,35m, n =150 vòng/phút.

Ngoài ra, TB cánh quay làm việc với cột nước thấp, muốn chịu được cột nước
cao hơn thì phải tăng số lượng cánh BXCT của nó lên từ 6 đến 10 cánh. Như vậy bầu
BXCT phải có đường kính lớn. Để có thể tăng số cánh mà không phải tăng đường kính
thì tốt hơn hết là trên mỗi trục cánh lắp hai cánh kép (hình1-12). Loại này đã được lắp
đặt ở nhà máy thủy điện Thác Bà vớ


củ

14 Hình 1-13. Tổ máy cáp xun
Tur d
Ở turbine dòng thẳng (hình 1-14), dòng nướ ồng turbine hình trụ th
a r t ận hướng dòng 2 và tác độn T u theo
t R m y phát điện 4 đượ ắn vào mú cánh d q

2. bine òng th ng ẳ
c theo bu ẳng
đi qu Stato rước 1 vào bộ ph g vào BXC 3 về hạ lư
dòng hẳng. ôtor á c g t TB, o vậy khi BXCT uay Hình 1-14. Turbine dòng thẳng
15
16
và máy
ơm tr


/s khi H = 6m và 225 m
3
/s
khi H = 1m; lưu lượng lớn nhất ở chế độ turnie là 230 m
3
/s . Vòng quay n = 97,75 v/p,
máy phát - động cơ đồng bộ, có điện áp 3,5 kV.
17 Chương II. CÁC BỘ PHẬN CHÍNH CỦA TURBINE THUỶ LỰC

Ở chương I chúng ta nghiên cứu khái quát về các loại turbine và tính năng ứng
ứu cụ thể hơn về cấu tạo, công dụng
bộ phận chính
ine

ểu stator : kiểu cột đỡ riêng rẽ và kiểu vòng (a).
ử dụng kiểu vòng để tăng độ cứng, còn kiểu cột
ng rẽ
dụng của từng loại turbine. Chương II sẽ nghiên c
của các bộ phận chính của turbine và tìm hiểu các xác định kích thước của chúng. Ngoài
BXCT, các bộ phận chính của turbine gồm: thiết bị dẫn nước (buồng turbine), thiết bị
tháo n
ước (ống xả), phần tĩnh (stator), cơ cấu hướng dòng (CCHD) ..v.v..
.
II. 1. VÒNG BỆ, CƠ CẤU HƯỚNG DÒNG, TRỤC CỦA TB. PHẢN KÍCH

là số lượng cánh hướng dòng.
Bảng 2-1. Bảng kích thước vòng bệ ( đơn vị cm)
D
1
D
0
Z
0
Cho buồng xoắn bê tông cốt thép Cho buồng xoắn kim loại
cán D D D R h h D D D R H
h
b a 4 1 2 b a 4
180 220 16 260 305 330 20 21
200 240 16 285 335 360 20 23
225 275 16 320 375 400 20 23
250 290 24 340 390 400 28 32 23 330 390 415 25 25
280 325 24 382 438 448 30 35 25 372 438 463 25 25
320 375 24 437 500 510 30 40 30 426 500 535 30 32
360 420 24 485 500 570 35 40 30 480 555 590 35 35
400 465 24 542 620 630 35 45 35 532 615 650 35 41
450 525 24 610 700 710 40 45 45 600 695 735 40 41
500 580 24 675 777 780 40 50 40 660 765 805 40 46
550 24 745 855 805 50 50 40 730 845 885 50 46 640
600 700 24 875 935 945 50 55 45 800 925 965 50 50

II. 1. 2. Cơ cấu hướng dòn
ồng turbine 1 chảy vòng qua các cột stator 2, chảy qua khe
hở giữa
yến và
rò nước cần có đệm chống rò bằng cao su.

theo
yêu cầu nhờ trục diều khiể
òng điều chỉnh 8 tác thay đổi trục 4 làm cánh hướng 2 xoay quanh trục 10 của nó.

Hình 2-2. Bộ phận xoay CCHD

II. 1. 3. Ổ trục và trục turbine:
Trục turbine được dùng để truyền mô men xoắn từ BXCT đến rôtor máy phát
ống dẫn dầu (đối với cánh quay),
ẫn khí
điện Trục turbine trục đứng bên trong rỗng để lắp các
d xuống BXCT để phá chân không cho turbine tâm trục và đường dây điện ..v.v...
Ổ trục định hướng để định tim trục, được bôi trơn bằng dầu hoặc bằng nước. Lo
ại bôi
trơn bằng nước thường được lắp ở trên nắp turbine. Loại bôi trơn bằng dầu khoáng thì
tấm bạc của ổ trục làm bằng hợp kim babít.
Hình 2-3 là đồ thị xác định đường kính trục turbine. Đường kính trục phụ thuộc
vào mômen xoắn của dòng chảy M
kp
= 97400.N/n ( kGcm).
Trong đó N (kW) và n (vòng/phút). Có M
kp
tra ra đường kích trục turbine D
B
(mm).
Hình 2-3. Biểu đồ quan hệ đường kính trục và công suất turbine.


giới hạn sử dụng trên vì khi cột nước và đường kính lớn thì kích thước của buồng rất
lớn, trục turbine dài và áp lực nước trên thành buồng sẽ lớn. Vì vậy loại buồng này chỉ

Hình 2-4. Buồng turbine hở
.
dùng cho turbine nhỏ. Buồng hở có thể làm bằng gỗ, gạch hoặc đá xây hay bằng bêtông
Buồng hở có thể trục đứng hoặc trục ngang và hở chử nhật hoặc hở xoắn. Buồng hở chữ
nh tạo nên dòng xoáy ở các góc làm tăng tổn thất cột nước. Để khắc phục nhượật dễ c
điểm n
ở.
Chiều dài và chi
1
ày nên dùng buồng hở xoắn. Hình 2-4 thể hiệ
n hình thức các loại buồng h
ều rộng của buồng lấy theo kinh nghiệm A = B = (3- 4).D
, độ nhúng
21
h
min


m đến 25÷30 m. Buồng này được
m bằng ki g dòng 4 dẫn
nư dạng

c turbine 11 ổ
ine tâm trục t
n của b th đường kính tiêu chuẩ của BXCT
D1, khoả (2,8 -3,5)D
1

Khi
ϕ

max
= 345
0
÷360
0
thì gọi là góc bao hoàn toàn (hình 2-7,a), còn
ϕ

max
< 345
0
gọi là
Hình 2-5.Buồng turbine hình ống
II
Buồng xoắn (hình 2-6) là loại được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay. Loại buồng
n đảm dẫn nước vào TB với kích thước mặt bằng của turb
độ thủy lực tốt nhất.Phụ thuộc vào cột nước buồng xoắn có thể làm bằng bê tông hoặc
kim loại. Buồng bêtông cốt thép đượ
c dùng với cột nước H

40 m, mặt cắt đa giác. Khi
H > 40 m hường dùng buồng xoắn kim loại hoặc bê tông cốt thép t
Phân loại b tùy thuộc vào góc bao max
ϕ

max
của buồng xoắn , đây à

v
mặt sẽ làm cho dòng chảy phân bố đều chu vi CCHD, bảo đảm ược dòng chả
ứng trong turbine, nh
ần xoắn và hình
x ưng lại làm tăng vận tốc dòng nước trong ph
ả nthành dòng chảy xoáy, kết qu làm tăng tổ thất năng lượng trong CCHD. Qua th
nghiệm mô hình BXCT đã chọ với các loại uồng xoắn khác nhau người ta lựa chọn
loại buồng xoắn lợ
b
ax
= 180

.Vì vậy đối với TTĐ có c t nước thấp ( kiểu lòng sông ) để gi
xây d
0 0
ng TTĐ nên chọn góc bao 180
÷192 . Đối với TTĐ có cột nước trung bình v
0 0
ọ ớ
a
n đ n
Hình 2-6. Buồng xoắn

Khi cột nước H

80 m và góc bao
ϕ
max
= 270
0

trong buồng sẽ kém và khó b ì tăng khoảng cách
ục tổ máy. Kiến nghị dùng như sau:
δ
= 20÷35
0
và thường lấy 30
0
. Nói chung, khi


n n thì
γ
= 1
khác kiến nghị chọn như sau: khi m = 0 hoặc n = 0, b/a = 1,5÷1,85. Khi m và n

0 thì
củ
u tạo của buồng xoắn, có thể chọn kiểu trần
trục của CCHD kiểu phát triển xuống dưới hoặc kiểu sàn bằng. Các trị số m và n chủ
yếu lựa theo yêu cầu bố trí phần dưới nước của nhà máy, nó không ảnh hưởng mấy đến
đ
iều kiện thủy lực. Khi n = 0 (tức trần bằng) hoặc m > n thì có thể giảm thể tích khối bê
tông phần dưới nước của nhà máy và dễ bố trí động cơ tiếp lực và có thể rút ngắn
khoảng cách giữa các trục tổ máy. Tiết diện chữ T phát triển lên trên so với trục CCHN
chỉ nên dùng khi ở phía dưới buồng xoắn có bố trí đường hầm xả nước của TTĐ xả lũ
không nên quá nhỏ, vì nếu lấy quá nhỏ t
ố trí động cơ tiếp lực, nếu quá lớn th
tr
m thì
γ

QQ
=
ϕ
;
0
360
- Dòng chảy được coi là tổng hợp của dòng chảy thẳng và dòng xoáy, đ
Γ
π
ặc trưng bởi
lưu lượng Q và lưu số
= 2 RV, giả thiết khi thay đổi chế độ làm việc thì Q và
Γ
thay
24
đổi sao ành phần vận tốc hướng
m C
r
cho các đường dòng trong buồng xoắn không đổi. Th

phân bố đều theo chu tuyến trước mép vào cánh hướng dòng: C
r =
tt
a
Q
Db
π
0
;
(trong đó: Q

Vì g pháp n ho
T ước thấp, b ng xoắn bê tông góc bao nhỏ giai đoạn thiết kế ộ.
* Ph ng pháp tốc độ vòng giảm dần từ cửa vào V
u
đến cửa ra từ (0,6÷0,8)V
u
;
Phương pháp này có nh c điểm là tính đối xứng của dòng chảy bị phá h i, nhưng
giảm thước b xoắn. V ó chỉ dùn ine cột n .
ồng xoắn theo hai phương pháp đầu.
chảy sẽ không còn đối xứng qua trục. Phương pháp này khá chính xác và thuận
học nên được áp dụng rộng rãi;
* Phương pháp tốc độ vòng
vòng bình quân ở các mặt cắt ngang buồng xoắn đều nh
th

+ Góc bao càng lớn thì càng không phù hợp.
i góc bao không
V
đủ đ
vậy phươn
ắn thì ph
ày dùng tốt c
phươ
u
.r = K.
TĐ có cột n uồ và sơ b
ươ
ượ oạ
nhỏ kích uồng ì vậy n g với turb ước thấp quá lớn

i
QQ
=
ϕ
0
360
, diện tích mặt
cắt tương ứng là
i
i
tb
tt
i
tb
F
Q
V
Q
V
==
.
.
ϕ
360
; tương tự với
max
ϕ
ta có:
max
max


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status