Lời nói đầu
Lịch sử phát triển của triết học là lịch sử phát triển của t duy triết học gắn
liền với cuộc đấu tranh của hai phơng pháp t duy biện chứng và siêu hình. Lịch sử
phép biện chứng đã trải qua quá trình phát triển lâu dài và đã có lúc bị phép siêu
hình thống trị. Song với tính chất khoa học và cách mạng của mình, phép biện
chứng mà đỉnh cao là phép biện chứng duy vật đã khẳng định vị trí của mình là
học thuyết về sự phát triển dới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không
phiến diện.
Thực tiễn cách mạng đã chứng minh rằng chỉ khi nào con ngời nắm vững
những lý luận về phép biện chứng và vận dụng sáng tạo các nguyên tắc phơng
pháp luận của nó phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể thì quá trình cải tạo tự
nhiên và biến đổi xã hội mới thực sự mang tính cách mạng triệt để. Ngợc lại,
quan điểm siêu hình luôn xem xét sự vật trong trạng thái biệt lập với lối t duy
cứng nhắc sẽ dẫn tới những hạn chế và sai lầm không thể tránh khỏi trong tiến
trình phát triển xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển
của phép biện chứng, trên cơ sở đó vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng đ-
ợc đặt ra nh một nhu cầu cần thiết và tất yếu.
Tiến trình cải tổ nền kinh tế và đổi mới mọi mặt đời sống xã hội ở nớc ta
trong giai đoạn hiện nay hơn lúc nào hết cần phải quán triệt t duy biện chứng triệt
để dựa trên lập trờng duy vật vững vàng. Lý luận về phép biện chứng duy vật nói
riêng, chủ nghĩa Mác-Lênin và t tởng Hồ Chí Minh nói chung là kim chỉ nam đa
cách mạng nớc ta giành đợc thắng lợi trên con đờng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Sự hình thành và phát triển phép biện chứng duy vật là một quá trình lâu
dài và phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn khác nhau với các trình độ phát triển cao
thấp khác nhau. Trong khuôn khổ của bài tiểu luận triết học này, em xin đợc trình
bày nhận thức của mình về những nét cơ bản nhất của lịch sử hình thành và phát
triển phép biện chứng.
1
Đề tài: Những nét cơ bản nhất của lịch sử hình thành phép biện chứng
Tuy đã rất cố gắng song bài viết không tránh khỏi những thiếu sót, em rất
tiến từ giai đoạn su tập sang giai đoạn chỉnh lý, nghiên cứu về các quá trình phát
sinh, phát triển của sự vật, hiện tợng thì phơng pháp siêu hình không còn đáp ứng
đợc yêu cầu của nhận thức khoa học. Cuộc khủng hoảng Vật lý học cuối thế kỷ
XIX do ảnh hởng của quan niệm siêu hình là một minh chứng cho hạn chế của
phơng pháp siêu hình. Những kết quả nghiên cứu của khoa học tự nhiên, nhất là
vật lý học và sinh học đã đòi hỏi và chứng tỏ rằng cần phải có một cách nhìn biện
chứng về thế giới và khi đó, phép siêu hình đã bị phủ định nhờng chỗ cho phép
biện chứng.
Trong lịch sử triết học, phơng pháp biện chứng đã trải qua nhiều giai đoạn
phát triển cao thấp khác nhau, trong đó phép biện chứng duy vật là thành quả
phát triển cao nhất và khoa học nhất của t duy biện chứng. Sau đây chúng ta sẽ
nghiên cứu sự hình thành phép biện chứng qua từng thời kỳ lịch sử nhất định, bắt
đầu từ thời kỳ cổ đại đến thời kỳ phục hng và cận đại, tiếp đó hình thành phép
biện chứng duy tâm cổ điển Đức và sau cùng hoàn chỉnh ở phép biện chứng duy
vật Mácxít.
II. sự hình thành phép biện chứng thời kỳ cổ đại
Ba nền triết học tiêu biểu của thời kỳ cổ đại đợc biết đến là nền triết học ấn
Độ cổ đại, triết học Trung Quốc cổ đại và triết học Hy Lạp cổ đại.
1. Phép biện chứng trong triết học ấn Độ cổ đại
ấn Độ cổ đại là một vùng đất thuộc nam châu á có điều kiện khí hậu hết
sức khắc nghiệt và địa hình tách biệt với các quốc gia, do đó ấn Độ cổ đại trở
thành một nền văn minh khép kín. Các t tởng tôn giáo rất phát triển trong xã hội
ấn Độ thờng xuyên đan xen vào triết học làm nên nét đặc thù riêng của triết học
ấn Độ cổ đại. Có thể nói, triết học ấn Độ tuy còn ở trình độ sơ khai song nó đã
chứa đựng các yếu tố về bản thể luận và những t duy biện chứng. Các t tởng biện
chứng mộc mạc, thô sơ đợc tập trung thể hiện trong một số trờng phái triết học
ấn Độ cổ đại sau:
a. Triết học Samkhya
3
Theo phái Samkhya, Prakriti là vật chất đầu tiên ở dạng tinh tế, trầm ẩn, vô
đứng im. Quy luật vô thờng của mọi tồn tại là Sinh - Trụ - Dị - Diệt.
Đây là một phỏng đoán biện chứng về sự biến đổi của tồn tại.
- Quy luật nhân quả cho rằng sự tồn tại đa dạng và phong phú của thế giới
đều có nguyên nhân tự thân, đó là quy luật nhân quả, một định lý tất định và phổ
biến của mọi tồn tại, dù đó là vũ trụ hay nhân sinh.
Triết học ấn Độ là một trong những nôi triết học vĩ đại của loài ngời thời kỳ
cổ đại. Nó chứa đựng những yếu tố duy vật, vô thần và đã manh nha hình thành
các t tởng biện chứng sơ khai. Tuy nhiên, t duy triết học thời kỳ này cũng bộc lộ
nhiều hạn chế nh: coi linh hồn con ngời là bất tử (đạo Phật) hay phán đoán về thế
giới hiện tợng của phái Jaina.
2. Phép biện chứng trong triết học Trung Quốc cổ đại
Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn và có lịch sử phát triển lâu đời vào
bậc nhất thế giới. Đó là một trong những trung tâm t tởng lớn nhất của nhân loại
thời cổ. Triết học Trung Quốc cổ đại chịu sự chi phối trực tiếp của những vấn đề
chính trị xuất phát từ hiện trạng xã hội biến động đơng thời. Chính vì vậy trong
thời kỳ này, các triết gia Trung Quốc thờng đẩy sâu quá trình suy t về các vấn đề
thuộc vũ trụ quan và biến dịch luận. Song cần phải khẳng định rằng, chủ nghĩa
duy vật và phép biện chứng trong triết học Trung Quốc cổ đại là chủ nghĩa duy
vật chất phác và phép biện chứng tự phát. Có thể thấy một số t tởng biện chứng
nổi bật của triết học Trung Quốc cổ đại qua một số trờng phái triết học sau:
a. Trờng phái triết học Âm Dơng gia
Về căn bản, những kiến giải về vũ trụ quan của triết học Trung Quốc cổ đại
mang tinh thần biện chứng sâu sắc (nếu hiểu theo nguyên tắc: phép biện chứng là
học thuyết triết học về sự biến đổi). Điển hình cho t duy này là học thuyết Âm -
Dơng. Nội dung triết học căn bản của phái Âm -Dơng là lý luận về sự biến dịch,
đợc khái quát thành những nguyên lý phổ biến, khách quan và tất yếu.
Một là, phái Âm - Dơng nhìn nhận mọi tồn tại không phải trong tính đồng
nhất tuyệt đối. Trái lại, tất cả đều bao hàm sự thống nhất của các mặt đối lập, gọi
là sự thống nhất của Âm và Dơng. Nói cách khác, Âm -Dơng là đối lập nhau nh-
ng là điều kiện tồn tại của nhau. Hơn nữa, học thuyết Âm - Dơng còn thừa nhận
theo luật quân bình. Chính vì thế, phép biện chứng của ông mang tính chất máy
6
móc, lặp đi lặp lại một cách tuần hoàn.
Trang Tử cũng là một nhà t tởng lớn của phái Đạo gia. Học thuyết của
Trang Tử có những yếu tố duy vật và biện chứng tự phát, nhng thế giới quan của
ông về cơ bản nghiêng về chủ nghĩa duy tâm. Khi quan niệm về vũ trụ (về Đạo),
Trang Tử cho rằng Đạo trời là tự nhiên vốn có không ai sinh ra. Vạn vật đều sinh
ra từ Đạo và biến hoá một cách tự nhiên.
c. Triết học của phái Danh gia
Các t tởng biện chứng của phái Danh gia trớc hết đợc thể hiện qua thuyết t-
ơng đối của Huệ Thi. Huệ Thi quan niệm vạn vật trong vũ trụ luôn biến đổi,
chúng có tính tơng đối và hàm chứa trong đó những mặt đối lập liên hệ chuyển
hoá qua lại với nhau. Nhng do tuyệt đối hoá tính chất tơng đối của sự vật, thực
tại, tách rời nó với những điều kiện, những mối liên hệ cụ thể nên về cơ bản, triết
học của Huệ Thi mang tính ngụy biện và tơng đối luận.
Một biện giả khác của phái Danh gia là Công Tôn Long. T tởng biện chứng
tự phát của Công Tôn Long thể hiện ở quan điểm về tính chất mâu thuẫn của sự
vận động, sự thống nhất biện chứng giữa cái vô hạn và hữu hạn, giữa đồng nhất
và khác biệt. Trong đó, Công Tôn Long đa ra những mệnh đề có tính chất ngụy
biện, chiết trung nh: ngựa trắng không phải là ngựa, trứng có lông, bóng chim
bay không hề động đậy. Nếu Huệ Thi chỉ chú trọng đến tính chất tơng đối, sự
luôn biến đổi của sự vật, hiện tợng trong hiện thực, phóng đại một cách phiến
diện mặt tơng đối của sự vật và đa đến kết luận tơng đối chủ nghĩa thì Công Tôn
Long lại nhấn mạnh tính tuyệt đối, tính không biến đổi và sự tồn tại độc lập của
những khái niệm so với cái đợc phản ánh trong khái niệm ấy. Công Tôn Long đã
tách rời cái chung, cái phổ biến ra khỏi những cái riêng, cái cá biệt đi tới phủ
nhận sự tồn tại của những cái cụ thể trong hiện thực.
d. Triết học của phái Pháp gia
Hàn phi là một đại biểu của phái Pháp gia. Kiên quyết phủ nhận lý luận
chính trị thần quyền, Hàn Phi đợc coi là một nhà vô thần luận nổi tiếng của Trung
a. Talét
Thành tựu nổi bật của Talét là quan niệm triết học duy vật và biện chứng tự
phát. Ông cho rằng nớc là yếu tố đầu tiên, là bản nguyên của mọi vật trong thế
8
giới. Mọi vật đều sinh ra từ nớc và khi phân huỷ lại biến thành nớc. Theo Talét,
vật chất tồn tại vĩnh viễn, còn mọi vật do nó sinh ra thì biến đổi không ngừng,
sinh ra và chết đi. Toàn bộ thế giới là một chỉnh thể thống nhất, trong đó mọi vật
biến đổi không ngừng mà nền tảng là nớc. Tuy nhiên, các quan điểm triết học
duy vật của Talét mới chỉ dừng lại ở mức độ mộc mạc, thô sơ, cảm tính. Ông cha
thoát khỏi ảnh hởng của quan niệm thần thoại và tôn giáo nguyên thuỷ khi ông
cho rằng thế giới đầy rẫy những vị thần linh.
b. Anaximăngđrơ
Ông là ngời Hy Lạp đầu tiên nghiên cứu nghiêm túc vấn đề phát sinh và
phát triển của các loài động vật. Theo ông, động vật phát sinh dới nớc và sau
nhiều năm biến hoá thì một số giống loài dần thích nghi với đời sống trên cạn,
phát triển và hoàn thiện dần; con ngời hình thành từ sự biến hoá của cá. Phỏng
đoán của ông còn cha có căn cứ khoa học song đã manh nha thể hiện yếu tố biện
chứng về sự phát triển của các giống loài động vật. Khi giải quyết vấn đề bản thể
luận triết học, Anaximăngđrơ cho rằng cơ sở hình thành vạn vật trong vũ trụ là từ
một dạng vật chất đơn nhất, vô định hình, vô hạn và tồn tại vĩnh viễn mà ngời ta
không thể trực quan thấy đợc. Nếu so với Talét thì Anaximăngđrơ có bớc tiến xa
hơn trong sự khái quát trừu tợng về phạm trù vặt chất.
c. Hêraclít
Theo đánh giá của các nhà kinh điển Mác-Lênin, Hêraclít là ngời sáng lập
ra phép biện chứng, hơn nữa, ông là ngời xây dựng phép biện chứng trên lập tr-
ờng duy vật. Phép biện chứng của Hêraclít cha đợc trình bày dới dạng một hệ
thống các luận điểm khoa học nh sau này, nhng hầu nh các luận điểm cốt lõi của
phép biện chứng đã đợc ông đề cập dới dạng các câu danh ngôn mang tính thi ca
và triết lý. Các t tởng biện chứng của ông thể hiện trên các điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, quan niệm về vận động vĩnh viễn của vật chất. Theo Hêraclít,
khái quát cao. Tuy nhiên, hạn chế trong học thuyết về tồn tại của ông là ở chỗ
ông đã đồng nhất tuyệt đối giữa t duy và tồn tại và mang tính chất siêu hình vì
ông cho rằng tồn tại là bất biến.
e. Dênông
Dênông là học trò của Pácmênít. Công lao của ông là đã đặt ra nhiều vấn
10
đề biện chứng sâu sắc về mối liên hệ giữa tính thống nhất và tính nhiều vẻ của thế
giới, giữa vận động và đứng im, giữa tính gián đoạn của thời gian và không gian,
giữa tính hữu hạn và tính vô hạn, và về sự phức tạp trong việc thể hiện quá trình
vận động biện chứng của sự vật vào t tởng, vào lôgíc của khái niệm. Tuy nhiên,
những nghịch lý Apôria của ông chỉ có thể đợc giải quyết nếu đứng trên lập trờng
duy vật biện chứng trong nhận thức sự vật.
f. Empêđôcơlơ
Empêđôcơlơ cho rằng nguồn gốc vận động của mọi sự vật là do sự tác động
của hai lực đối lập là Tình yêu và Căm thù. Quan điểm này là một bớc thụt lùi so
với Hêraclít, bởi vì triết học Hêraclít giải thích nguồn gốc vận động của vật chất
là do sự xung đột của những mặt đối lập nội tại của sự vật. tuy nhiên,
Empêđôcơlơ cũng có một số phỏng đoán thiên tài về sự tiến hoá của giới hữu cơ.
Sự giải thích này của ông tuy còn ngây thơ nhng đã manh nha hình thành t tởng
biện chứng về quá trình tiến hoá của sinh vật theo con đờng từ thấp đến cao, từ
đơn giản đến phức tạp.
g. Đêmôcrít
Đêmôcrít là một trong những ngời đã phát triển thuyết nguyên tử lên một
trình độ mới. Một mặt, ông tán thành lý thuyết tồn tại duy nhất và bất biến của
Pácmênít khi coi các nguyên tử là bất biến, mặt khác, ông kế thừa quan điểm của
Hêraclít cho rằng mọi sự vật biến đổi không ngừng. Đêmôcrít đã nêu ra lý thuyết
về vũ trụ học. Lý thuyết này đợc xây dựng trên cơ sở lý luận nguyên tử về cấu tạo
của vật chất, thấm nhuần tinh thần biện chứng tự phát và có một ý nghĩa đặc biệt
trong lịch sử triết học. Đêmôcrít khẳng định: vũ trụ là vô tận và vĩnh viễn, có vô
số thế giới vĩnh viễn phát sinh, phát triển và bị tiêu diệt. Quan điểm của Đêmôcrít