Đạo Gia Và Ngôn Ngữ Học - Triết Học Hiện Đại (a)
Trước lúc bàn đến Trang tử, chúng tôi đề cập một chút đến thầy của ông - Lão tử.
b
Nghe nói ở phương
Tây, ảnh hưởng của Lão tử vượt xa Khổng tử. Hegel trong các Bài giảng triết học từng đánh giá rất cao
Lão tử. Khổng tử, ngược lại dường như không được ông xem là triết gia. Hegel phán định Khổng tử:
"Khổng tử chỉ là một con người minh triết của thế giới thực tiễn. Trong những ý kiến của ông không có
lấy một giọt triết học tư biện nào, chỉ có một thứ học thuyết đạo đức tinh vi, song từ đó ta không rút ra
được cái gì đặc biệt cả".
c
Theo chỗ chúng tôi biết, ở Việt Nam, từng có người vận dụng chính bản thân
triết học Đức để phản bác lại nhận định của Hegel về Khổng tử. Ông theo dùng triết học Đức, đem tất cả
quy thành quan hệ, trên đà đó, ông tiến lên chứng minh: có cả một hệ thống triết học tư biện trình độ cao
ẩn tàng đằng sau một nội dung thoạt trông thuần tuý là phân tích thực tiễn của Luận ngữ. Học tập Hiện
tượng luận của Husserl, ông dùng cách mà Husserl đã dùng khi nghiên cứu Decarter để nghiên cứu nhận
thức luận của học thuyết Khổng tử, trả lời câu hỏi "Khổng tử tại sao lại nói như vậy?", tức là lí giải cái
nguyên do phát ngôn ở Khổng tử chứ không quá chú ý trước hết vào phân tích nội dung trực tiếp của
ngôn từ Khổng tử. Mặt khác, ông cũng đã dùng ngôn ngữ học để đọc giải cổ triết Trung Hoa. Chẳng hạn,
khi đọc Đạo đức kinh, ông phát hiện thấy Lão tử là triết gia Trung Hoa đầu tiên dám dùng một ngôn ngữ
đơn âm tiết để tiến hành các tư biện triết học. Ta biết, Hán ngữ trong thời đại Lão tử từ đơn giữ tác dụng
chủ đạo, lúc đó nó hãy còn thiếu vốn kinh nghiệm có được nhờ tiếp xúc với ngôn ngữ biến hình như sau
này. Chẳng hạn cuộc tiếp xúc với Phạn ngữ khiến cho Trung Hoa đã có được những bản dịch Kinh Phật
nổi tiếng. Nhà nghiên cứu nhân tiện cũng chỉ ra những giao tiếp ngôn ngữ như vậy thậm chí can hệ đến
cả văn phong của Tống Nho. Từ nhận thức trên, ông nêu câu hỏi: Lão tử đã dùng những thủ pháp nào để
có thể biểu đạt được những tư tưởng triết học khúc triết trong lòng một ngôn ngữ phi tư biện tính như
Hán ngữ? Ông tóm lược một số thủ pháp của nhà triết học. Thứ nhất, cùng một khái niệm Đạo, nhưng để
nhấn mạnh một mặt nào đó trong nội hàm khái niệm, Lão tử đã dùng rất nhiều từ khác nhau. Dùng hình
thức một thuật ngữ biểu đạt nhiều khái niệm triết học khác nhau là một hiện tượng thường thấy trong cổ
triết Trung Hoa. Thứ hai, Lão tử sáng tạo một lối hành văn mới, đem câu văn chia thành nhiều vế đẳng
lập, đối ngẫu. Sự trùng lặp một số chữ cũng như sự thay đổi của một số chữ giữa các phân câu đó, bản
Trang tử cổ xuý tự do, bình đẳng, nhấn mạnh giải phóng cá tính cùng với ngôn luận cởi mở. Ông nêu
thuyết "soi sáng từ nhiều nguồn" (nguyên văn: "thập nhật bính xuất") chống lại luận điệu "thiên vô nhị
nhật" (trời không có hai mặt trời), "công hồ dị đoan" (chống lại đa nguyên).
Thứ hai, Trang tử luôn nhấn mạnh cần phải từ bỏ cái dục vọng "phải thắng". Kẻ nào tự cho không có gì
là không biết, mọi sự đều có đáp án, kẻ đó là kém vậy. Trang tử cũng giống như Lão tử bao giờ cũng
khuyên người ta khiêm nhường, không phải là lối khiêm nhường tự mình nhún gối một vâng hai dạ, mà
là đức tự nhận mình chỉ là hạt cát trong sa mạc, quên đi cái tự ngã cao ngạo, là tự xem mình chỉ là một
"mẩu gỗ mục", "một nhúm tro tàn".
e
Sau khi tiếp xúc với Trang tử, người ta cảm thấy trong cuộc đời này
nếu chưa có được cơ hội "thau rửa lòng mình" (trai tâm) "yên tĩnh lãng quên" (toạ vong) hướng tới một
tầng cao - tầng tiếp cận với Đạo, thì cũng không ngại ngay trong cuộc sống phổ thông dưới mặt đất của
kiếp phàm phu tục tử cũng học được một chút tinh thần Trang sinh: "sống một cuộc sống giữ an hoà với
mọi người và muôn vật, sống sao cho cuộc sống trở nên nhẹ nhõm vô tư lự một chút, hà tất phải bậc
thông kim bác cổ, đường đường phẩm tiết mới học nổi Trang tử" (Mierdon, chuyển dẫn từ Nghiên cứu
Trang tử, Lí Thiệu Côn dịch sang tiếng Hán).
Đạo của Trang tử đương nhiên không giống với ý niệm tuyệt đối của Hegel, cũng không giống với lí
niệm của Platon. Có điều, nếu cho phép ví von, chúng tôi sẵn lòng so triết học Lão tử với biện chứng
pháp của Hegel. Có thể nói Lão - Trang chính là những Hegel của Trung Hoa. Chúng tôi đồng ý quan
điểm "triết học Trang tử là khách quan duy tâm chủ nghĩa", nhưng không dám tán đồng nhận định "đặc
sắc chủ yếu của triết học Trang tử là tìm kiếm tự do tinh thần" (quan điểm của tác giả cuốn Triết học
Trang tử và diễn biến của nó - Lưu Tiếu Cảm).
f
Theo ý chúng tôi, đặc sắc chủ yếu của triết học Trang tử
là tinh thần "vô vi". Quan niệm "Đạo" và "vô vi" đó chính là đặc hữu của triết học Trung Quốc. Mierdon
hiểu "vô vi" như sau: "Tinh thần thực sự của vô vi không phải là ở chỗ không làm việc gì cả, mà là giỏi
trong việc ta làm - "vô vi" ấy chính là không cần làm cái mà ta không cần làm, không làm cái vốn không
cần làm, là hợp với nhân tính, tham gia vào vận hành đúng đắn của vạn vật. "Vô vi" là hoàn toàn tự do,
bởi vì nói đã vừa không chuộng võ lực mà cũng không thích bạo lực. "Vô vi" vừa không bị hạn chế bởi
yêu cầu cá nhân, thậm chí cũng không chịu sự chi phối của ý kiến hay bất kì học thuyết nào" (Nghiên
vạn vật này đều là kí hiệu. Chúng tôi mạnh dạn suy diễn rộng ra ý của Văn Nhất Đa trong đoạn chú giải
trên:
Dùng ngôn ngữ (nói một cách khái quát, dùng một hệ thống kí hiệu gồm hai mặt của một chỉnh thể ngữ
âm - ngữ nghĩa) hoặc nói cụ thể ở đây, dùng một danh từ (vốn là một kí hiệu bao gồm cái sở chỉ chỉ sự
vật và cái năng chỉ hình thành nên ngữ nghĩa) để giải thích, cắt nghĩa một khái niệm, một danh xưng
không phải chính là bản thân sự vật (chú ý quan hệ giữa ngôn ngữ và thế giới khách quan; quan hệ giữa
từ và vật) - làm một việc như thế chẳng thà dùng không phải là ngôn ngữ (hoặc là nói không dùng ngôn
ngữ - tuy nhiên có thể không dùng ngôn ngữ mà nhận thức được tồn tại hay không - đó là vấn đề tiếp
theo trong nhận thức luận Trang tử, và cũng là một vấn đề lớn của triết học hiện đại) khiến người ta hiểu
ra một tên gọi, một danh từ không phải là bản thân sự vật.
Chú ý: trong câu "dĩ "phi chỉ"..." và "dĩ "phi mã" ....", phi mã và phi chỉ đều được đặt trong dấu ngoặc
kép, chúng tôi xem hai chữ phi chỉ cũng như hai chữ phi mã là liền thành một khối, tức đều là bổ ngữ đối
tượng trực tiếp của "dĩ"; phi mã, phi chỉ trong câu văn Trang Tử đều tương đương với một nhóm danh từ.
Chữ chỉ trong khối "phi chỉ" ở đây, theo chúng tôi nên được hiểu là đề cập đến vấn đề ngôn ngữ: nó vừa
là một danh từ chỉ vật thực (ngón tay), vừa là cái sở chỉ (signifie, signified hoặc significatum) cũng trỏ
cái năng chỉ (signifiant hoặc signiifer, signifians), cũng là chỉ xưng, chỉ xuất, chỉ thị, lại cũng có thể
thông với chữ chỉ trong từ "chỉ dụ"; còn chữ mã trong "phi mã" theo chúng tôi nên được lí giải là vừa
chỉ một loài động vật mà cũng là mã hiệu, mật mã - tóm lại đều đề cập đến chuyện sử dụng ngôn ngữ.
Nhân tiện cũng lưu ý rằng, thuật ngữ năng chỉ, sở chỉ trong ngôn ngữ học vừa dẫn trên, trong tiếng Anh
hoặc tiếng Pháp đều có gốc từ sign. Mà sign là chỉ kí hiệu, kí hiệu ngôn ngữ, ngoài ra cũng chỉ động tác
làm hiệu, động tác "nói" bằng tay, ví dụ nói sign language - ngôn ngữ cử chỉ (Xem Từ điển ngôn ngữ
học hiện đại, Thương vụ ấn thư quán, 2000, hoặc Từ vựng ngôn ngữ Anh Hán - An English-Chinese
lexicon of linguistics, Thương vụ ấn thư quán, 2000).
Chúng ta nên biết rằng một danh xưng chẳng qua chỉ là một kí hiệu gọi thành lời, bản thân nó tồn tại
trong một ngôn ngữ cụ thể - nó có được ý nghĩa (ngữ nghĩa) trong một ngôn ngữ nhất định; còn vật thực
thì tồn tại trong thế giới khách quan cũng với những ý nghĩa của chính nó; bản thân danh xưng, danh từ
không phải là bản thân sự vật; cũng vậy, ngữ nghĩa của một từ không đồng đẳng với ý nghĩa của sự vật
mà từ đó phản ánh. Ngữ nghĩa là tồn tại trong một ngôn ngữ cụ thể, còn ý nghĩa của bản thân sự vật là
tồn tại trong hiện thực khách quan, không vì chúng ta dùng thứ tiếng nào gọi nó lên thành từ mà bị thay
đổi. Đương nhiên ở đây (Tề vật luận), có thể Trang tử còn có ý nói đến hiện tượng "đồng danh dị thực"
chẳng hạn được xác định do các nhà sinh vật học, nghĩa của chúng là nhận thức chung của tất cả các
ngôn ngữ. Còn việc người Hán gọi "thảo", người Anh gọi "grass" - theo Phan Ngọc đó là chuyện hình
thức. Còn như ngữ nghĩa của từ tiếng Hán "thảo" thì lại được xác định thông qua một loạt thao tác chọn
lựa và kết hợp diễn ra trong lòng tiếng Hán. Tức là thông qua đối lập với "thảo mộc" (cây cỏ), "đạo thảo"
(rơm)… mà có được xác lập về nghĩa cho từ "thảo". Nói một cách khái quát, ngữ nghĩa của một từ ngôn
ngữ cụ thể là đặt nó trong trục chọn lựa và kết hợp (lịch đại và đương đại)
j
mới có thể phân biệt ra được.
Mã với tư cách là một con vật - nghĩa đó đối với người Anh hay người Hán đều như nhau, nhưng người
Hán gọi "mã" mà người Anh thì lại định danh thành từ "horse". Ngữ nghĩa của từ "mã" thì hình thành
trong sự đối lập với hàng loạt từ khác trong tiếng Hán cũng giống như ngữ nghĩa của từ "horse" là hình
thành trong lòng tiếng Anh vậy. Nhà nghiên cứu tiếng Hán khi muốn định nghĩa nghĩa của từ mã đương
nhiên sẽ không dắt ra một con ngựa thật (trong từ điển việc có thể minh hoạ bằng hình vẽ con ngựa, đó là
chuyện khác). Nhà nghiên cứu tiếng Hán sẽ thông qua đối lập "mã" với một loạt từ "mã đao" "mã tấu"
"mã giác" (vết tích để lại) "tuấn mã" (ngựa đẹp) để xác định ngữ nghĩa một từ mã cụ thể nào đó. Hiểu
như vậy, chúng ta chính là đang tiến gần đến câu chuyện "mã chi phi mã".
Trên đây, chúng tôi đã cố gắng xác định nội dung đoạn văn của Trang tử. Bây giờ chúng tôi sẽ tiến thêm
một bước thảo luận vì sao Trang tử lại nói như vậy, cố gắng miêu tả cái bối cảnh phát ngôn của Trang tử.
Tức là xuất phát từ một góc độ khác, tìm hiểu sâu hơn tại sao Trang tử lại nói đến vấn đề "chỉ/mã".
Người Trung Quốc, ví dụ nhìn thấy ngựa, nhìn thấy cái sở chỉ trong thực tế của từ "mã" đồng thời tức
khắc trong óc anh ta vang lên cái kí hiệu ngữ âm (/ma/) (chữ Hán viết
马
) cũng như khi anh ta nghe đến
âm /ma/, lập tức trong đầu sẽ xuất hiện hình ảnh con ngựa - cái hình tượng gắn chặt với cái sở chỉ của từ
mã. Trong tiếng mẹ đẻ của anh ta, quan hệ giữa cái sở chỉ - cho dù là một vật thực (con ngựa), một hành
động (phi) hay một tính chất (béo) và cái vỏ ngữ âm năng chỉ của từ tương ứng dường như là tức thời,
trực tiếp. Bởi vì, mỗi một từ trong tiếng Hán luôn chỉ mang một diện mạo ngữ âm duy nhất. Khác với
trong ngôn ngữ biến hình, lăng kính ngữ pháp của ngôn ngữ châu Âu - như giáo sư Phan Ngọc từng đề
cập, là đa tầng, mỗi một tầng phạm trù ngữ pháp (số, cách, thời, thức, thêm vào đó là vấn đề chức năng
ngữ pháp trong câu cụ thể) sẽ phân cắt mối quan hệ giữa cái sở chỉ và cái vỏ ngữ âm năng chỉ tương ứng
và Logos: giải thích học văn học cũng nhận xét: "Viết luôn là một thứ sở chỉ nhiều ý, ngoại tại, đặc thù,
ngẫu nhiên và không có tính sáng tạo, tức cũng là một thứ sở chỉ mà giữa ghép viết con chữ và phát âm
có sự tương tự – loại sở chỉ này chính là ký hiệu của ký hiệu" (Zhang longxi, The Tao and The Logos
Literary Hermeneutics, East and West Duke University Press Durham & London 1992, p. 23). Có thể
thấy quan điểm về văn tự và việc viết chữ trên đây chính là xuất phát từ ngôn ngữ ghi âm của châu Âu.
Vận dụng thuyết đó vào trong nền văn hoá của chữ tượng hình thì quan điểm "kí hiệu của kí hiệu" đó cần
có một sự điều chỉnh thích ứng. Việc chú giải của Văn Nhất Đa đối với câu văn Trang tử ít nhiều cũng
khiến chúng ta ý thức được điều đó.
Quay về với Trang tử. Chúng ta cần biết rằng trong tiếng Hán một từ đơn - tức một đơn âm tiết viết ra
bằng một chữ Hán - nói chung dường như là một hình tượng tức khắc trực tiếp của một sự vật, hành động
khách quan. Chỉ dừng lại trên bản thân từ đơn mà tiến hành thao tác tư duy trừu tượng hoá là một việc
khó, muốn dang rộng đôi cánh tư duy tư biện thì phải bay lên tầng cao của lĩnh vực từ phức. Trang tử
chính là đã thể hiện một năng lực tư duy tư biện triết học nhuần nhuyễn trong điều kiện mà vốn từ đơn
hãy còn chiếm địa vị chủ đạo trong tiếng Hán. Một điểm nữa, thông qua sự chú giải của Văn Nhất Đa đối
với Tề vật luận, trên một mức độ nào đó, chúng ta còn có được một ý thức so sánh ngữ pháp giữa hai
truyền thống ngôn ngữ. Tức là nói, lúc đọc một câu văn tiếng Hán, ngoài việc phải lí giải luật tương hợp
ngữ pháp nói chung (trong các thứ tiếng châu Âu, điều này thể hiện trên biến hoá hình thức của các từ
trong câu), chúng ta còn phải chú ý tới luật tương hợp ngữ nghĩa (accord) tức cái gọi là ngữ pháp ngữ
nghĩa. Theo chúng tôi truyền thống chú giải kinh sách của Trung Hoa trên thực tế chính là bỏ công sức
rất nhiều trên phương diện này. Trang tử chắc chưa có một ý thức tự giác hoàn toàn về ngôn ngữ như
vậy, nhưng ông tỏ ra đã ý thức được ít nhiều bản chất của ngôn ngữ nói chung và những đặc điểm của
tiếng mẹ đẻ nói riêng. Ông đã tính toán tới việc những đặc điểm đó sẽ đem đến những điều kiện như thế
nào cho sự tư biện triết học đương thời. Hoàn toàn có thể đặt vấn đề Trang tử đã thực sự đối diện với câu
hỏi: ngôn ngữ rốt cuộc có thể giúp chúng ta tiến gần tới Đạo được hay không? Ngôn ngữ có giúp chúng
ta thống nhất được với vũ trụ bản nguyên hay ngược lại, nó khiến cho con người chia cắt với tự nhiên,
con người chia cắt với con người? Cho đến nay đó vẫn là câu hỏi chung cho cả nền triết học hiện đại.
Chúng tôi mạo muội cho rằng Dĩ "mã" dụ mã chi phi mã đằng sau lối biểu đạt này có lẽ ẩn tàng một ý
thức độc đáo của nhà triết học cổ đại Trung Hoa về mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và vật thực khách quan.
Còn mệnh đề tiếp theo bất nhược dĩ "phi mã" dụ mã chi phi mã thì chính là đã tiến thêm một bước ý
thức về tình trạng "lực bất tòng tâm" của ngôn ngữ trong tư cách là một công cụ của nhận thức. Cái công