BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1. Lời giới thiệu:
Lí luận văn học là một bộ môn của khoa học nghiên cứu văn học. Nó có
nhiệm vụ nghiên cứu bản chất, chức năng xã hội - thẩm mĩ và quy luật phát triển của
sáng tác văn học. Do đó nó có tác dụng xác định phương pháp luận và phương pháp
phân tích, cảm thụ văn học. Đây là vấn đề quan trọng không những cho người sáng
tác mà còn đặc biệt quan trọng đối với người học văn. Nhờ kiến thức lí luận mà học
sinh có thể nhận thức đúng vấn đề nghị luận. Khi làm bài, học sinh biết nhận xét,
đánh giá, bình luận...vấn đề; hiểu đúng đắn, sâu sắc những khái niệm, thuật ngữ văn
học. Có thể nói, lí luận văn học đóng vai trò mở đường, nó như chiếc chìa khóa giúp
người học văn “mở cửa” để đi vào khám phá văn học từ quy mô rộng (một nền văn
học) hay quy mô hẹp (tác phẩm văn học).
Trong các kì thi chọn học sinh giỏi cấp Tỉnh và cấp Quốc gia những năm gần
đây, đề thi đều yêu cầu phải vận dụng kiến thức lí luận văn học để giải quyết vấn đề.
Song trên thực tế, bài làm của học sinh dễ “bỏ ngỏ” phần lí luận văn học hoặc hiểu
chưa sâu, chưa đúng các khái niệm, thuật ngữ văn học. Hơn nữa, tri thức lí luận văn
học được đưa vào giảng dạy ở bậc THPT còn rất ít ỏi. Trong phân phối chương trình
toàn cấp học, học sinh được học 05 bài lí luận văn học với thời lượng là 9 tiết/333
tiết. Vậy khi bồi dưỡng học sinh giỏi, ngoài việc trang bị kiến thức về tác phẩm, cần
cung cấp thêm kiến thức lí luận văn học nào, rèn cho các em kĩ năng vận dụng kiến
thức đó ra sao quả là điều không đơn giản.
Xuất phát từ thực tiễn trong quá trình ôn thi học sinh giỏi, tôi tiến hành
thực hiện chuyên đề “Hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức lí luận văn học
để giải quyết các yêu cầu của đề thi học sinh giỏi môn Ngữ Văn” với mong
muốn đem đến cho các thầy cô giáo và các em học sinh một tài liệu tham khảo
hữu ích, cũng là góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn ở
trường phổ thông nói chung.
2. Tên sáng kiến:
1
nhất định với những mối quan hệ nhất định. Văn học có khả năng phá vỡ giới hạn
tồn tại trong thời gian, không gian thực tế của mỗi cá nhân, đem lại khả năng sống
cuộc sống của nhiều người, nhiều thời, nhiều nơi.
->Giá trị nhận thức là khả năng của văn học có thể đáp ứng được yêu cầu của con
người muốn hiểu biết cuộc sống và chính bản thân, từ đó tác động vào cuộc sống
một cách có hiệu quả.
* Biểu hiện:
- Quá trình nhận thức cuộc sống của văn học: nhận thức nhiều mặt của cuộc sống
với những thời gian, không gian khác nhau (Quá khứ, hiện tại, tương lai, các vùng
đất, các dân tộc, phong tục, tập quán,…).
- Quá trình tự nhận thức của văn học: người đọc hiểu được bản chất của con người
nói chung (mục đích tồn tại, tư tưởng, khát vọng, sức mạnh của con người); từ đó
mà hiểu chính bản thân mình.
1.1.2. Giá trị giáo dục
* Cơ sở:
- Con người không chỉ có nhu cầu hiểu biết mà còn có nhu cầu hướng thiện, khao
khát cuộc sống tốt lành, chan hoà tình yêu thương.
- Nhà văn luôn bộc lộ tư tưởng - tình cảm, nhận xét đánh giá,…của mình trong tác
phẩm. Điều đó tác động lớn và có khả năng giáo dục người đọc.
- Giá trị nhận thức luôn là tiền đề của giá trị giáo dục. Giá trị giáo dục làm sâu sắc
thêm giá trị nhận thức.
* Biểu hiện:
- Văn học đem đến cho con người những bài học quý giá về lẽ sống để họ tự rèn
luyện bản thân mình ngày một tốt đẹp hơn.
+ Về tư tưởng: Văn học hình thành trong con người một lí tưởng tiến bộ, giúp học
có thái độ và quan điểm đúng đắn về cuộc sống.
+ Về tình cảm: Văn học giúp con người biết yêu ghét đúng đắn, làm cho tâm hồn
con người trở nên lành mạnh, trong sáng, cao thượng hơn.
(khái niệm chân - thiện - mĩ của cha ông).
- Giá trị nhận thức luôn là tiền đề của giá trị giáo dục. Giá trị giáo dục làm sâu sắc
thêm giá trị nhận thức. Giá trị thẩm mĩ khiến cho giá trị nhận thức và giá trị giáo dục
được phát huy. Không có nhận thức đúng đắn thì văn học không thể giáo dục được
con người vì nhận thức không chỉ để nhận thức mà nhận thức là để hành động.
Tuy nhiên, giá trị nhận thức là giáo trị giáo dục chỉ có thể phát huy một cách tích cực
nhất, có hiệu quả cao nhất khi gắn với giá trị thẩm mĩ - giá trị tạo nên đặc trưng của
văn học.
1.2. Tiếp nhận văn học
1.2.1. Tiếp nhận trong đời sống văn học
- Tiếp nhận văn học là quá trình người đọc hoà mình vào tác phẩm, rung động với
nó, đắm chìm trong thế giới nghệ thuật được dựng lên bằng ngôn từ, lắng tai nghe
tiếng nói của tác giả, thưởng thức cái hay, cái đẹp, tài nghệ của người nghệ sĩ sáng
tạo. Bằng trí tưởng tượng, kinh nghiệm sống, vốn văn hoá và bằng cả tâm hồn mình,
người đọc khám phá ý nghĩa của từng câu chữ, cảm nhận sức sống của từng hình
ảnh, hình tượng, nhân vật,…làm cho tác phẩm từ một văn bản khô khan biến thành
một thế giới sống động, đầy sức cuốn hút.
-> Tiếp nhận văn học là hoạt động tích cực của cảm giác, tâm trí người đọc nhằm
biến văn bản thành thế giới nghệ thuật trong tâm trí mình.
1.2.2. Tính chất tiếp nhận văn học
- Tiếp nhận văn học thực chất là một quá trình giao tiếp (tác giả và người tiếp nhận,
người nói và người nghe, người bày tỏ và người chia sẻ, cảm thông).
- Tính chất cá thể hóa, tính chủ động, tích cực của người tiếp nhận: Các yếu tố
thuộc về cá nhân có vai vai trò quan trọng: năng lực, thị hiếu, sở thích, lứa tuổi, trình
độ học vấn, kinh nghiệm sống,…Tính khuynh hướng trong tư tưởng, tình cảm, trong
thị hiếu thẩm mĩ làm cho sự tiếp nhận mang đậm nét cá nhân. Chính sự chủ động,
tích cực của người tiếp nhận đã làm tăng thêm sức sống cho tác phẩm.
- Tính đa dạng, không thống nhất: Cảm thụ, đánh giá của công chúng về một tác
quan tâm cũng như chiều sâu nhận thức của nhà văn đối với cuộc sống.
- Một văn bản có thể có nhiều chủ đề. Tầm quan trọng của chủ đề không phụ thuộc
vào khuôn khổ văn bản, cũng như không phụ thuộc vào việc chọn đề tài. Có những
văn bản rất ngắn, đề tài lại rất hẹp nhưng chủ đề đặt ra lại hết sức lớn lao (chẳng hạn
bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương)
2.1.3. Cảm hứng nghệ thuật
Cảm hứng nghệ thuật là nội dung tình cảm chủ đạo của văn bản. Những trạng thái
tâm hồn, những cảm xúc được thể hiện đậm đà, nhuần nhuyễn trong văn bản sẽ
truyền cảm và hấp dẫn người đọc. Qua cảm hứng nghệ thuật, người đọc cảm nhận
được tư tưởng, tình cảm của tác giả nêu trong văn bản.
2.1.4. Tư tưởng
Tư tưởng của văn bản là sự lí giải đối với chủ đề đã nêu lên, là nhận thức của tác
giả muốn trao đổi, nhắn gửi, đối thoại với người đọc. Tư tưởng là linh hồn của văn
bản văn học.
2.2. Các khái niệm thuộc về hình thức văn bản văn học
2.2.1. Ngôn từ
- Ngôn từ là yếu tố đầu tiên, là vật liệu, công cụ, lớp vỏ đầu tiên của tác phẩm văn
học.
- Ngôn từ hiện diện trong từ ngữ, câu đoạn, hình ảnh, giọng điệu của văn bản.
- Được nhà văn chọn lọc hàm súc, đa nghĩa... mang dấu ấn của tác giả.
2.2.2. Kết cấu
- Là sự sắp xếp tổ chức các thành tố của văn bản thành một đơn vị thống nhất chặt
chẽ, hoàn chỉnh, có ý nghĩa.
Có nhiều cách kết cấu: theo thời gian; không gian; đầu, cuối tương ứng; mở theo
dòng suy nghĩ; tâm lí; theo sự việc;... hàm chứa dụng ý của tác giả sao cho phù hợp
với nội dung văn bản
2.2.3. Thể loại
- Thể loại là những quy tắc tổ chức hình thức văn bản phù hợp với nội dung văn
mà thành phương trời của nhiều người, tác phẩm từ đó trường tồn mãi với thời
gian.
3.2.4. Tính biểu cảm.
- Nghệ thuật nói bằng thứ tiếng duy nhất: thứ tiếng của cảm xúc. Bản chất người
nghệ sĩ là giàu tình cảm và nhạy bén trước cuộc đời. Do đó, ngôn từ văn học mang
tính biểu cảm. Nó biểu hiện ở nhiều dạng thức khác nhau : gián tiếp hay trực tiếp, có
hình ảnh hay chỉ là thuần túy, rõ nhất là khi nhấn mạnh những cảm xúc nội tâm.
- Hình tượng nghệ thuật là phương thức giao tiếp đặc biệt giữa nhà văn và độc giả.
Hình tượng là thế giới sống do nhà văn tạo ra bằng sức gợi ngôn từ. Gọi là hình
tượng vì một mặt, nó cũng sống động và hấp dẫn y như thật, nhưng mặc khác nó chỉ
tồn tại trong trí tưởng tượng con người, nó không phải là sự thật trăm phần trăm.
Nhưng, thật sai lầm nếu chỉ quan niệm hình tượng nghệ thuật chỉ là phản quang đơn
thuần của đời sống. Hình tượng, một mặt nó vừa mang tính khách quan, mặt khác
vừa mang tính chủ quan của nghệ sĩ.
3.3. Tính “phi vật thể” của hình tượng văn học.
- Âm nhạc dùng âm thanh, hội họa dùng đường nét, điêu khắc dùng mảng khối để
xây dựng hình tượng. Những chất liệu đó đều mang tính “vật chất”, tức có thể nhìn,
nghe, cảm nhận được bằng giác quan, nó khác với ngôn từ của văn học. Ngôn từ tồn
tại trong trí óc, không thể sờ, thấy hay cảm nhận bằng những cách thông thường, mà
buộc độc giả phải thâm nhập, cảm nhận và tưởng tượng như mình đang sống chung
với hình tượng. Độc giả buộc phải nhập cuộc, đau nỗi đau của người trong cuộc thì
mới có thể cảm nhận rõ những gì mà nhà văn viết ra.
- Nhờ dùng chất liệu ngôn từ mà bức tranh đời sống không bị hạn chế về không gian,
thời gian. Những gì tinh vi, mong manh, mơ hồ, ngay cả tâm trạng sâu thẳm của con
người đều có thể mô tả trực quan, sinh động bằng từ ngữ.
4. Phong cách văn học
4.1. Khái niệm.
- Phong cách văn học là khái niệm dùng để chỉ tính độc đáo có ý nghĩa thẩm mĩ của
5.1. Thơ.
5.1.1. Quan niệm về thơ
Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng,
những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp
điệu (Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG, H, 1999).
5.1.2. Một số cách phân loại thơ
Lâu nay giới nghiên cứu đã đưa ra nhiều cách phân loại thơ. Cụ thể:
- Theo nội dung biểu hiện có thơ trữ tình (đi vào tâm tư tình cảm, những chiêm
nghiệm của con người về cuộc đời, ví dụ như bài Tự tình của Hồ Xuân Hương), thơ
tự sự (cảm nghĩ vận động theo mạch kể chuyện, ví dụ như bài Hầu Trời của Tản Đà),
thơ trào phúng (phê phán, phủ nhận cái xấu theo lối mỉa mai, đùa cợt, ví dụ như bài
Vịnh Khoa thi Hương của Tú Xương).
- Theo cách thức tổ chức bài thơ có thơ cách luật (viết theo luật đã định trước, ví dụ
các loại thơ Đường, lục bát, song thất lục bát,…), thơ tự do (không theo niêm luật có
sẵn), thơ văn xuôi (câu thơ giống như câu văn xuôi, nhưng giàu nhịp điệu hơn).
- Ở Việt Nam nói riêng và phương Đông nói chung, một số nhà nghiên cứu còn dựa
vào thời gian xuất hiện để chia thơ thành các loại:
+ Thơ trữ tình dân gian: Ca dao - những sáng tác trữ tình dân gian, diễn tả đời sống
nội tâm của con người. Ca dao không mang dấu ấn cá nhân tác giả như thơ trữ tình
(của văn học viết). Trong ca dao, những tình cảm, tâm trạng của các kiểu nhân vật
trữ tình và cách thể hiện thế giới nội tâm của các kiểu nhân vật này đều mang tính
chất chung, phù hợp với lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp,… Bất cứ ai, nếu thấy ca
dao phù hợp, đều có thể sử dụng, xem đó là tiếng lòng mình. Vì thế, ca dao được coi
là" thơ của vạn nhà", là tấm gương soi của tâm hồn và đời sống dân tộc. Tuy nhiên,
trong cái chung đó mỗi bài ca dao lại có nét riêng độc đáo.
+ Thơ trữ tình trung đại: do đặc điểm hệ tư tưởng thời đại mà thơ ở thời đại này
thường nặng tính tượng trưng, ước lệ, tính quy phạm và tính phi ngã. Chủ thể trữ
tình trong thơ trung đại thường là cái tôi đại chúng, cái tôi “siêu cá thể”. Nội dung
- Thơ tuy biểu hiện những cảm xúc, tâm sự riêng tư, nhưng những tác phẩm thơ
chân chính bao giờ cũng mang ý nghĩa khái quát về con người, về cuộc đời, về nhân
loại, đó là cầu nối dẫn đến sự đồng cảm giữa người với người trên khắp thế gian này.
- Thơ thường không trực tiếp kể về sự kiện, nhưng bao giờ cũng có ít nhất một sự
kiện làm nảy sinh rung động thẩm mĩ mãnh liệt trong tâm hồn nhà thơ mà văn bản
thơ là sự thể hiện của niềm rung động ấy.
- Thơ thường có dung lượng câu chữ ngắn hơn các thể loại khác (tự sự, kịch). Hệ
quả là nhà thơ biểu hiện cảm xúc của mình một cách tập trung hơn thông qua hình
tượng thơ, đặc biệt thông qua ngôn ngữ nghệ thuật, qua dòng thơ, qua vần điệu, tiết
tấu... Nhiều khi, cảm xúc vượt ra ngoài cái vỏ chật hẹp của ngôn từ, cho nên mới có
chuyện “ý tại ngôn ngoại”. Do đó, thơ có thể tạo điều kiện cho người đọc thực hiện
vai trò “đồng sáng tạo” để phát hiện đời sống, khiến người đọc phải suy nghĩ, trăn
trở để tìm kiếm ý đồ nghệ thuật của tác giả cũng như những điểm đặc sắc trong tư
duy nghệ thuật của mỗi nhà thơ.
- Thơ chú trọng đến cái đẹp, phần thi vị của tâm hồn con người và cuộc sống khách
quan. Vẻ đẹp và tính chất gợi cảm, truyền cảm của thơ có được còn do ngôn ngữ thơ
cô đọng, hàm súc, giàu hình ảnh và nhạc điệu. Sự phân dòng, và hiệp vần của lời
thơ, cách ngắt nhịp, sử dụng thanh điệu…làm tăng sức âm vang và lan tỏa, thấm sâu
của ý thơ.
- Về cấu trúc, mỗi bài thơ là một cấu trúc ngôn ngữ đặc biệt. Sự sắp xếp các dòng
(câu) thơ, khổ thơ, đoạn thơ làm nên một hình thức có tính tạo hình. Đồng thời, sự
hiệp vần, xen phối bằng trắc, cách ngắt nhịp vừa thống nhất vừa biến hóa tạo nên
tính nhạc điệu. Hình thức ấy làm nên vẻ đẹp nhịp nhàng, trầm bổng, luyến láy của
văn bản thơ. Ngôn ngữ thơ chủ yếu là ngôn ngữ của nhân vật trữ tình, là ngôn ngữ
hình ảnh, biểu tượng. Ý nghĩa mà văn bản thơ muốn biểu đạt thường không được
thông báo trực tiếp, đầy đủ qua lời thơ, mà do tứ thơ, giọng điệu, hình ảnh, biểu
tượng thơ gợi lên. Do đó ngôn ngữ thơ thiên về khơi gợi, giữa các câu thơ có nhiều
khoảng trống, những chỗ không liên tục gợi ra nhiều nghĩa, đòi hỏi người đọc phải
sự kiện được miêu tả và kể lại bởi một người nào đó.
- Truyện thường có cốt truyện, nhân vật, tình huống được miêu tả chi tiết, sống
động gắn với hoàn cảnh.
- Phạm vi miêu tả không bị hạn chế bởi thời gian và không gian.
- Ngôn ngữ truyện có lời người kể chuyện, lời nhân vật… Ngôn ngữ linh hoạt gần
với đời sống.
5.2.4. Yêu cầu về đọc truyện.
- Tìm hiểu bối cảnh xã hội, hoàn cảnh sáng tác… để có cơ sở cảm nhận đúng nội
dung của truyện.
- Phân tích diễn biến cốt truyện qua các phần mở đầu, vận động, kết thúc, với các
tình tiết, sự kiện, biến cố cụ thể...
- Phân tích nhân vật: ngoại hình, tính cách, ngôn ngữ…
- Xác định vấn đề của truyện đặt ra, ý nghĩa tư tưởng, giá trị của truyện trên các
phương diện: nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ.
5.3. Kịch.
5.3.1. Khái niệm:
Kịch là một loại hình nghệ thuật tổng hợp,trong đó đối tượng mô tả của kịch là
những xung đột trong đời sống.
5.3.2. Phân loại:
- Xét theo nội dung và ý nghĩa của xung đột: bi kịch, hài kịch, chính kịch.
- Xét theo hình thức ngôn ngữ trình diễn: kịch thơ, kịch nói, ca kịch.
5.3.3. Đặc trưng của kịch
- Đối tượng phản ánh : những mâu thuẫn, xung đột trong đời sống xã hội và con
người => xung đột kịch.
- Xung đột kịch được cụ thể hóa bằng hành động kịch, hành động kịch được thực
hiện bởi các nhân vật kịch.
+ Chỉ ra nguyên nhân gây ra đau khổ cho con người.
+ Miêu tả tinh tế vẻ đẹp tiềm ẩn trong con người.
Ở mỗi một tác phẩm cụ thể, giá trị hiện thực được biểu hiện đa dạng. Cùng phản
ánh tình cảnh khốn quẫn của người nông dân Việt Nam trước cách mạng, Ngô Tất
Tố miêu tả nỗi chật vật về vật chất của chị Dậu vì nạn sưu cao thuế nặng, một cổ
nhiều tròng, Nguyễn Công Hoan phơi bày chân thực sự cùng đường tuyệt lộ của
người nông dân (Bước đường cùng), Nam Cao lại đi vào mảng hiện thực sâu kín
nhất, tăm tối nhất – địa hạt tâm lí để lột trần bi kịch bị tha hoá, nỗi đau tinh thần
khắc khoải của những con người dưới đáy của xã hội – Chí Phèo.
- Vai trò:
+ Thể hiện cái nhìn hiện thực sâu sắc hay hời hợt của nhà văn.
+ Dấu hiệu của một tác phẩm có giá trị.
6.2. Giá trị nhân đạo
- Là gì:
+ Hạt nhân: lòng yêu thương con người.
+ Đối tượng: thường là nỗi khổ.
- Biểu hiện:
+ Cảm thông với số phận đau khổ của những con người nhỏ bé, bất hạnh.
+ Tố cáo các thế lực gây ra đau khổ cho con người.
+ Phát hiện, khám phá và ngợi ca vẻ đẹp tiềm ẩn trong những con người bất hạnh.
+ Đồng tình với những ước mơ và khát vọng chính đáng của con người.
Ở mỗi tác phẩm khác nhau, những khía cạnh có sự biến đổi phong phú, linh hoạt.
Chẳng hạn, cùng viết về người phụ nữ với cái nhìn trân trọng, yêu thương sâu sắc,
Ngô Tất Tố khám phá ở Chị Dậu vẻ đẹp truyền thống, thuỷ chung, không tì vết; Kim
Lân phát hiện ra nét nữ tính và khát vọng hạnh phúc bất diệt trong tâm hồn người vợ
nhặt, còn Tô Hoài thì khơi tìm sức sống tiềm tàng, mãnh liệt nơi cô gái vùng cao Mị…
- Vai trò:
+ Thể hiện tầm vóc tư tưởng của nhà văn
+ Điển hình: sự kết hợp giữa cái riêng sắc nét và cái chung mang tính khái quát cao.
+ Nhân vật điển hình là nhân vật phải mang được những nét chung, đặc trưng, khái
quát nhất của thời đại nhân vật ấy sống nhưng đồng thời cũng phải mang những đặc
điểm tính cách, ngoại hình, suy nghĩ chân thực nhất, riêng nhất không thể trộn lẫn
với bất cứ ai để ghi lại dấu ấn riêng của mình trong mọi thời đại.
- Các phương diện biểu hiện tính điển hình: tính cách, hoàn cảnh,...
+ Tính cách điển hình:
Tính cách là những đặc điểm tâm lí tương đối ổn định nói lên cốt cách và phẩm chất
của nhân vật. Vì tính cách là cốt cách, phẩm chất của nhân vật cho nên tính cách còn
dùng để chỉ nhân vật.
Tính cách điển hình là tính cách có sự thống nhất sâu sắc giữa tính chung và tính
riêng (tức là giữa cái khái quát và cái cụ thể).
+ Hoàn cảnh điển hình.
Hoàn cảnh là môi trường hoạt động của nhân vật, là phạm vi hiện thực khách quan
tác động đến quá trình hoạt động của nhân vật. Con người tồn tại và phát triển trong
những điều kiện tự nhiên và xã hội nhất định. Môi trường này chính là hoàn cảnh
của con người. Môi trường hoạt động chủ yếu của con người là môi trường xã hội.
Cho nên, nội dung cơ bản của hoàn cảnh : quan hệ xã hội. Trong xã hội có giai cấp,
quan hệ xã hội là quan hệ giai cấp.
Hoàn cảnh điển hình là hoàn cảnh của các nhân vật được miêu tả trong tác phẩm,
vừa có tính chất tiêu biểu và độc đáo, thể hiện được những tương quan bản chất của
đời sống trong những mối liên hệ phát triển biện chứng của chúng với nhau.
Không có người nào là không tồn tại trong một hoàn cảnh. Hoàn cảnh, vì vậy, là
việc làm tất yếu để từ đó nhà văn tạo nên tính cách trong quá trình phản ánh. Nhưng
phản ánh nghệ thuật không phải là sự sao chép những cảnh ngộ tầm thường mà sự
phân tích, phát hiện, thể hiện nội dung chủ yếu, mâu thuẫn cơ bản của những tương
quan xã hội.
động mà là việc làm bật lên một trạng thái của đời sống hoặc của tâm hồn con người.
6.7. Hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ.