PHÒNG GD&ĐT TAM DƯƠNG
TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỒNG TĨNH B
=====***=====
BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên sáng kiến: Một số biện pháp rèn kĩ năng đổi đơn vị đo đại lượng
cho học sinh lớp 5 trong trường tiểu học
Tác giả sáng kiến: Nguyễn Mạnh Tuân
Đơn vị công tác: Trường TH Đồng Tĩnh B – Tam Dương – Vĩnh Phúc
Số điện thoại: 0988 669 165
E-mail: [email protected]
Vĩnh Phúc, năm 2020
PHÒNG GD&ĐT TAM DƯƠNG
TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỒNG TĨNH B
=====***=====
BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên sáng kiến: Một số biện pháp rèn kĩ năng đổi đơn vị đo đại lượng
cho học sinh lớp 5 trong trường tiểu học
Vĩnh Phúc, năm 2020
BÁO CÁO KẾT QUẢ
đến hầu hết các đại lượng cơ bản mà học sinh thường gặp trong đời sống thực tế
như độ dài, diện tích, thể tích, khối lượng, dung tích, thời gian, tiền tệ... Các đại
lượng này đều là những đại lượng đo được.
Đối với nội dung giảng dạy về đo đại lượng, các em đã được làm quen từ
lớp 1 và hoàn chỉnh ở lớp 5. Các bài tập về chuyển đổi đơn vị đo đại lượng mang
tính khái quát cao, nó là một thuộc tính trừu tượng của các sự vật và hiện tượng.
Đó là một trong những bài tập có tác dụng rèn luyện tư duy tốt. Song đối với lứa
tuổi tiểu học, hoạt động nhận thức chủ yếu dựa vào hình dạng bên ngoài, chưa
nhận thức rõ thuộc tính đặc trưng của sự vật. Do đó học sinh rất khó khăn trong
việc nhận thức đại lượng.
Thực tế trong quá trình giảng dạy chuyển đổi các đơn vị đo đại lượng tôi
thấy có đầy đủ các dạng: đổi từ đơn vị nhỏ sang đơn vị lớn và ngược lại; đổi từ
danh số đơn sang danh số phức và ngược lại;... Điều đó khiến học sinh lúng túng,
hạn chế kỹ năng chuyển đổi, dẫn đến thao tác tính toán chưa nhanh, làm chậm quá
trình giải các dạng toán lời văn có nội dung hình học có trong chương trình. Do đó
kết quả học tập môn toán của học sinh chưa cao. Mặt khác, vì kỹ năng đổi đơn vị
đo đại lượng còn hạn chế nên học sinh khó hình dung kích thước, hình dạng của
các biểu tượng hình học ngoài thực tế, áp dụng tính toán chưa linh hoạt.
Mặt khác do trình độ học sinh vùng nông thôn, do điều kiện gia đình còn khó
khăn nên chưa quan tâm đúng mức đến việc học của con cái. Mặt khác, một số
giáo viên ít nghiên cứu tài liệu để tìm ra phương pháp dạy học tốt nhất cho học
sinh. Việc vận dụng phương pháp dạy học mới còn hạn chế. Giáo viên còn nặng về
việc cung cấp kiến thức lí thuyết giúp học sinh vận dụng làm các bài tập trong sách
giáo khoa được là tốt rồi, khi dạy lại ít liên hệ thực tế nên học sinh khó hiểu và khó
vận dụng làm bài tập cũng như vận dụng vào thực tiễn cuộc sống.
Vì vậy, để góp phần nâng cao chất lượng dạy học các dạng toán về đổi đơn
vị đo đại lượng, tôi đã nghiên cứu và chọn sáng kiến: “Một số biện pháp rèn kĩ
năng đổi đơn vị đo đại lượng cho học sinh lớp 5 trong trường tiểu học".
- Nhiều em gặp khó khăn khi đổi số đo đại lượng từ danh số đơn sang danh
số phức và ngược lại.
* Kết quả khảo sát học sinh khối 5 trường tiểu học Đồng Tĩnh B, ngày 20
tháng 9 năm 2019 (Năm học 2019-2020)
TSHS
98
Nêu đúng
tên các đơn
vị đo đại
lượng
SL
63
%
64.3
Thuộc các Hiểu
và
bảng đơn đổi được
vị đo đại các đơn vị
lượng đã đo
đại
học
lượng
SL
60
b) Về phía giáo viên
- Trong giảng dạy hằng ngày, nhiều giáo viên chỉ dạy học sinh theo những gì
sách giáo khoa và sách giáo viên hướng dẫn, chưa dùng kinh nghiệm bản thân để
hướng dẫn học sinh cách học sao cho hiệu quả nhất.
- Chưa phân thành các dạng bài tập và hướng dẫn kĩ về cách đổi của từng
dạng để học sinh nắm rõ.
- Vẫn có những giáo viên chưa nắm vững nội dung chương trình về đại
lượng và đo đại lượng trong từng khối lớp ở cấp tiểu học nên đôi khi hướng dẫn
các em những cách đổi vượt quá kiến thức các em đã học làm cho các em thêm
khó hiểu.
- Một số giáo viên còn dạy theo lối mòn, hình thức tổ chức chưa phong phú,
trong từng tiết dạy chưa đầu tư kĩ, thiếu tích cực trong việc sử dụng đồ dùng dạy
học hoặc trong quá trình dạy chưa phân hóa theo từng đối tượng học sinh. Dẫn đến
kết quả là nhiều học sinh tỏ ra chán nản, lười học hoặc không thích học về đo đại
lượng.
Với thực trạng dạy học trên, tôi đã suy nghĩ, tìm tòi nghiên cứu và mạnh dạn
đưa ra một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 5 trong trường tôi và một số
trường lân cận trong huyện đổi các đơn vị đo đại lượng đạt hiệu quả cao hơn.
Sau khi hoàn thành quá trình nghiên cứu, sáng kiến bước đầu được áp dụng
vào quá trình dạy học toán lớp 5 tại năm trường tiểu học trong huyện là tiểu học
Đồng Tĩnh B, tiểu học Đồng Tĩnh A, tiểu học Hoàng Hoa, tiểu học Hợp Hòa, tiểu
học Hướng Đạo sau đó sẽ nhân rộng ra toàn huyện Tam Dương.
7.1.2. Các giải pháp
7.1.2.1. Hướng dẫn học sinh thuộc tên và mối quan hệ giữa các đơn vị
đo trong bảng đơn vị đo độ dài, khối lượng và diện tích
Trong thực tế dạy học, tôi nhận thấy rằng việc học tập về mạch kiến thức đại
lượng và đo đại lượng là một vấn đề khó tiếp thu trong quá trình học sinh học
Toán. Các đơn vị đo đại lượng phần lớn mang tính chất quốc tế, tên của các đơn vị
1hm
=10dam
1dam
=10m
1m
=10dm
1
= 10 km
1
= 10 hm
1
= 10 dam
dm
cm
mm
1dm
=10cm
1cm
=10m
1 tạ
= 10 yến
1 yến
= 10kg
1kg
= 10hg
1
= 10 tấn
1
= 10 tạ
1
= 10 yến
hg
dag
g
1hg
= 10 dag
1dag
= 10g
dam2
m2
dm2
1dam2
=100m2
= hm2
1m2
=100dm2
=dam2
cm2
mm2
1dm2
1cm2
=100cm2 =100m2
= m2 = dm2
1mm2
= cm2
Từ mối quan hệ giữa các đại lượng. HS rút ra được:
Trong hai đơn vị đo diện tích liền nhau:
- Đơn vị lớn gấp 100 lần đơn vị bé.
- Đơn vị bé bằng đơn vị lớn.
: 10
dm
: 10
x 10
x 10
cm
: 10
mm
: 10
Từ sơ đồ trên, học sinh có thể dễ dàng tìm ra mối quan hệ giữa các đơn vị đo
không liền nhau bằng cách nhân dần với 10 (đổi từ đơn vị đo lớn sang đơn vị đo
1
bé) hoặc chia dần cho 10 hay nhân với 10 (đổi từ đơn vị đo bé sang đơn vị đo lớn).
Ví dụ: 5hm = ... m
Nhìn vào sơ đồ, học sinh có thể thấy từ héc-tô-mét đến mét cách đơn vị đềca-mét, tức là có 2 khoảng nhân với 10 nên học sinh có thể đổi dễ dàng
5hm = 5 x 10 dam = 5 x 10 x 10 m = 500m
- Mối quan hệ giữa các đơn vị đo khối lượng liền kề:
x 10
x 10
Tấn
Tạ
x100
x100
x100
x100
km2
hm2
dam2
m2
dm2
x100
cm2
mm2
: 100
: 100
: 100
: 100
: 100
: 100
Nhìn vào sơ đồ trên, học sinh hiểu được mối quan hệ giữa hai đơn vị đo diện
tích liền kề, đó là đơn vị lớn gấp 100 lần đơn vị bé và đơn vị bé bằng đơn vị lớn.
Đồng thời các em tìm ra được mối quan hệ giữa các đơn vị đo diện tích không liền
nhau bằng cách nhân dần với 100 (đổi từ đơn vị đo lớn sang đơn vị đo bé) hoặc
chia dần cho 100 hay nhân với (đổi từ đơn vị đo bé sang đơn vị đo lớn).
nhiều khó khăn vì chưa nắm được bản chất của từng bảng đơn vị đo, chưa khái
quát được điểm giống và khác nhau giữa các bảng đơn vị đo này nên còn hay nhầm
lẫn trong quá trình đổi đơn vị đo. Vì vậy, giáo viên cần phân hóa và chia các bảng đơn
vị đo thành từng nhóm dựa trên điểm giống hoặc khác nhau giữa chúng.
Với việc chia nhóm các dạng bài tập đổi đơn vị đo, giáo viên có thể khai thác kĩ
từng dạng và khái quát hóa cho học sinh để các em nắm được bản chất và quy luật
đổi, tránh được những sai sót trong làm bài.
Các bài tập đổi đơn vị đo đại lượng ở lớp 5 có thể chia thành 4 nhóm:
- Nhóm 1: Đổi đơn vị đo độ dài và đo khối lượng
- Nhóm 2: Đổi đơn vị đo diện tích
- Nhóm 3: Đổi đơn vị đo thể tích
- Nhóm 4: Đổi đơn vị đo thời gian
Trong mạch kiến thức về đo đại lượng, các bài tập liên quan đến đổi đơn vị
đo vẫn luôn là dạng bài khó gây lúng túng cho học sinh. Học sinh thường nhầm lẫn
giữa nhân với chia khi đổi từ đơn vị đo lớn ra đơn vị đo bé và ngược lại, cũng có
những em không làm được hoặc làm không đúng do không nắm được vị trí hay
mối quan hệ giữa hai đơn vị cần đổi.
Để học sinh không nhầm lẫn cách đổi giữa các dạng bài, trong quá trình
dạy, giáo viên gợi ý học sinh tìm ra cách làm của từng dạng, sau đó tổng hợp và
hướng dẫn cho học sinh, chẳng hạn:
- Đổi từ đơn vị lớn ra đơn vị bé: thường có các cách như: nhân, thêm chữ số
0, dịch dấu phẩy sang phải, điền chữ số vào các vị trí tương ứng, lập bảng,...
- Đổi từ đơn vị bé ra đơn vị lớn: thường có các cách như: chia, xóa chữ số 0,
dịch dấu phẩy sang trái, điền chữ số vào vào các vị trí tương ứng, lập bảng,...
a) Hướng dẫn học sinh đổi đơn vị đo độ dài và đơn vị đo khối lượng
Bảng đơn vị đo độ dài và bảng đơn vị đo khối lượng có những nét tương đồng
với nhau về mối quan hệ giữa các đơn vị đo liền kề (Hai đơn vị đo liền nhau gấp
hoặc kém nhau 10 lần). Vì vậy giáo viên nên đưa hai bảng đơn vị đo này vào một
kg
m
dm
hg
cm
dag
g
- Đổi từ đơn vị lớn sang đơn vị bé với danh số phức
Ví dụ: Điền số thích hợp vào chỗ chấm:
8m 5dm =... cm; 4kg 5g =... kg =... g;
7,086 m =... dm... mm
Đổi 8m 5dm =... cm
Giáo viên hướng dẫn theo 2 cách:
Cách 1: đổi 8m = 800cm và 5dm = 50cm sau đó cộng 800cm + 50cm = 850cm
Hoặc học sinh ghi 8 đọc là 8m ghi tiếp 5 rồi đọc 5dm và ghi chữ số 0 đọc là
0cm đến đơn vị cần đổi thì dừng lại và ghi tên đơn vị.
Đổi 7,086 m =... dm... mm
Học sinh nhẩm 7,086m = 7m + 8cm + 6mm = 70dm + 80 mm + 6mm =
70dm 86mm
Ta có: 7,086m = 70dm 86mm
Cách 2: Lập bảng đổi:
Kết quả đổi
Kết quả đổi khác
Đề bài
m
dm
708cm 6mm,
7086mm
Đổi: 4kg 5g =... g
Giáo viên hướng dẫn học sinh theo 2 cách:
Cách 1: 4kg = 4000g;
4kg 5g = 4000g + 5g = 4005g. Như vậy 4kg 5g = 4005g.
Sau khi học sinh đã hiểu được bản chất của phép đổi và thuộc thứ tự bảng
đơn vị đo từ lớn đến bé thì có thể suy luận ra phương pháp nhẩm. Học sinh vừa
viết vừa nhẩm: 4 (kg) 0 (hg) 0 (dag) 5 (g) để được: 4kg 5g = 4005g.
Cách 2: Lập bảng đổi:
Đề bài
kg
hg
dag
g
4kg 5g
4
0
phẩy vào kết quả nên giáo viên yêu cầu học sinh lập bảng với các bài tập đổi đơn
vị từ bé ra lớn.
Cách 2: Lập bảng:
Đề bài
tấn
tạ
yến
kg
hg
da
g
Kết quả đổi
6 kg
0
0
0
6
trong tiết học để tiết kiệm tối đa số bảng cần lập.
+ Xác định đúng yêu cầu bài tập cần đổi ra đơn vị nào.
Đối với bài tập đổi từ đơn vị bé ra đơn vị lớn thì chữ số hàng đơn vị của nó
luôn gắn với tên đơn vị đó trong bảng điền, sau đó cứ mỗi chữ số hàng tiếp theo gắn
với 1 đơn vị liền trước nó, nếu thừa chữ số thì viết tiếp lên hàng trên cao hơn. Còn nếu
là hàng cao nhất thì còn thừa bao nhiêu chữ số ta viết hết vào đó.
+ Điền dấu phẩy vào sau đơn vị cần đổi rồi ghi kết quả vào bài làm.
- Đổi từ đơn vị bé sang đơn vị lớn với danh số phức
Ví dụ:
a. 63dm 5mm =...m;
63dm 5mm = 6,3m + 0,005m = 6,305m
* Cách 1: Nhẩm bảng đơn vị từ bé đến lớn:
63dm 5mm: Học sinh vừa nhẩm vừa viết từ phải sang trái.
5 (mm) 0 (cm) 3 (dm) 6 (m) rồi đánh dấu phẩy sau chữ số chỉ đơn vị mét, ta
được kết quả: 63dm 5mm = 6,305m.
b. 2035kg =... tấn... kg: học sinh nhẩm 5 (kg) 3 (yến) 0 (tạ) 2 (tấn). Điền 2
vào danh số tấn, tất cả các chữ số còn lại viết đúng theo thứ tự vào kg ta được:
2035kg = 2 tấn 035kg = 2 tấn 35kg. Đây là bài tập ngược của ví dụ a, muốn làm tốt
bài tập này đòi hỏi học sinh phải thuộc kĩ bảng đơn vị đo cần đổi và xác định đúng
giá trị tương ứng của từng đơn vị đo.
Cách 2: Lập bảng:
Thực ra bản chất, ý nghĩa của bài toán là như nhau song cách thể hiện khác
nhau. Cách này học sinh ít nhầm lẫn hơn bởi các em đã viết các đơn vị đo theo thứ
tự, chỉ cần một lần viết đã áp dụng cho nhiều bài đổi và kết quả hiển thị rõ ràng
hơn phương pháp nhẩm ở trên.
Đề bài
m
tạ
yến
kg
Kết quả đổi
Kết quả đổi khác
2035 kg
2
0
3
5
2 tấn 35kg
20 tạ 35kg; 2,035
tấn; 20,35 tạ;
203,5 yến...
Khi đổi danh số đơn sang danh số phức như trên ta phân tích các chữ số vào các
đơn vị tương ứng theo thứ tự bảng đơn vị đo đại lượng từ phải sang trái rồi căn cứ vào
yêu cầu của đề bài mà lựa chọn các giá trị tương ứng với các đơn vị cần đổi.
m2
16m28dm2
16
dm2 cm2 mm2
08
00
00
Kết quả đổi
16,08m2
Kết quả đổi khác
1608dm2;
160800cm2;16080000mm2
3,4725m2
3
47
25
00 347dm225cm2 347,25dm2; 34725 cm2...
Lưu ý khi lập bảng:
- Có thể lập cả bảng đơn vị đo diện tích hoặc tuỳ theo đơn vị đo trong bài tập
lớn nhất là gì, nhỏ nhất là gì mà chọn số cột dọc cho phù hợp.
- Giá trị của đơn vị theo đề bài phải viết đúng cột.
- Trong bảng phân tích mỗi cột phải đủ 2 chữ số.
Ví dụ 2:
a. 42705 cm2 =... m2... dm2... cm2 ; b. 5 cm2 7mm2 =... dm2
Cách làm bài tập này tương tự như bài tập ở phần trên nhưng để thuận lợi
cho việc đổi nhiều bài tập ta nên lập bảng.
Đề bài
m2
dm2
cm2
42075cm2
4
27
05
0
05
5cm27mm2
mm2
a. 8m3 75dm3 =... dm3
Ta có: 8m3 75dm3 = 8000dm3 + 75 dm3 = 8075dm3
Vậy 8m3 75dm3 = 8075 dm3
b. 6.9784m3 =... m3... dm3... cm3
Học sinh nhẩm 6 (m3) 978 (dm3) 400 (cm3)
Ta được 6,9784m3 = 6m3 978dm3 400cm3
Lưu ý học sinh tránh nhầm thêm chữ số 0 trước chữ số 4 của đơn vị đo cm 3.
Để phát huy trí lực học sinh phần này nên để học sinh nhận thức tốt tự giải thích
(chữ số 4 có giá trị là 0,0004m3 = 0,0004 x 1000000cm3 = 400 cm3).
Cách 2: Lập bảng
Đề bài
m3
dm3
cm3
Kết quả đổi
8m3 75dm3
8
075
000
* Đổi từ đơn vị lớn sang đơn vị bé
Đây là đơn vị đo đại lượng mà học sinh hay gặp nhất trong thực tế cuộc sống
hằng ngày. Vì quan hệ giữa các đơn vị của chúng không đồng nhất nên khi đổi đơn
vị thời gian chỉ có cách duy nhất là thuộc mối quan hệ của các đơn vị đo thời gian
trong bảng đơn vị đo thời gian rồi đổi lần lượt từng đơn vị đo bằng cách suy luận
và tính toán.
Bảng đơn vị đo thời gian:
1 thế kỉ = 100 năm
1 năm = 12 tháng
1 năm = 365 ngày
1 năm nhuận = 366 ngày
Cứ 4 năm lại có 1 năm nhuận (năm có 2
chữ số tận cùng chia hết cho 4)
1 tuần lễ = 7 ngày
1 ngày = 24 giờ
1 giờ = 60 phút
1 phút = 60 giây
Tháng một, tháng ba, tháng năm, tháng bảy, tháng tám, tháng mười, tháng
mười hai có 31 ngày.
Tháng tư, tháng sáu, tháng chín, tháng mười một có 30 ngày.
Tháng hai có 28 ngày (vào năm nhuận có 29 ngày)
Đổi đơn vị đo thời gian là sự kết hợp tổng hoà các kiến thức về số tự nhiên,
phân số, số thập phân và kỹ năng tính toán.
Ví dụ: 2 năm 3 tháng = 12 tháng 2 + 3 tháng = 27 tháng
2 giờ 3 phút = 60 phút 2 + 3 phút = 123 phút
5 thế kỉ = 100 năm x 5 = 500 năm
học Toán. Điều đó đòi hỏi giáo viên phải luôn sáng tạo, tìm ra những cách học
mới, phương pháp mới để kích thích hứng thú cho học sinh. Một trong các phương
pháp hữu hiệu nhất đó là tổ chức trò chơi trong giờ Toán. Trong các giờ học luyện
tập, ôn tập, giáo viên có thể tổ chức cho các em làm bài tập đổi đơn vị đo đại lượng
dưới hình thức trò chơi nhằm gây hứng thu cho học sinh tham gia và nâng cao hiệu
quả bài làm của học sinh.
Ví dụ 1: Trò chơi: Ô chữ bí mật
Trò chơi được thực hiện trong khoảng 10 phút.
- Giáo viên chia lớp thành 2 đội và cho học sinh cả lớp chơi.
- Nêu luật chơi: Học sinh mỗi đội sẽ chơi theo thứ tự, mỗi lượt chơi, mỗi đội
được giải một ô chữ để tìm ra chữ cái bí mật của ô chữ đó. Đội nào không giải
được thì đội còn lại có thể giành quyền trả lời. Trong quá trình giải ô chữ, nếu đội
nào tìm ra từ khóa thì thắng cuộc.
- Cho học sinh chơi
- Nhận xét trò chơi
Nội dung như sau:
Em hãy giải các ô chữ sau rồi ghép các chữ cái trên mỗi kết quả lại với nhau
để tìm câu trả lời cho câu hỏi:
Chủ tịch nước đầu tiên của
Việt Nam là ai?
H
M
Ô
Ô
10hm=...m
Kết quả ô chữ bí mật: Chủ tịch nước đầu tiên của nước ta là Hồ Chí Minh
Với trò chơi này, học sinh không những phải nhanh mắt, nhanh trí mà còn
phải có khả năng khái quát để tìm câu trả lời đúng. Thực hiện được trò chơi này
thường xuyên sẽ vừa giúp học sinh củng cố kiến thức Toán vừa tăng cường hiểu
biết xã hội, lịch sử.
Ví dụ 2: Trò chơi: Ai nhanh, ai đúng!
Trò chơi được thực hiện trong khoảng 5-7 phút.
- Giáo viên cho học sinh thành lập hai đội, mỗi đội khoảng 6 em
- Nêu luật chơi, cử ban giám khảo
- Cho học sinh điểm danh và chơi trò chơi tiếp sức
- Nhận xét trò chơi
Nội dung như sau:
Đúng ghi Đ, sai ghi S vào ô trống:
1 giờ 15 phút = 1,15 giờ
222 phút = 3 giờ 42 phút
1m 2mm = 1,002m
100m2 = 1hm2
300006 m2 = 36km2 6m2
1hg 5g = 15 g
Lưu ý: Để tạo hiệu quả cho giờ học, học sinh vui nhưng không quên nhiệm
vụ học tập thì giáo viên không nên lạm dụng trò chơi, chỉ tổ chức trong thời gian
hợp lí, nhất là trong giờ ôn tập tránh để học sinh sa đà vào trò chơi hoặc cảm thấy
nhàm chán.
7.2. Về khả năng áp dụng của sáng kiến
Sau khi hoàn tất quá trình nghiên cứu, tôi đã tiến hành áp dụng thử nghiệm tại
khối 5 trường tiểu học Đồng Tĩnh B.
dưỡng về phương pháp dạy học toán của Phòng giáo dục, của trường... tổ chức
nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ phục vụ dạy và học Toán tốt hơn.
- Nhà trường phối hợp với các trường khác trong cụm tổ chức các buổi sinh
hoạt chuyên môn trao đổi kinh nghiệm dạy học giữa các giáo viên trong trường,
trong huyện nhằm tìm ra phương pháp tối ưu để nâng cao chất lượng dạy học toán.
- Giáo viên luôn tâm huyết với nghề, say sưa nghiên cứu tìm tòi, thường
xuyên bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, tích cực dự giờ, thăm lớp các đồng
nghiệp để học hỏi kinh nghiệm sau mỗi tiết dạy.
10. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
sáng kiến theo ý kiến của tác giả và theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham
gia áp dụng sang kiến lần đầu
10.1. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
sáng kiến theo ý kiến của tác giả
Tôi đã tiến hành dạy thực nghiệm ở khối lớp 5 trường tiểu học Đồng Tĩnh B
năm học 2019-2020. Lớp thực nghiệm là lớp 5B, tôi dạy các tiết Toán liên quan
đến đổi đơn vị đo đại lượng theo các biện pháp tôi nêu trên. Lớp đối chứng là lớp
5C, giáo viên dạy bình thường. Lớp đối chứng và lớp thực nghiệm được lựa chọn
theo nguyên tắc: cân bằng về số lượng, giới tính, thành phần dân tộc và nhận thức
của học sinh.
Bảng 1:Giới tính và thành phần dân tộc của học sinh
Lớp
5B
Học sinh các nhóm
TS
Nam
Nữ
31
14
T
H
C
15
16
0
13
18
0
T
17
16
NL - PC
Đ
14
15
C
0
0
- Về ý thức học tập: Học sinh ở hai lớp đều tích cực, chủ động.
- Về thành tích học tập của năm trước: Hai lớp đều tương đương nhau về điểm số
của tất cả các môn học.
Bài kiểm tra trước tác động là bài khảo sát năng lực nhận thức học sinh đầu
năm học do tổ chuyên môn ra chung cho cả khối lớp 5, tổ chuyên môn chấm chung.
Kết quả bài kiểm tra cho thấy điểm của hai lớp là tương đương, không có sự chênh
lệch quá mức.
4. Trên bản đồ tỷ lệ 1: 1000, đoạn thẳng AB được vẽ dài 12cm. Độ dài thật của
đoạn thẳng AB là:
A. 120 m
B. 1200 m
C. 12 000 m
D. 12 m
Câu 2. Tính:
a)
4
2 +7
b)
3
1- 5
3
4
c) 5 x 7
Câu 3. Tìm x :
a)
x
1 2
3 7
2
2
5km 37dam = … km
18000000 m2 = … km2
4 tấn 562kg =... tấn
0,08 tạ =... kg
7,268 m3 =... dm3
1 dm3 9 cm3 =... cm3
b.
2 năm 6 tháng =... tháng
2,5 ngày =... giờ
15 phút 42 giây =... phút
2 giờ 15 phút =... giờ
5 thế kỉ 8 năm =... năm
2000 năm =... thế kỉ
Bài 2. >
6kg 7g … 6,007 kg
7m3 5dm3 ... 7,05 m3