HỆ THỐNG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT Ở VIỆT NAM - Pdf 63

HỆ THỐNG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT Ở VIỆT NAM
5.1. CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA HỆ THỐNG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN
MẶT Ở VIỆT NAM
5.1.1. Mối quan hệ giữa lưu thông tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt:
Quá trình tái sản xuất mở rộng được tiến hành trong điều kiện còn tồn tại
nền sản xuất hàng hoá và tiền tệ đã cho thấy sự hình thành và phát triển các chuyển
tiền tệ là một tất yếu khách quan. Ðiều đó cũng có nghĩa là trong điều kiện có sự
tồn tại của tiền tệ và lưu thông tiền tệ không những là một tất yếu khách quan mà
còn là một sự cần thiết để phục vụ cho sự chu chuyển của sản phẩm xã hội để đảm
bảo cho quá trình tài ssản xuất được tiến hành bình thường
Chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế hàng hoá tồn tại dưới hai hình thức: chu
chuyển tiền mặt và chu chuyển không dùng tiền mặt (thanh toán không dùng tiền
mặt)
Ở nước ta chu chuyển tiền mặt được thực hiện bằng tiền đồng Ngân hàng
Việt Nam (VNÐ), ở đây tiền mặt vận động trong lưu thông thực hiện chức năng
phương tiện lưu thông va phương tiện thanh toán. Còn trong thanh toán không
dùng tiền mặt tiền chỉ thực hiện một chức năng: phương tiện thanh toán
Giữa thanh toán không dùng tiền mặt và thanh toán bằng tiền mặt – tức là
giữa hai hình thức chu chuyển tiền tệ có mối quan hệ mật thiết với nhau: giữa
chúng có mối liên hệ với nhau chặt chẽ và thường xuyên chuyển hoá lẫn nhau. Mối
quan hệ này bắt nguồn từ chỗ sự chu chuyển của của sản phẩm hàng hoá đòi hỏi
phải sử dụng tiền tệ trong các chức năng của nó để thực hiện các quan hệ kinh tế
phát sinh thường xuyên hàng ngày, đó là tất yếu – thì mặt khác đòi hỏi con người
phải sử dụng tiền trong các trường hợp thanh toán như thế nào cho hợp lý và tiện
lợi. Nghĩa là việc sử dụng tiền mặt hay không dùng tiền mặt (chuyển khoản) để
thực hiện các khoản thanh toán không phải do ý muốn chủ quan của chính phủ mà
do yêu cầu khách quan thanh toán đòi hỏi. Chẳng hạn một khoản thanh toán giữa
đơn vị A và đơn vị B – trong trường hợp họ đều có mở tài khoản tiền gửi tại ngân
hàng, thì tốt nhất là thanh toán bằng chuyển khoản – bởi vì nó tiện lợi hơn, tiết
kiệm lao động, chi phí ít hơn, an toàn hơn dùng tiền mặt. Ví dụ một khoản thanh
toán đến hàng trăm triệu đồng mà thanh toán bằng tiền mặt thì ngay việc đếm tiền,

+ Trong thanh toán không dùng tiền mặt, vai trò của ngân hàng rất to lớn –
vai trò của người tổ chức và thực hiện các khoản thanh toán. Ngân hàng xem như
người thứ ba không thể thiếu được trong thanh toán chuyển khoản. Bởi vì chỉ có
ngân hàng – người quản lý tài khoản tiền gửi của các đơn vị mới được phép trích
chuyển tiền trên tài khoản của các đơn vị, cá nhân. Với nghiệp vụ này, ngân hàng
trở thành một phòng thanh toán cho xã hội, thanh toán không dùng tiền mặt được
tổ chức và thực hiện tốt sẽ phát huy được tác dụng tích cực của nó
b– Tác dụng:
+ Trực tiếp thúc đẩy quá trình vận động của vật tư, hàng hoá trong nền kinh
tế, thông qua đó các mối quan hệ kinh tế lớn sẽ được giải quyết, nhờ vậy mà quá
trình sản xuất và lưu thông hàng hoá được bình thường
+ Nhờ tổ chức tốt công tác thanh toán, mà cho phép ngân hàng tập trung
ngày càng nhiều các khoản vốn tiền tệ trong nền kinh tế, làm tăng thêm nguồn vốn
tín dụng để đầu tư vào các quá trình tái sản xuất của xã hội, cũng chính nhờ đó mà
rút bớt một lượng tiền mặt trong lưu thông, tiết kiệm nhiều chi phí cho xã hội (chi
phí in ấn, bảo quản, vận chuển tiền) tạo điều kiện để làm tốt công tác quản lý tiền
tệ
+ Thông qua việc tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt hạn chế được
những thiệt hại, khắc phục và ngăn chặn được những tiêu cực có thể xãy ra trong
sản xuất kinh doanh của các đơn vị
5.2. Cơ sở pháp lý của hệ thống không dùng tiền mặt ở Việt Nam:
Nền tảng pháp lý của hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt là Luật các tổ
chức tín dụng, các Nghị định của Chính phủ về tổ chức thanh toán không dùng tiền
mặt và Quyết định của Thống đốc ngân hàng Nhà nước về thể lệ thanh toán không
dùng tiền mặt
5.3. Những qui định chung về thanh toán không dùng tiền mặt:
+ Các tổ chức kinh tế, cơ quan đoàn thể, cá nhân được quyền lựa chọn ngân
hàng để mở tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán. Các chủ tài khoản thực
hiện việc thanh toán phải theo những qui định của thể lệ thanh toán không dùng
tiền mặt hiện hành

mình để trả cho người thụ hưởng có tên ghi trên tờ séc hay cho chính người cầm
séc.
Như vậy séc là một chi phiếu, lập trên mẫu in sẵn do chủ tài khoản phát
hành giao trực tiếp cho người bán hàng để thanh tiền mua hàng hoá, nộp thuế, trả
nợ…
b– Những qui tắc chung trong thanh toán bằng séc:
Theo nghị định 159/NÐ-CP ngày 10/12/2003 của Chính Phủ về “Qui chế
phát hành và sử dụng séc”, thì một số quy định về sử dụng séc như sau:
+ Tất cả những tờ séc đều do ngân hàng nhà nước thiết kế mẫu thống nhất,
được in và ghi bằng tiếng Việt Nam, séc phục vụ cho khách nước ngoài được in
thêm tiếng Anh dưới tiếng Việt với cỡ chữ nhỏ hơn.
+ Ngân hàng chỉ bán séc trắng cho khách hàng sử dụng theo đúng mẫu séc
đã được duyệt và chỉ được bán séc cho khách hàng nào có mở tài khoản tại đơn vị
mình.
+ Người phát hành séc là chủ tài khoản hoặc người được chủ tài khoản uỷ
quyền (người ký phát ) chỉ được phép phát hành séc trong phạm vi số dư tài khoản
tiền gửi hoặc bảo chi. Nếu vi phạm sẽ bị phạt tiền hoặc bị đình chỉ phát hành séc
hoặc bị truy tố theo pháp luật.
+ Người được trả tiền là người mà người ký phát chỉ định có quyền hưởng
hoặc chuyển nhượng quyền hưởng đối với số tiền ghi trên tờ séc.
+ Người thụ hưởng là người cầm tờ séc mà tờ séc đó có tên người được
hưởng tiền là chính mình hoặc ghi cụm từ “trả cho người cầm séc” hoặc không ghi
tên người được trả tiền, hoặc đã được chuyển nhượng bằng ký hậu cho mình thông
qua dãy chữ ký chuyển nhượng liên tục.
+ Séc phải được viết bằng một thứ mực khó tẩy xoá, không dùng bút chì,
không dùng mực đỏ. Các yếu tố trên tờ séc phải ghi đầy đủ, rõ ràng. Cấm sửa chữa,
tẩy xoá trên tờ séc, các tờ séc viết hỏng phải gạch chéo, để nguyên không xé rời
khỏi cuống séc.
+ Số tiền ghi bằng số và bằng chữ phải khớp nhau, trường hợp có sai lệch
giữa số tiền bằng số và bằng chữ thì số tiền được thanh toán là số tiền nhỏ hơn, địa

+ Séc thanh toán giữa các khách hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại
các đơn vị thanh toán khác hệ thống ngân hàng nhưng chỉ áp dụng tại các đơn vị có
tham gia thanh toán bù trừ trên địa bàn tỉnh, thành phố.
5.4.2. Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi – chuyển tiền:
a– Khái niệm về uỷ nhiệm chi:
Uỷ nhiệm chi là lệnh chi do chủ tài khoản lập theo mẫu in sẵn để yêu cầu ngân
hàng nơi mình mở tài khoản tiền gửi trích một số tiền nhất định từ tài khoản tiền
gửi của mình để trả cho người thụ hưởng về tiền mua hàng hoá, dịch vụ… hoặc
chuyển vào tài khoản khác của chính mình
Với cách sử dụng thuận tiện, đơn giản, uỷ nhiệm chi được dùng để thanh
toán các khoản tiền mua vật tư, hàng hoá hoặc dùng để chuyển tiền một cách rộng
rãi và phổ biến trong cả nước, không phân biệt trong cùng hệ thống hoặc khác hệ
thống ngân hàng
b– Thủ tục lập chứng từ và thanh toán:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status