MỘT SỐ GIẢI PHÁP MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN
DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI
NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG
THÔN NAM HÀ NỘI
I. ĐỊNH HƯỚNG VỀ MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÍN DỤNG
ĐỐI VỚI CÁC DNVVN TẠI CHI NHÁNH NHNo NAM HÀ NỘI.
DNVVN trên địa bàn thành phố Hà Nội có vai trò rất quan trọng
trong việc phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội. Hiện nay khu
vực kinh tế DNVVN của Thành phố thu hút hơn 800 ngàn lao động, hàng
năm nộp ngân sách nhà nước gần 100 tỷ đồng. Đầu tư cho khối kinh tế này
phát triển cũng chính là phát huy nội lực, làm giàu từ mỗi cá thể, tiểu chủ.
DNVVN trên địa bàn Thành phố đang thay đổi theo hướng tích cực, những
khó khăn do cơ chế, chính sách chỉ là tạm thời khi các luật định đang từng
bước hoàn thiện và gần gũi với thực tế hơn, vai trò quan trọng của DNVVN
ngày càng được khẳng định, xã hội đang thay đổi cách nhìn với họ theo
hướng quan tâm hơn, tạo điều kiện hơn. Chính phủ đã có những biện pháp
cụ thể nhằm cải thiện môi trường hoạt động kinh doanh như: Cho ra đời
luật doanh nghiệp mới, khuyến khích thành lập quỹ bảo lãnh DNVVN vay
vốn... Tuy nhiên, DNVVN hiện nay đang gặp không ít khó khăn trong sản
xuất, kinh doanh như: do sức mua của thị trường giảm sút nên hàng hoá
tiêu thụ chậm; kỹ thuật, công nghệ lạc hậu, tốc độ tăng trưởng giảm. Nhưng
khó khăn nổi cộm nhất đối với họ hiện nay vẫn là thiếu vốn .
Công tác tín dụng Ngân hàng là một “kênh”rất quan trọng để cung
cấp vốn cho các doanh nghiệp. Thời gian qua chi nhánh NHNo Nam Hà
Nội đã có những tích cực trong vấn đề này, song phần vốn cung cấp cho
DNVVN thực sự chưa tương xứng với tiền năng, với tầm vóc và vai trò của
chi nhánh đối với nhu cầu. Năm 2002 tỷ lệ cho vay đối với các DNVVN
mới chỉ ở mứcthấp so với tổng dư nợ. Có thể nói rằng đây là một hạn chế
lớn trong công tác tín dụng tại chi nhánh trong thời gian qua. Để khắc phục
những mặt còn tồn tại, căn cứ vào chiến lược hoạt động kinh doanh của
NHNo Việt nam và mục tiêu phát triển kinh tế của Thành phố. Định hướng
các vấn đề như: Cơ chế chính sách và pháp luật của nhà nước, nghệ thuật
quản lý và điều hành của bản thân ngân hàng, trình độ chuyên môn nghiệp
vụ của cán bộ tín dụng và tình hình kinh tế xã hội của địa phương cũng như
lĩnh vực mà ngân hàng đang hoạt động, đó là chưa kể đến những biến động
do điều kiện thiên nhiên đem lại. Vì vậy, để có thể mở rộng và nâng cao
chất lượng tín dụng ngân hàng nhằm sử dụng nó một cách hữu hiệu nhất
phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, đòi hỏi cần phải giải quyết
một cách đồng thời các vấn đề về quản lý kinh doanh tác nghiệp và những
vấn đề về quản lý kinh tế vĩ mô.
II. GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
1. Sử dụng linh hoạt các phương thức cho vay đối với DNVVN:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đa dạng về qui mô, ngành nghề
sản xuất kinh doanh vì vậy nhu cầu về khối lượng vốn vay, thời gian vay,
phương thức trả vốn và lãi... là không giống nhau. Chính vì vậy mà ngân
hàng với phương châm “lấy hiệu quả kinh doanh của khách hàng làm mục
tiêu hoạt động”, phải đưa ra được loại hình tín dụng phù hợp với từng yêu
cầu của khách hàng. Ngoài cách cho vay truyền thống thông qua việc thế
chấp, cầm cố tài sản chi nhánh nên tiến hành các hình thức cho vay mới
như:
* Chiết khấu các chứng từ có giá:
Các doanh nghiệp sở hữu các giấy tờ có giá như thương phiếu, tín
phiếu trái phiếu chưa đến hạn thanh toán nhưng doanh nghiệp có nhu cầu
chi tiêu đột xuất thì có thể đem những chứng từ có giá này đến ngân hàng
xin chiết khấu. Chiết khấu là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn trong đó khách
hàng chuyển nhượng quyền sở hữu những chứng từ có giá chưa đến hạn
thanh toán cho ngân hàng thương mại để nhận lấy một khoản tiền bằng
mệnh giá trừ đi lợi tức và phí hoa hồng (nếu có).
Phương pháp này hiện nay chi nhánh chưa áp dụng, mà chủ yếu vẫn dừng
lại ở hình thức cầm cố giấy tờ có giá để được vay vốn Ngân hàng với số
tiền tối đa là 80% giá trị tài sản cầm cố. Việc chiết khấu trái phiếu, kỳ
Trước khi phát ra một khoản tiền vay, Ngân hàng cần phải biết rõ mọi chi
tiết có liên quan đến khách hàng của mình nhằm đảm bảo cho món vay của mình
được sử dụng một cách có hiệu quả và có khả năng được hoàn trả đúng hạn cả gốc
và lãi. Tức là Ngân hàng phải tiến hành các biện pháp phân tích và đánh giá khách
hàng của mình. Đây là một việc làm cực kỳ quan trọng bởi vì khi đã giao tiền cho
người vay thì Ngân hàng chỉ còn quyền sở hữu còn quyền sử dụng khoản tiền đó
hoàn toàn phụ thuộc vào khách hàng. Việc phân tích đánh giá khách hàng ít nhất
cần đảm bảo các nội dung: Tính khả thi của phương án hoặc dự án kinh doanh, tình
hình tài chính và khả năng thanh toán của khách hàng, tìm hiểu về trình độ, uy tín
và đạo đức của người đứng đầu doanh nghiệp cũng như uy tín của doanh nghiệp
trên thị trường. Cụ thể, trong khâu phân tích đánh giá khách hàng trước khi cho
vay, Ngân hàng cần chú ý tới các nội dung sau đây:
* Sàng lọc, điều tra và giám sát:
Sàng lọc là việc Ngân hàng lựa chọn những khách hàng vay tín dụng có
triển vọng tốt ra khỏi những khách hàng có xu hướng xấu nhờ đó mà các món vay
đảm bảo thu hồi được vốn và sẽ đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng. Để thực hiện
việc sàng lọc một cách có hiệu quả, Ngân hàng cần phải tập hợp đầy đủ các thông
tin đáng tin cậy về khách hàng định có quan hệ tín dụng với ngân hàng. Ngân hàng
cần khai thác triệt để các mối quan hệ rộng rãi của mình với các tổ chức và cá nhân
trong xã hội để tập hợp thông tin, cụ thể là từ phía các khách hàng khác của ngân
hàng đồng thời cũng là khách hàng hoặc bạn hàng của đơn vị xin vay vốn; từ cơ
quan lãnh đạo chính quyền địa phương nơi khách hàng sinh sống hoặc hoạt động
sản xuất kinh doanh; từ các trung tâm thông tin về rủi ro tín dụng; từ các ngân hàng
bạn... Nhưng quan trọng nhất vẫn là các thông tin điều tra tại chỗ để lập nên hồ sơ
của người vay, bao gồm các chi tiết hết sức cụ thể như: Tài liệu chứng minh tư
cách pháp nhân hoặc thể nhân của người xin vay ( Quyết định thành lập, điều lệ
doanh nghiệp, nếu khách hàng là một pháp nhân; giấy chứng minh nhân dân, sổ
đăng ký hộ khẩu, nếu khách hàng là một thể nhân ), bảng cân đối tài khoản hiện tại
và những năm trước đó, tình hình sản xuất kinh doanh trong nhiều năm liên tục,
tình hình cung cấp nguyên vật liệu cũng như tình hình tiêu thụ sản phẩm của người
được tỷ suất lợi nhuận cao hơn lãi suất cho vay của Ngân hàng. Nhiệm vụ
của ngân hàng là đánh giá xem kế hoạch sử dụng vốn của người vay có khả
năng thực hiện được hay không. Nếu như Ngân hàng đánh giá đúng thì sẽ
hạn chế được rất nhiều nguy cơ rủi ro có khả năng xảy ra đối với nguồn
vốn của mình.
Tình hình tài chính của khách hàng có ảnh hưởng trực tiếp, mang tính
quyết định đến việc thu hồi các khoản nợ của Ngân hàng. Những khách
hàng có tình hình tài chính vững chắc là khách hàng có khả năng đáp ứng
các khoản nợ phải trả bằng các biện pháp tài chính bình thường, tức là có
thể tự cân đối về tài chính. Trong trường hợp không tự cân đối được về mặt
tài chính, khách hàng buộc phải sử dụng biện pháp kéo dài thời gian trả nợ
người cung cấp hoặc tăng thêm khối lượng tín dụng ngân hàng, khi đó rất
dễ dẫn đến tình trạng nợ nần dây dưa ảnh hưởng không tốt tới khả năng thu
hồi vốn của ngân hàng.
Khi đánh giá tình hình tài chính của các khách hàng thuộc các
DNVVN, để có thể đảm bảo chính xác, người ta thường phân khách hàng
DNVVN ra làm hai loại: Các khách hàng là pháp nhân và các khách hàng
là thể nhân kinh tế. Việc phân loại này sẽ thuận lợi cho ngân hàng trong
khâu đánh giá khách hàng. Thực tế mỗi loại khách hàng đều có một đặc
điểm riêng về sản xuất, kinh doanh và quản lí tài chính.
Đối với các khách hàng là các doanh nghiệp thực hiện nghiêm chỉnh
pháp lệnh kế toán thống kê thì ngân hàng có thể căn cứ vào rất nhiều chỉ
tiêu kinh tế và tài chính để đánh giá tình hình tài chính và khả năng thanh
toán của họ.
Sau khi đã hoàn thành đầy đủ các bước phân tích tín dụng đối với một khách
hàng, nếu xét thấy phương án sản xuất kinh doanh đưa ra là hợp lý, mang tính khả
thi và hiệu quả kinh tế cao đồng thời khả năng tài chính của khách hàng lành mạnh
và ổn định, có khả năng hoàn trả tốt nợ gốc và lãi vay, ngân hàng sẽ tiến hành xác
định số lượng, thời hạn và lãi suất cho khoản tín dụng đó. Để đảm bảo cho khoản
tiền vay được sử dụng một cách có hiệu quả kinh tế cao nhất, ngân hàng cần căn cứ
trong thời gian trước mắt để khắc phục tình trạng trên, khuyến khích hoạt động vay
vốn từ phía khách hàng là các DNVVN thì không nên áp dụng một mức lãi suất
đối với tất cả các khoản vay mà cần phải có sự linh hoạt giữa các đối tượng khách
hàng, có thể giảm lãi suất cho vay đối với những khách hàng đã quen biết, có quan
hệ tín dụng thường xuyên và làm ăn có hiệu quả để giữ khách hàng, đưa họ trở
thành khách hàng truyền thống của chi nhánh. Ngoài ra chi nhánh cần đa dạng hoá
các loại hình lãi suất tuỳ thuộc vào thời gian vay để trên cơ sở đó khách hàng có
nhiều cơ hội lựa chọn loại hình lãi suất nào phù hợp với tình hình sản xuất kinh
doanh của mình, từ đó đem lại hiệu quả kinh doanh cao đảm bảo trả được nợ cho
ngân hàng. Chi nhánh cũng cần có chính sách ưu đãi về lãi suất đối với các ngành
kinh tế có lợi nhuận thấp nhưng có ý nghĩa lớn đôí với nền kinh tế, ưu tiên những
đơn vị có vòng quay vốn nhanh, trả đúng hạn cả gốc và lãi.
Việc quyết định cho vay nên thông qua hội đồng tín dụng, một tập thể bao
gồm cán bộ lãnh đạo có trách nhiệm đủ thẩm quyền và một số chuyên gia thuộc
các lĩnh vực liên quan để hạn chế rủi ro tới mức thấp nhất. Về vấn đề này những
Ngân hàng quốc tế tầm cỡ còn sử dụng tư vấn của chuyên gia nhiều lĩnh vực như
pháp chế, kỹ thuật, chuyên ngành nông, công nghiệp, môi trường điện toán, điện
tử...
Khi cho người vay rút vốn phải tôn trọng nguyên tắc rút tiền theo tiến độ dự
án và hạn chế thanh toán bằng tiền mặt, chủ yếu thực hiện thanh toán bằng chuyển
khoản qua ngân hàng. Điều này được thực hiện chặt chẽ là cơ hội giảm bớt rủi ro,
ngăn ngừa hiện tượng gian lận như hợp đồng mua bán giả dối, chuyển tiền vòng vo
gây thất thoát vốn.
Thực hiện kiểm tra chặt chẽ thường xuyên và định kỳ giám sát bên vay sử
dụng tiền vay đúng mục đích đề phòng những bất trắc có thể xảy ra. Qua kiểm tra