KIẾN THỨC CHUNG VỀ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 63

KIẾN THỨC CHUNG VỀ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
I. Khái quát chung về ngân hàng thương mại
1. Khái niệm ngân hàng thương mại.
Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát triển
của nền sản xuất hàng hoá.Ngân hàng thương mại(NHTM) ra đời là kết quả của
một quá hình thành và phát triển lâu dài, phù hợp và gắn liền với tiến trình phát
triển của nền sản xuất hàng hoá. Nó được coi là sản phẩm của nền sản xuất hàng
hoá, là một bộ phận không thể tách rời và tồn tại như một tất yếu trong nền kinh tế
hiện đại.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học trên thế giới thì NHTM là một
doanh nghiệp hoạt động và kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và tín dụng.
Theo Peter S.Rose: ''Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một
danh mục các dich vụ tài chính da dạng nhất-đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và các
dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ
chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.''
Theo luật các tổ chức tín dụng của Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam:''Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng
với nội dung thương xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng
và cung ứng các dịch vụ thanh toán.''
2. Chức năng của Ngân hàng thương mại.
Trung gian tín dụng
Ngân hàng thương mại một mặt thu hút các khoản tiền nhàn rỗi trong nền
kinh tế, mặt khác nó dùng chính số tiền đã huy động được để cho vay đối với các
thành phần kinh tế trong xã hội, hay nói cách khác là một tổ chức đóng vai trò “cầu
nối” giữa các đơn vị thừa vốn với các đơn vị thiếu vốn. Thông qua sự điều chuyển
này. ngân hàng thương mại có vai trò quan trong trong việc thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, tăng việc làm, cải thiện mức sống dân cư, ổn định thu chi Chính phủ. Đồng
thời chức năng này còn góp phần quan trọng trong việc điều hoà lưu thông tiền tệ,
kiềm chế lạm phát. Từ đó cho thấy rằng, đây là chức năng cơ bản nhất của ngân
hàng thương mại.

đề thời gian và lượng vốn, rủi ro đạo đức, rủi ro mất khả năng thanh toán,…NHTM
với tư cách là một chủ thể kinh doanh trên lĩnh vực tài chính tiền tệ có thể khắc
phục được những nhược điểm trên. NHTM chính là người đứng ra tiến hành khơi
thông nguồn vốn nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế,…Hình
thành nên quỹ cho vay và sử dụng chúng để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế.
Là một kênh phân phối vốn có hiệu quả NHTM đã tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh cải tiến quy trình cộng nghệ, từ
đó nâng cao năng suất lao động để có thể đứng vững trước sự cạnh tranh ngày càng
khốc liệt của thị trường. Với khả năng cung cấp vốn, NHTM đã trở thành một
trong những điểm khởi đầu cho sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
3.2. NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường
Để có thể tiếp cận với thị trường đầu ra và tìm kiếm lợi nhuận các doanh
nghiệp cần phải quan tâm tới thị trường đầu vào của mình mà yếu tố đầu vào quan
trọng nhất chính là vốn, đây luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà kinh
doanh vì nó đặt nền tảng đầu tiên cho mọi hoạt động của doanh nghiệp. Các doanh
nghiệp không thể chỉ trông chờ vào vốn tự có mà phải biết khai thác các nguồn vốn
khác tài trợ cho hoạt động của mình. Nguồn vốn tín dụng của NHTM sẽ giúp
doanh nghiệp giải quyết được khó khăn đó. Như vậy, Ngân hàng chính là cầu nối
đưa doanh nghiệp đến với thị trường giúp doanh nghiệp tìm kiếm được đầu vào,
bôi trơn hoạt động sản xuất kinh doanh làm cho nó phát huy hiệu quả một cách tốt
nhất trên thị trường, giúp doanh nghiệp và thị trường gần nhau hơn cả về không
gian và thời gian.
3.3. NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Nếu NHTM có nhiệm vụ xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ thông qua
các công cụ như: thị trường mở, dự trữ bắt buộc, lãi suất,…Thì các NHTM một
mặt chịu sự tác động trực tiếp của các công cụ này mặt khác nó còn tham gia điều
tiết gián tiếp vĩ mô nền kinh tế thông qua mối quan hệ với các tổ chức kinh tế, cá
nhân về các hoạt động tài chính tín dụng. Nói cách khác, thông qua hoạt động của
NHTM với các chủ thể khác trong nền kinh tế, mọi thông tin có liên quan đến
hoach định chính sách tiền tệ sẽ được phản hồi lại NHTW, giúp NHTW có thể

cây trồng vật nuôi ... các trang thiết bị nhanh hao mòn có nhu cầu nguồn vốn từ 1
năm đến 5 năm.
Ngược lại, những công trình đầu tư lớn, thu hồi vốn lâu, thuộc tầm vĩ mô
như: máy móc thiết bị công nghiệp nặng, xây dựng cầu đường... có nhu cầu nguồn
vốn từ 5 năm đến 10 năm có khi tới 20 năm.
Tất nhiên cùng với độ dài của thời gian, việc thu hồi vốn đối với các dự án
có thời hạn dài gặp nhiều khó khăn hơn do ở thời điểm hiện tại doanh nghiệp khó
có thể tính được hết khó khăn sẽ gặp trong tương lai. Do vậy mức độ rủi ro của các
khoản tín dụng có thời gian lớn đối với Ngân hàng sẽ tăng nên. Điều này một phần
lý giải tại sao lãi suất các khoản cho vay dài hạn thường cao hơn các khoản các
khoản cho vay ngắn hạn.
Phân loại Tín dụng theo thời gian có ý nghĩa rất quan trọng đối với Ngân
hàng Thương mại. Nó phản ánh khả năng hoàn trả, độ rủi ro cũng như ảnh hưởng
trực tiếp đến tính an toàn và sinh lợi của một Ngân hàng Thương mại.
II. Tổng quan về tín dụng trung - dài hạn và vai trò tín dụng trung và dài hạn
của Ngân hàng Thương mại trong nền kinh tế thị trường
1.Tổng quan về tín dụng trung - dài hạn
Tín dụng trung và dài hạn “ là hoạt động tài chính cho khách hàng vay vốn
trung và dài hạn nhằm thực hiện các dự án phát triển sản xuất kinh doanh, phục vụ
đời sống”. Tín dụng là một trong những hoạt động mang lại nguồn thu nhập chủ
yếu và nó chiếm phần lớn hoạt động trong các Ngân hàng Thương mại, song không
phải tất cả các Ngân hàng Thương mại đều thực hiện tốt hoạt động này. Một số
Ngân hàng gặp khó khăn trong việc quản lý và thu hồi nợ, một số khác lại gặp khó
khăn trong việc không thể tìm được dự án thích hợp để cho vay hoặc gặp khó khăn
trong việc huy động vốn. Vì vậy việc xem xét chất lượng hiệu quả hoạt động tín
dụng nhất là tín dụng trung và dài hạn là hết sức cần thiết. Nó giúp các Ngân hàng
có thể đánh giá lại hoạt động tín dụng của mình từ đó đưa ra các giải pháp nhằm
khắc phục những tồn tại, thiếu sót và đẩy mạnh hơn nữa hoạt động tín dụng.
Chất lượng, hiệu quả công tác tín dụng Ngân hàng được nhìn nhận từ 3 phía:
các nhà Ngân hàng, các doanh nghiệp, và từ nền kinh tế. Trong bài viết này, chúng

các cổ đông nếu huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu.
- Tín dụng trung và dài hạn còn là trợ thủ đắc lực của doanh nghiệp trong
việc thoả mãn và chớp cơ hội kinh doanh. Khi có cơ hội kinh doanh, các doanh
nghiệp có thể nhanh chóng vay vốn của Ngân hàng để mở rộng sản xuất kinh
doanh, gia tăng sản lượng để chiếm lĩnh thị trường. Ngoài ra, tín dụng trung và dài
hạn tránh được các chi phí phát hành, lệ phí bảo hiểm, lệ phí đăng ký...
Việc trả nợ trung và dài hạn cũng được xây dựng theo một sự phân chia ổn
định và hợp lý do đó doanh nghiệp có thể chủ động tìm kiếm các nguồn trả nợ một
cách dễ dàng hơn.
* Vai trò của tín dụng trung dài hạn đối với nền kinh tế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status