Bài tập nhóm tháng 2 Môn Luật tố tụng Dân sự
MỤC LỤC
3. Các quy định về phương tiện chứng minh ................................................ 6
BÀI LÀM
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự là một nội dung quan trọng nhưng rất
phức tạp. “Pháp luật tố tụng dân sự không thể được coi là hoàn thiện nếu không có những
chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự (…). Pháp luật mà không có chứng cứ thì
chẳng có nghĩa lý gì cả, nhưng chứng cứ dù không có pháp luật vẫn có tất cả ý nghĩa của
nó”
1
. Hay trong báo cáo công tác của ngành Toà án trong thực tiễn xét xử các vụ án dân sự
cho thấy “chất lượng hồ sơ vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình phụ thuộc vào chất lượng
điều tra, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ có đầy đủ, chính xác và khách quan hay
không và có chấp hành nghiêm chỉnh thủ tục tố tụng hay không là cơ sở của một bản án,
quyết định đúng đắn”
2
. Như vậy, chứng cứ, nguồn chứng cứ và phương tiện chứng minh là
một trong những yếu tố quan trọng nhất của pháp luật tố tụng dân sự. Vì vậy chúng ta hãy
cùng nhau đi tìm hiểu về vấn đề này.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Một số vấn đề lí luận về chứng cứ, nguồn chứng cứ và phương tiện chứng
minh trong tố tụng dân sự:
1. Khái niệm, đặc tính, ý nghĩa của chứng cứ, phân loại chứng cứ:
1.1. Khái niệm:
Điều 81 BLTTDS định nghĩa chứng cứ như sau: “ chứng cứ trong vụ việc dân sự là
những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án
hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Tòa án
dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp
pháp hay không cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc
dân sự.”
chia gồm chứng cứ trực tiếp và chứng cứ gián tiếp.
2. Khái niệm, ý nghĩa của nguồn chứng cứ
Theo Điều 82 BLTTDS thì nguồn chứng cứ bao gồm: “ Các tài liệu đọc được, nghe
được nhìn được; các vật chứng; lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng; kết
luận giám định; biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ; tập quán; kết quả giám định tài
sản, thẩm định giá tài sản; các nguồn khác mà pháp luật có quy định”
Tòa án chỉ thu thập chứng cứ qua các nguồn chứng cứ do pháp luật quy định. Bất kì
loại chứng cứ nào cũng nằm trong một loại chứng cứ nhất định. Ví dụ: bản di chúc đương
sự cung cấp cho Tòa án là nguồn nhưng bản di chúc đó làm giả, gian dối thì không được
coi là nguồn chứng cứ
3. Khái niệm, ý nghĩa của phương tiện chứng minh:
3.1 Khái niệm
Phương tiện chứng minh là công cụ pháp luật quy định được sử dụng để làm rõ các
tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự thông qua các chủ thể chứng minh. Một số công cụ
thường được thực hiện như lấy lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng, kết
luận của cơ quan giám định..gọi là phương tiện chứng minh.
Khi yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự cụ thể, các đương sự và Tòa án có thể
dùng nhiều phương tiện chứng minh. (khoản 2 Điều 85 BLTTDS).
3.2 Ý nghĩa
Hoạt động chứng minh có tính chất quyết định kết quả giải quyết vụ việc dân sự. Để
đảm bảo giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn, pháp luật quy định những phương tiện chứng
minh cụ thể mà các chủ thể chứng minh được sử dụng. Các chủ thể chứng minh chỉ dược
sử dụng các phương tiện chứng minh do pháp luật quy định mà không thể sử dụng bất kì
phương tiện nào khác để chứng minh đồng thời phải đáp ứng đầy đủ điều kiện nhất định
do pháp luật quy định. Các phương tiện chứng minh này là công cụ để làm sáng tỏ, giải
quyết nhanh đúng và chính xác vụ án hơn.
N02_TL1_Nhóm 2
2
Bài tập nhóm tháng 2 Môn Luật tố tụng Dân sự
4. Mối liên hệ giữa chứng cứ, nguồn chứng cứ và phương tiện chứng minh.
Các CQĐT, VKS, TA xác định những gì là chứng cứ chỉ từ những nguồn nói trên,
chứ không được xác định những gì là là chứg cứ từ các nguồn khác.
Phân loại chứng cứ: Chứng cứ gốc / thuật lại; Chứng cứ trực tiếp / gián tiếp; Chứng
cứ viết / miệng; Chứng cứ khẳng định / phủ định.
2. Các quy định về nguồn chứng cứ
Theo quy định tại điều 82 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (đã trích ở trên) thì
nguồn chứng cứ trong tố tụng dân sự chỉ được quy định trong 8 nguồn chính. Ngoài 8
nguồn chứng cứ này Tòa án không được sử dụng thêm bất cứ nguồn nào khác để thu thập
làm chứng cứ cho việc giải quyết vụ việc dân sự. Tại khoản 9 điều 82 Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2004 quy định: “Các nguồn khác mà pháp luật có quy định” cần được hiểu đây là
N02_TL1_Nhóm 2
3
Bài tập nhóm tháng 2 Môn Luật tố tụng Dân sự
một quy định dự phòng của pháp luật chứ không phải là một quy định mở để Tòa án áp
dụng trong quá trình thu thập chứng cứ giải quyết vụ án. Do vậy, cho đến khi pháp luật có
quy định thêm một nguồn chứng cứ nào đó thì Tòa án chỉ được phép thu thập chứng cứ
theo qui định từ khoản 1 đến khoản 8 Điều 82 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.
Tuy nhiên, không phải bất cứ tài liệu, dữ kiện nào được thu thập từ các nguồn
chứng cứ cũng đều được xem là chứng cứ và được sử dụng vào việc giải quyết vụ án mà
các tài liệu, dữ kiện này phải đảm bảo được các thuộc tính cơ bản của chứng cứ, đồng thời
phải phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng dân sự về xác định chứng cứ. Ví dụ: biên
bản ghi lời khai của đương sự là một nguồn chứng cứ nhưng có những trường hợp toàn bộ
lời khai đó là gian dối, bịa đặt thì lời khai đó không được coi là chứng cứ của vụ án.
Điều 83 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã quy định cụ thể về điều kiện xác định
chứng cứ trong các nguồn chứng cứ như sau :
“1. Các tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản
sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung
cấp, xác nhận. Ví dụ : nếu nguyên đơn đưa ra một tờ "Giấy nhận nợ" có chữ ký của người
nợ (bị đơn) - thì tòa sẽ công nhận tờ giấy đó là chứng cứ khi đó là bản chính chứ không
phải là bản photo.
Với quy định này của điều luật chúng ta thấy rằng : đối với loại nguồn chứng cứ là
các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được khi có chứa đựng chứng cứ của vụ án; nếu là
tài liệu đọc được nội dung thì phải là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực
hợp pháp hoặc do các tổ chức, cơ quan có thẩm quyền cung cấp, xác nhận; nếu là loại tài
liệu nghe được, nhìn được (như băng đĩa ghi âm, ghi hình) thì phải xuất trình được văn bản
xác nhận về xuất xứ của các tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm,
ghi hình đó; có như vậy thì các tài liệu đó mới được coi là có giá trị và được sử dụng làm
chứng cứ chứng minh trong vụ án.
Đối với loại nguồn chứng cứ là vật chứng : vật chứng được pháp luật quy định là
nguồn chứng cứ vì tồn tại trong chính bản thân nó là chứng cứ của vụ án, nó chỉ chứa đựng
chứng cứ chứ nó không phải là chứng cứ.
Ví dụ : A kiện B đòi bồi thường chiếc xe bị hư – ở đây chiếc xe bị hư là vật chứng
còn những hư hỏng của xe là chứng cứ.
Như vậy vật chứng phải luôn là hiện vật gốc có tính đặc định liên quan đến vụ việc
dân sự thì mới có giá trị pháp lý. Nếu có sự sao chép, tái hiện lại vật chứng thì vật được sao
chép đó không được xem là vật chứng. Do đó, quá trình thu thập vật chứng Tòa án phải
đảm bảo các trình tự, thủ tục luật định và phải bảo quản, giữ gìn nhằm giữ được tính đặc
định của vật chứng.
Đối với loại nguồn chứng cứ là tập quán : để một tập quán trở thành chứng cứ trong
một vụ án cụ thể thì người đưa ra tập quán đó phải trình bày rõ nguồn gốc của tập quán,
phải chứng minh tính cộng đồng của tập quán đó bằng cách ghi nhận nó bằng văn bản, thể
hiện việc cả cộng đồng dân cư nơi có tập quán thừa nhận, có chứng thực về nội dung của
chính quyền địa phương nơi có tập quán về tập quán đó. Nếu không chứng minh được tính
cộng đồng của tập quán thì nó sẽ không có giá trị chứng cứ.
Tuy nhiên cần chú ý là tập quán được sử dụng làm chứng cứ phải không được trái
với các nguyên tắc của pháp luật, đạo đức xã hội và tập quán này chưa được ghi nhận hoặc
cụ thể hóa trong luật. Nếu pháp luật đã ghi nhận tập quán đó bằng các quy định cụ thể thì
phải căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết.
Ngoài ra các lời khai của đương sự, người làm chứng, kết luận giám định, biên bản
ghi kết quả thẩm định tại chỗ và kết quả định giá tài sản nếu được tiến hành đúng trình tự,