LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG - Pdf 63

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG
– DÀI HẠN
1.1. Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
1.1.1. Huy động vốn
Huy động vốn - hoạt động tạo nguồn vốn cho ngân hàng thương mại - đóng
vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng. Một trong
những nguồn quan trọng là các khoản tiền gửi thanh toán và tiết kiệm của khách
hàng. Ngân hàng làm dịch vụ nhận tiền gửi để bảo quản hộ người có tiền với cam
kết hoàn trả đúng hạn. Trong cuộc cạnh tranh để tìm và huy động được tiền gửi,
các ngân hàng trả lãi cho các khoản huy động vốn đó.
1.1.2. Cho vay
Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng
phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi trong một khoảng thời gian xác định. Cho vay là tài sản
lớn nhất trong khoản mục tín dụng. Cho vay thường được định lượng theo 2 chỉ
tiêu: Doanh số cho vay trong kỳ và dư nợ cuối kỳ. Cho vay là được coi là hoạt
động sinh lời cao mang lại thu nhập cho ngân hàng do đó các ngân hàng tìm mọi
cách để huy động được tiền.
Có nhiều hình thức cho vay như cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, tài
trợ cho dự án.
1.1.3. Hoạt động khác
Huy động vốn và cho vay là 2 khoản mục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong bảng
cân đối kế toán của các ngân hàng thương mại. Ngoài hai hoạt động quan trọng
trên ngân hàng còn có nhiều hoạt động khác như: kinh doanh ngoại tệ, tài trợ cho
các hoạt động của chính phủ, bảo lãnh, cho thuê, cung cấp các dịch vụ uỷ thác và
tư vấn, cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán…
Kinh doanh ngoại tệ là một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực
hiện. Hoạt động này là mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng
phí dịch vụ.
Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ khách
hàng. Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng mua chịu hàng hoá trang thiết
bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác.

vật nuôi, trang thiết bị chóng hao mòn.
Tín dụng dài hạn là khoản tín dụng có thời gian từ 5 năm trở lên tài trợ cho
công trình xây dựng như nhà, sân bay, cầu đường, máy móc có giá trị lớn, thường
có thời gian sử dụng lâu.
Cách phân chia tín dụng theo tiêu thức thời gian này phù thuộc vào từng
nước. Có những nước tín dụng dài hạn là những khoản tín dụng có thời hạn 7 năm
trở lên. Còn ở Việt Nam theo quy chế cho vay mới 1627/2001/QĐ NHNN có hiệu
lực từ 01/02/2002 các khoản tín dụng có thời gian từ 12 – 60 tháng được gọi là tín
dụng trung hạn còn trên 60 tháng được gọi tín dụng dài hạn
Phân chia tín dụng có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì nó liên quan
đến tính an toàn và sinh lợi của tài sản.
1.2.3. Vai trò của tín dụng trung – dài hạn
Tín dụng trung – dài hạn là những khoản vay có thời hạn trên 12 tháng của
ngân hàng đối với khách hàng. Thực chất mối quan hệ này chỉ được hình thành
trên cơ sở sự thoả thuận giữa các bên dựa trên nguyên tắc cùng có lợi. Như vậy
việc tham gia mối quan hệ này là hoàn toàn tự nguyện và nó đem lại lợi ích cho cả
hai bên. Mà ngân hàng và doanh nghiệp là hai chủ thể quan trọng hàng đầu trong
nền kinh tế quốc dân, do đó việc nâng cao chất lượng hoạt động của hai chủ thể
này cũng sẽ góp phần vào sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế. Nên việc
mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng tín dụng trung – dài hạn có vai trò quan
trọng đối với ngân hàng nói riêng, sự phát triển của nền kinh tế nói chung và doanh
nghiệp
Đối với ngân hàng: Trong các tài sản của ngân hàng thì khoản mục cho vay
bao giờ cũng chiếm tỷ trọng cao nhất là khoản mục mang lại thu nhập lớn cho ngân
hàng và đem lại cho ngân hàng một số lượng lớn khách hàng.Thu nhập từ tiền vay
biểu hiện dưới dạng lãi vay và phụ thuộc chủ yếu vào thời hạn khoản vay. Thời
hạn càng dài thì thu nhập càng cao nên thu nhập của ngân hàng càng lớn. Do đó
một ngân hàng có thể mở rộng cho vay trung – dài hạn để có thể kiếm nhiều lợi
nhuận hơn. Nhưng tín dụng trung – dài hạn có thời hạn cao nên rủi ro càng cao nên
mở rộng quy mô phải đi kèm với việc nâng cao chất lượng tín dụng.

đáp ứng nhu cầu đầu tư có thể khai thác từ nhiều kênh trong đó tín dụng ngân hàng
đóng vai trò quan trọng
Tín dụng ngân hàng có thể tác động như một công cụ trong chuyển dịch cơ
cấu kinh tế đất nước theo hướng có lợi nhất. Thông qua mở rộng cho vay với
những lĩnh vực cần đẩy mạnh các ngân hàng tham gia vào việc điều chỉnh cơ cấu
kinh tế một cách chủ động và tích cực hơn. Ngoài ra tín dụng ngân hàng thúc đẩy
quá trình tập trung vốn là công cụ tài trợ cho ngành kinh tế kém phát triển và
ngành kinh tế mũi nhọn. Ngoài ra tín dụng trung – dài hạn sử dụng như một đòn
bẩy kinh tế hợp lý không thể thiếu được cả trong công tác quản lý, kiểm soát quá
trình sản xuất, phân phối sản phẩm xã hội, củng cố chế độ hạch toán kế toán.
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, nhiệm vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá
đất nước nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội đang được
Đảng và nhà nước đặt lên hàng đầu. Nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư đó bao
gồm: nguồn do ngân sách nhà nước cấp, nguồn tích luỹ từ các doanh nghiệp,
nguồn huy động trong dân cư, vay nước ngoài, vốn tín dụng ngân hàng. Trong các
nguồn này thì nguồn tín dụng ngân hàng là nguồn chủ yếu đáp ứng nhu cầu vốn
trung – dài hạn cho đầu tư phát triển. Nên tín dụng trung – dài hạn có vai trò rõ rệt
trong phát triển kinh tế đất nước ta nhất là trong thời kỳ hội nhập với nền kinh tế
thế giới.
1.2.4. Đặc điểm của tín dụng trung – dài hạn.
Trong khoản mục tín dụng, tỷ trọng tín dụng ngắn hạn tại các ngân hàng
thương mại thường cao hơn tín dụng trung – dài hạn do các ngân hàng chủ yếu tài
trợ cho các tài sản lưu động của khách hàng. Tín dụng trung – dài hạn thường có tỷ
trọng thấp hơn do rủi ro cao hơn, nguồn vốn đắt hơn và khan hiếm hơn. Điều này
thể hiện cụ thể trong đặc điểm của tín dụng trung – dài hạn:
+Thời gian cho vay cao:
Theo quyết định của thống đốc NHNN số284/2002/QĐ-NHNN ngày
25/8/2002 về việc ban hành quy chế cho vay các tổ chức tín dụng đối với khách
hàng tại điều 3 khoản 2 định nghĩa: “Thời hạn cho vay là một khoảng thời gian
được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận tiền vay cho đến khi khách hàng trả hết

là hợp lý bởi một khoản rủi ro tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn thì cần phải được trả lãi cao
hơn để có thể bù đắp được những rủi ro nếu xảy ra. Rủi ro và lãi suất có mối quan
hệ tỷ lệ thuận với nhau, rủi ro càng cao thì lãi suất càng cao. Do ngân hàng phải bù
đắp rủi ro lớn, chi phí huy động nguồn trung – dài hạn để cho vay lớn nên lãi suất
cao.
+ Tính thanh khoản thấp
Do thời hạn cho vay cao nên khả năng chuyển đổi thành tiền trong thời gian
ngắn là thấp. Nên tính thanh khoản của tín dụng trung - dài hạn là thấp. Thông
thường ở ngân hàng tính thanh khoản cao thể hiện ở chứng khoán ngắn hạn.
1.3. Chất lượng tín dụng trung – dài hạn
1.3.1. Khái niệm chất lượng tín dụng
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành ngân hàng, phạm trù “chất lượng
tín dụng” biến đổi qua các thời kỳ khác nhau. Trước đây chất lượng tín dụng được
hiểu là an toàn tín dụng tức là được đo lường bằng mức độ tổn thất phát sinh trực
tiếp từ rủi ro đối với mỗi khoản cho vay của ngân hàng thương mại. Một ngân hàng
có chất lượng tín dụng cao khi mà đáp ứng được các yêu cầu như khoản vay được
trả cả gốc và lãi đúng hạn, có ít các khoản nợ xấu và tỷ lệ nợ quá hạn là thấp.
Hiện nay khái niệm chất lượng tín dụng được mở rộng: “chất lượng tín dụng
là vừa đáp ứng yêu cầu của khách hàng phù hợp với sự phát triển của đất nước vừa
đảm bảo sự tồn tại, phát triển của ngân hàng. Do đó một khoản tín dụng có chất
lượng cao khi nó đáp ứng được các yêu cầu như:
+ Đối với khách hàng: Khoản tín dụng đáp ứng đủ nhu cầu về vốn, lãi suất
phù hợp, thủ tục cho vay đơn giản thuận tiện cho khách hàng. Điều này sẽ tạo điều
kiện cho khách hàng sản xuất kinh doanh hiệu quả để có thể hoàn trả cả gốc lẫn lãi
cho ngân hàng và gia tăng giá trị tài sản cho khách hàng.
+ Đối với ngân hàng: Khoản tín dụng có chất lượng phải đảm bảo nguyên tắc
đầu tiên là khách hàng hoàn trả cả vốn lẫn lãi theo hợp đồng. Ngoài ra các khoản
tín dụng có quy mô, thời gian, lãi suất phù hợp với thực lực của ngân hàng và khả
năng cạnh tranh với các ngân hàng khác sẽ làm tăng chất lượng tín dụng của ngân
hàng.

nghiệp); đảm bảo sự tồn tại, phát triển của ngân hàng
Hiệu quả đối với nền kinh tế: Hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động tín
dụng trung – dài hạn nói riêng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các doanh
nghiệp, tổ chức, cá nhân trong xã hội hay gián tiếp ảnh hưởng đến nền kinh tế đất
nước. Hiệu quả đối với nền kinh tế của tín dụng trung – dài hạn thể hiện rõ ở chỗ
tín dụng trung – dài hạn góp phần ổn định nền tài chính tiền tệ của quốc gia; nâng
cao năng lực hoạt động, năng lực công nghệ của doanh nghiệp; thúc đẩy, mở rộng
sản xuất kinh doanh của nền kinh tế; tạo công ăn việc làm khi có nhiều dự án được
đầu tư; tăng thu nhập; nâng cao mức sống dân cư… Nếu chất lượng tín dụng càng
tốt thì các hiệu quả của tín dụng trung – dài hạn càng thể hiện rõ nét hơn
Hiệu quả đối với khách hàng: Một ngân hàng có đội ngũ khách hàng đông đảo
là những doanh nghiệp có uy tín trên thị trường thì đó là một trong những dấu hiệu
cho thấy chất lượng tín dụng của ngân hàng là khả quan. Để thu hút được lượng
khách hàng đông đảo thì ngân hàng cũng phải có những biện pháp để đáp ứng tốt
nhu cầu của khách hàng. Hiệu quả của chất lượng tín dụng đối với khách hàng thể
hiện trực tiếp ở chỗ thủ tục đơn giản, thuận tiện (tuy nhiên phải đảm bảo những
nguyên tắc an toàn tối thiểu cần thiết cho hoạt động tín dụng của ngân hàng để
tránh những rủi ro do thủ tục), cung cấp vốn nhanh chóng, kịp thời, an toàn. Nhờ
đó khách hàng sẽ tiết kiệm được chi phí giao dịch, tiết kiệm được thời gian và nhất
là không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh tốt. Ngoài ra, ngân hàng còn phải trở thành người
bạn thực sự của khách hàng; sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ khó khăn, tư vấn khi có
vướng mắc với khách hàng. Làm như vậy thì nguồn vốn tín dụng mới thực sự phát
huy được vai trò đòn bẩy giúp doanh nghiệp trong việc cải tiến thiết bị, đổi mới
công nghệ, mở rộng sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh. Và khi doanh nghiệp hoạt
động có hiệu quả thì ngân hàng sẽ cũng tránh được những rủi ro tín dụng đồng thời
chất lượng tín dụng cũng được nâng lên.
Đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng: Chất lượng tín dụng mà nhất
là chất lượng tín dụng trung – dài hạn được nâng cao còn được thể hiện ở việc đảm
bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Hay các khoản tín dụng này phải mang
lại thu nhập cho ngân hàng đủ để trang trải các chi phí liên quan và có lãi, hạn chế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status