Giáo trinh + bài tập + 1 số câu hỏi Môn Tài trợ dự án - Pdf 63

CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ
I. KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐẦU TƯ
1. Khái niệm
Lịch sử phát triển kinh tế thế giới trong những thập niên gần đây đã khẳng định vai trò
của đầu tư đối với sự phát triển của mỗi quốc gia nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng.
Đầu tư cho tương lai đóng vai trò then chốt quyết định vận hội kinh tế của các quốc gia, sự tồn
tại và phát triển của các doanh nghiệp. Những nước tiêu dùng phần lớn thu nhập của mình, có
mức đầu tư thấp, tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ không cao, ngược lại, tỷ lệ đầu tư tính theo GDP
tăng, tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ cao; Những doanh nghiệp không chú trọng đầu tư sẽ khó
thích nghi và phát triển trong kinh tế thị trường, sản phẩm tiêu thụ dễ bị suy yếu, doanh số bán
ra bị giảm sút, sản xuất - kinh doanh sẽ trì trệ.
Tuy nhiên, hiện nay còn nhiều cách hiểu (quan niệm) khác nhau về đầu tư. Các nhà
kinh tế vĩ mô cho rằng: “Đầu tư là đưa thêm một phần sản phẩm cuối cùng vào kho tài sản vật
chất sản sinh ra thu nhập của quốc gia hay thay thế các tài sản vật chất đã hao mòn”. David
Begg, nhà kinh tế học nổi tiếng cho rằng: “Đầu tư là việc các hãng mua sắm tư liệu sản xuất
mới”. Xuất phát từ nguồn gốc của đầu tư, SamuelSon chỉ ra rằng: “Đầu tư là sự hy sinh tiêu
dùng hiện tại để tăng tiêu dùng cho tương lai. Thay vì ăn nhiều bánh pizza hôm nay, chúng ta
hãy xây dựng các lò bánh nướng để có thể sản xuất ra nhiều bánh pizza hơn cho tiêu dùng ngày
mai”.
Dù được nhìn nhận dưới góc độ nào đi chăng nữa thì công cuộc đầu tư đều phải bỏ vốn
ban đầu và mục tiêu của đầu tư là hiệu quả. Lợi ích dự kiến thu được của công cuộc đầu tư
phải lớn hơn chi phí bỏ ra cho công cuộc đầu tư đó và đạt được mục tiêu không thể một sớm
một chiều mà cần phải có một khoảng thời gian khá dài nhất định.
Như vậy, có thể hiểu: “Đầu tư là hoạt động sử dụng vốn trong một thời gian khá dài
nhằm mục đích kiếm lời”. Thực chất của hoạt động đầu tư là tìm kiếm lợi ích đối với chủ đầu
tư và lợi ích kinh tế - xã hội đối với đất nước.
2. Phân loại đầu tư
Thực tiễn cho thấy hoạt động đầu tư rất đa dạng và phong phú. Điều này được thể hiện
trên các khía cạnh như: chủ thể thực hiện đầu tư, hình thức và lĩnh vực đầu tư... Chủ thể tham
gia đầu tư có thể là Nhà nước, doanh nghiệp, cá nhân. Họ có thể lựa chọn đầu tư vào những

2.4. Phân loại theo chủ thể đầu tư
Khi sử dụng chỉ tiêu này để phân loại, hoạt động đầu tư bao gồm:
- Đầu tư của Nhà nước.
- Đầu tư của doanh nghiệp.
- Đầu tư cá nhân.
2.5. Phân loại theo chức năng quản trị vốn
Cách phân loại này còn gọi là phân loại theo mối quan hệ quản lý của chủ đầu tư. Theo
tiêu thức này, hoạt động đầu tư bao gồm:
- Đầu tư trực tiếp. Là hoạt động đầu tư trong đó, chủ đầu tư trực tiếp tham gia quản trị
vốn đã bỏ ra. Vì vậy, họ trực tiếp tham gia quản lý điều hành quá trình thực hiện đầu tư và vận
hành kết quả đầu tư. Thực chất trong hoạt động đầu tư này, người bỏ vốn và người sử dụng
vốn là một chủ thể. Đi sâu hơn nữa, hoạt động đầu tư này lại được chia thành: Đầu tư phát
triển và đầu tư chuyển dịch.
Đầu tư phát triển là loại đầu tư bỏ vốn nhằm tạo ra năng lực sản xuất mới làm phương
tiện sinh lơì. Những năng lực mới hình thành qua quá trình đầu tư đó là: các công trình xây
dựng, các dây chuyền sản xuất, máy móc trang thiết bị...
Đầu tư chuyển dịch là hoạt động bỏ vốn để mua lại một số cổ phần đủ lớn nhằm nắm
quyền chi phối hoạt động của doanh nghiệp. Trong trường hợp này, việc đầu tư không làm
tăng tài sản của doanh nghiệp, mà chỉ làm chuyển dịch quyền sở hữu giá trị tài sản.
- Đầu tư gián tiếp. Là loại đầu tư trong đó, người bỏ vốn không trực tiếp tham gia quản
trị vốn đã bỏ ra. Vì vậy, họ cũng không trực tiếp tham gia quản lý điều hành quá trình thực
hiện đầu tư và vận hành kết quả đầu tư. Đây là loại đầu tư trong đó, người bỏ vốn và người
quản trị sử dụng vốn là những chủ thể khác nhau.
3. Đặc điểm đầu tư
3.1. Tính sinh lời
Thực tiễn cho thấy, chẳng ai bỏ vốn, công sức để thực hiện đầu tư mà không tính toán
đến lợi ích, lợi nhuận thu được từ hoạt động đầu tư đó. Những người có ý định đầu tư đều hy
vọng rằng, họ sẽ thu được lợi ích lớn hơn chi phí đã bỏ ra. Nói cụ thể hơn là họ sẽ nhận được
một khoản lợi nhuận từ hoạt động đầu tư đó. Chính niềm hy vọng đó là động lực của đầu tư.
Sẽ không có hoạt động đầu tư nếu không thấy có triển vọng sinh lời. Nói cách khác, khả năng

Có thể nói, rủi ro là “ bạn đường” của đầu tư. Chấp nhận rủi ro được xem như một bản
năng của nhà đầu tư. Vì vậy, rủi ro là một đặc trưng của đầu tư cần được chú ý.
II. VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ
1. Vai trò của đầu tư đối với nền kinh tế
1.1. Đầu tư thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
Ngày nay, tăng trưởng và phát triển kinh tế là những khái niệm thường được nhắc đến,
rất gần gũi và thu hút sự quan tâm của mọi người. Nhà kinh tế James Tobin đã khẳng định: “
Vấn đề tăng trưởng không phải là cái gì mới mà là sự cải trang cái mới của một vấn đề cổ xưa,
một vấn đề luôn luôn hấp dẫn các nhà kinh tế học và làm cho họ phải bận tâm suy nghĩ: cái
hiện tại so với cái tương lai”.
Tăng trưởng kinh tế là sự mở rộng GDP hay sản lượng tiềm năng của một đất nước, là sự
tăng thu nhập quốc dân và sản phẩm bình quân đầu người. Phát triển kinh tế có ý nghĩa rộng
hơn, bao hàm nhiều điều khác nữa. Đó là sự tăng trưởng cộng thêm các thay đổi cơ bản của
nền kinh tế. Như vậy, tăng trưởng kinh tế chỉ là sự thay đổi về lượng, còn phát triển kinh tế là
sự thay đổi về lượng và chất của nền kinh tế.
Khi thu nhập tính theo đầu người của tất cả dân chúng trong đất nước đều tăng, chúng ta
nói nền kinh tế có sự tăng trưởng. Chính sự tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần để cải thiện
phúc lợi vật chất cho số đông nhân dân. Nếu không có sự tăng trưởng thì một số người vẫn có
thể giàu do chiếm đoạt thu nhập và tài sản của người khác. Sự tăng trưởng kinh tế mở ra khả
năng làm cho một số người giàu lên mà không làm cho những người khác nghèo đi. Vì vậy,
tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững là phương hướng và mục tiêu phấn đấu của các
quốc gia. Để đạt được điều đó cần quan tâm giải quyết các nhân tố ảnh hưởng đến sự tăng
trưởng là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, vốn và công nghệ. Thông qua hoạt động đầu tư,
các yếu tố đó sẽ được khai thác và huy động, từ đó tạo ra cơ sở vật chất - kĩ thuật và nguồn lực
mới cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Có thể nói rằng: Đầu tư là con đường đúng đắn,
duy nhất để tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Kinh nghiệm xây dựng và phát triển kinh tế của các nước trên thế giới và ở nước ta cho
thấy, điều kiện cơ bản để nền kinh tế có thể “cất cánh” được là phải dành cho đầu tư một tỷ lệ
khoảng 20% GDP. Đồng thời, cọi trọng hiệu quả của hoạt động đầu tư.
1.2. Đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế

trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế. Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần xây dựng những
vùng kinh tế trọng điểm tại mỗi miền. Miền Bắc, vùng kinh tế trọng điểm bao gồm: Hà Nội -
Hải phòng - Quảng ninh - Hà Đông; Miền Nam bao gồm: TP. Hồ Chí Minh - Đồng Nai - Bình
Dương - Bình Phước - Bà Rịa - Vũng Tàu; Miền Trung bao gồm: Quảng trị - Huế - Đà Nẳng -
Quảng Ngãi. Vùng kinh tế trọng điểm được xây dựng ở những địa bàn có nhiều tiềm năng, từ
đó có tác dụng thúc đẩy và lôi kéo sự phát triển của các địa bàn khác trong mỗi miền và toàn
bộ quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Bên cạnh đó, cần chú trọng đầu tư nhằm
phát triển các vùng miền núi, biên giới, hải đảo... để đảm bảo sự phát triển đồng đều giữa các
vùng và mọi miền của đất nước. Để đạt được điều đó, việc phân bổ vốn đầu tư cần thực hiện
theo hướng:
- Vốn Ngân sách và vốn ODA do Trung Ương quản lý được phân bổ đều cho các vùng
nhằm xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.
- Vốn Ngân sách do địa phương quản lý dành 30% cho vùng kinh tế trọng điểm, 70%
dành cho các vùng khác.
- Vốn của doanh nghiệp, của nhân dân và vốn FDI đầu tư vào các vùng kinh tế trọng
điểm chiếm hơn 30%.
1.3. Đầu tư tăng cường khả năng khoa học của đất nước
Bước sang thế kỉ XX, cách mạng khoa học - kĩ thuật diễn ra như vũ bão và trở thành
động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ của các quốc gia. Tuy nhiên, công nghệ mà
nhân loại đã và đang sử dụng cho đến nay là công nghệ truyền thống dựa trên kĩ thuật cơ khí.
Nền công nghệ này đã và đang vấp phải những giới hạn to lớn về nguyên liệu, môi trường và
thị trường... Điều này rất dễ dẫn đến suy thoái kinh tế toàn cầu. Để khắc phục tình trạng này,
đã xuất hiện xu hướng chuyển sang công nghệ mới sử dụng các loại máy tính và người máy
công nghiệp, công nghệ tin học, công nghệ sinh học...
Như vậy là, ứng dụng khoa học và phát triển công nghệ là một yếu tố, một cơ sở quan
trọng của phát triển kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đây cũng là mối quan tâm
hàng đầu của hầu hết các quốc gia. Việc nâng cao và đổi mới cơ cấu công nghệ một mặt phải
xuất phát từ phục vụ cho những yêu cầu mà chuyển dịch cơ cấu kinh tế đặt ra, mặt khác nó
cũng tác động trở lại tốc độ và qui mô của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Hiện nay ở nước ta, trình độ công nghệ đang là vấn đề bức xúc cần được quan tâm. So

sản xuất cầm chừng hoặc bị gián đoạn.
Từ những vấn đề trên, có thể nói rằng, không có vốn để thực hiện đầu tư, không có sự ra
đời của các doanh nghiệp và qui mô vốn đầu tư có ảnh hưởng rất lớn đến qui mô và chất lượng
hoạt động của các doanh nghiệp. Nói một cách ngắn gọn, đầu tư có ảnh hưỏng quyết định đến
sự ra đời và tồn tại của các doanh nghiệp.
2.2. Đầu tư đối với quá trình phát triển của doanh nghiệp
Hoạt động đầu tư có ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt là
tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Từ tình trạng hoạt động sản xuất kinh
doanh trong từng thời kỳ, các doanh nghiệp đã nảy sinh những quyết định đầu tư để thích nghi
và phát triển. Chẳng hạn, khi thị trường tiêu thụ bị suy yếu, doanh số bán ra bị giảm sút, các
doanh nghiệp phải đa dạng hoá sản phẩm và dịch vị của mình. Tức là, thực hiện đầu tư cho
việc đa dạng hoá gắn liền với một định hướng về thị trường tiêu thụ mới.
Cạnh tranh là điều bình thường trong nền kinh tế thị trường. Với sự mở cửa các nền kinh
tế và sự quốc tế hoá ngày càng tăng nhanh, cạnh tranh đã phát triển với một qui mô chưa từng
thấy. Chính sự cạnh tranh gay gắt này đã biến thương trường thành chiến trường. Kĩ thuật -
công nghệ đã trở thành vũ khí sống còn trong việc cạnh tranh. Nó dẫn đến những thay đổi sâu
xa về điều kiện sản xuất, khống chế và hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm.
Lịch sử kinh tế thế giới, đặc biệt là những năm gần đây cho thấy làn sóng đầu tư vào kĩ
thuật - công nghệ ngày càng dâng cao mạnh mẽ. Đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ nhằm mở
rộng qui mô sản xuất và tăng cường sức mạnh cạnh tranh luôn luôn là một nhu cầu bức xúc đối
với các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Như vậy là, nhờ có đầu tư, công nghệ - thiết bị của các doanh nghiệp được đổi mới, chất
lượng sản phẩm được nâng cao, sản phẩm ngày càng phong phú đáp ứng nhu cầu thị hiếu của
5
người tiêu dùng, từ đó tăng nhanh khả năng tiêu thụ và mang lại lợi nhuận nhiều hơn cho
doanh nghiệp. Điều đó khẳng định: Đầu tư đóng vai tró cực kì quan trọng đối với sự tồn tại và
phát triển của các doanh nghiệp.
Khi chuyển sang nến kinh tế thị trường, hầu hết các doanh nghiệp nước ta gặp khó khăn
trong hoạt động sản xuất - kinh doanh. Có nhiều nguyên nhân, song có một nguyên nhân quan
trọng là máy móc thiết bị. Theo đánh giá của Tổng cục Thống kê, phần lớn các máy móc thiết

phương pháp đã tôi luyện để quản lý việc sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được những mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội quan trọng.
Tuy nhiên, hiện nay chưa có một định nghĩa nào thật hoàn chỉnh về dự án đầu tư. Dự án
đầu tư được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau. Theo thời gian, quan niệm về dự án ngày
càng phát triển. Có người coi dự án là cách sử dụng các nguồn lực vào mục đích sản xuất nhất
định; Ngân hàng Thế giới, một tổ chức tài chính quốc tế lớn nhất và có vai trò quan trọng trong
việc cung cấp vốn, viện trợ kinh tế - kỹ thuật, thúc đẩy đầu tư vào các nước đang phát triển
thông qua các chương trình và dự án đầu tư đã xem dự án là tổng thể các chính sách, hoạt động
và chi phí có liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt những mục tiêu nào đó trong một
thời gian nhất định; Cũng có người cho rằng: dự án đầu tư là tập hợp các đối tượng được hình
thành và hoạt động theo một kế hoạch cụ thể để đạt được mục tiêu nhất định (các lợi ích) trong
một khoảng thời gian nhất định; Với tư cách là người đầu tư, mối quan tâm hàng đầu và mục
đích chủ yếu của chủ đầu tư là kiếm lời. Đây là một quá trình tìm kiếm rất khó khăn, vất vả.
Để đạt được điều này, nhà đầu tư phải nghiên cứu chi tiết, tỷ mỉ tất cả những vấn đề có liên
quan, ảnh hưởng đến tính sinh lời của công cuộc đầu tư đó. Tập hợp những kết quả nghiên cứu
này bằng văn bản được gọi là dự án đầu tư...
Dù được xem xét dưới bất kỳ góc độ nào thì dự án đầu tư cũng bao gồm các thành phần
chính như sau:
- Các mục tiêu cần đạt được khi thực hiện dự án. Cụ thể là khi thực hiện, dự án sẽ mang
lại những lợi ích gì cho đất nước nói chung và cho bản thân chủ đầu tư nói riêng. Những mục
tiêu này cần được biểu hiện bằng kết quả cụ thể như tạo nguồn thu cho ngân sách, giải quyết
việc làm cho người lao động, mang lại lợi nhuận cho chủ đầu tư...
- Các hoạt động của dự án. Dự án phải nêu rõ những hành động cụ thể phải thực hiện, địa
điểm diễn ra các hoạt động của dự án, thời gian cần thiết để hoàn thành, và các bộ phận có
trách nhiệm thực hiện những hành động đó. Cần lưu ý rằng các hoạt động đó có mối quan hệ
với nhau vì tất cả đều hướng tới sự thành công của dự án và các hoạt động đó diễn ra trong một
môi trường không chắc chắn. Môi trường dự án không phải là môi trường hiện tại mà là môi
trường tương lai.
- Các nguồn lực. Hoạt động của dự án không thể thực hiện được nếu thiếu các nguồn lực
về vật chất, tài chính, con người... Vì vậy, phải nêu rõ các nguồn lực cần thiết cho dự án. Tổng

hội, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhà nước, các dự án đầu tư quan trọng của quốc gia trong
từng thời kỳ (điện, xi măng, sắt, thép...). Dự án sẽ được phê duyệt, cấp giấy phép đầu tư khi
mục tiêu của dự án phù hợp với đường lối, chính sách phát triển kinh tế của đất nước, hoạt
động của dự án không gây ảnh hưởng đến môi trường và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội.
Khi dự án đã được phê chuẩn thì các bên liên quan đến dự án phải tuân thủ theo nội dung yêu
cầu của dự án. Nếu nảy sinh mâu thuẫn, tranh chấp giữa các bên liên quan thì dự án là một
trong những cơ sở pháp lý để xem xét, giải quyết.
Đối với các nhà tài trợ. Khi tiếp nhận các dự án xin tài trợ vốn của chủ đầu tư, các tổ
chức tài chính - tín dụng sẽ xem xét các nội dung cụ thể của dự án, đặc biệt là về mặt kinh tế -
tài chính để đi đến quyết định có đầu tư hay không đầu tư cho các dự án đó. Dự án chỉ được
đầu tư vốn nếu mang tính khả thi theo quan điểm của nhà tài trợ và ngược lại. Khi chấp nhận
đầu tư, dự án là cơ sở để các tổ chức này lập kế hoạch cấp vốn hoặc cho vay theo mức độ hoàn
thành kế hoạch đầu tư, đồng thời lập kế hoạch thu hồi vốn vay.
3. Yêu cầu của dự án
Soạn thảo dự án là một công việc khó khăn, phức tạp. Không thể xem soạn thảo dự án là
việc làm chiếu lệ để tìm đối tác hoặc vay vốn đầu tư. Để một dự án đầu tư có tính thuyết phục
và thu hút các bên tham gia, khi soạn thảo dự án cần đảm bảo đầy đủ những yêu cầu cơ bản
sau:
Một là, dự án phải có tính khoa học. Đây là yêu cầu quan trọng hàng đầu của dự án đầu
tư. Đảm bảo yêu cầu này sẽ tạo tiền đề cho việc triển khai và thực hiện thành công dự án. Tính
khoa học của dự án được thể hiện trên những khía cạnh chủ yếu sau:
- Về số liệu thông tin. Những dữ liệu, thông tin để xây dựng dự án phải đảm bảo trung
thực, chính xác, tức là phải chứng minh được nguồn gốc và xuất xứ của những thông tin và
những số liệu đã thu thập được (do các cơ quan có trách nhiệm cung cấp, nghiên cứu tìm hiểu
thực tế...).
- Về phương pháp lý giải. Các nội dung của dự án không tồn tại độc lập, riêng rẽ mà
chúng luôn nằm trong một thể thống nhất, đồng bộ. Vì vậy, quá trình phân tích, lý giải các nội
dung đã nêu trong dự án phải đảm bảo logic và chặt chẽ.
- Về phương pháp tính toán. Khối lượng tính toán trong một dự án thường rất lớn. Do đó,
khi thực hiện tính toán các chỉ tiêu cần đảm bảo đơn giản và chính xác. Đối với các đồ thị, các

được những yếu tố sẽ chi phối hoạt động đầu tư trong tương lai. Những nội dung, tính toán về
quy mô sản xuất, chi phí, giá cả, doanh thu, lợi nhuận... trong dự án chỉ có tính chất dự trù, dự
báo. Thực tế thường xảy ra không hoàn toàn đúng như dự báo. Thậm chí, trong nhiều trường
hợp, thực tế xảy ra lại khác xa so với dự kiến ban đầu trong dự án. Vì vậy, dự án có tính phỏng
định. Nhưng sự phỏng định phải dựa trên những căn cứ khoa học, trung thực và khách quan
nhằm giảm thiểu rủi ro, độ bất định trong quá trình thực hiện dự án.
4. Chu trình dự án
Một công cuộc đầu tư được xem như bắt đầu từ ý tưởng về dự án đầu tư. Bất kỳ một dự
án đầu tư nào cũng được hình thành từ một ý tưởng ban đầu của nhà đầu tư. Tuy ý tưởng chỉ là
một sự “hình dung” mong muốn của nhà đầu tư, nhưng cũng phải dựa trên những căn cứ cụ
thể, vì nếu không ý tưởng đó sẽ trở thành viễn tưởng.
Từ ý tưởng của dự án đến đến việc xây dựng, thực hiện và kết thúc dự án là cả một quá
trình. Quá trình này thường được chia làm 3 giai đoạn và trong mỗi giai đoạn lại gồm rất nhiều
công việc diễn ra vừa tuần tự vừa đan xen lẫn nhau. Sau đây là các giai đoạn với các bước và
công việc chính của một chu trình dự án:
Giai đoạn 1: Chuẩn bị đầu tư.
Giai đoạn này gồm những bước chính như sau:
- Nghiên cứu cơ hội đầu tư.
- Nghiên cứu tiền khả thi.
- Nghiên cứu khả thi.
- Thẩm định để ra quyết định đầu tư.
Nghiên cứu cơ hội đầu tư là nghiên cứu những khả năng, những điều kiện để chủ đầu tư
có thể tiến hành đầu tư. Mục đích của nó là tìm ra được cơ hội đầu tư phù hợp nhất đối với chủ
đầu tư. Việc nghiên cứu cơ hội đầu tư có tác dụng xác định một cách nhanh chóng và ít tốn
9
kém nhưng lại dễ thấy về các khả năng đầu tư trên cơ sở những thông tin cơ bản đưa ra đủ để
làm người có khả năng đầu tư cân nhắc, xem xét và đi đến quyết định có triển khai tiếp sang
giai đoạn nghiên cứu sau hay không.
Nghiên cứu tiền khả thi là sự lựa chọn sơ bộ cơ hội đầu tư. Mặc dù mới chỉ là sự lựa
chọn sơ bộ cơ hội đầu tư, nhưng không vì thế mà chủ đầu tư coi nhẹ, giảm bớt nội dung nghiên

Đây là giai đoạn cuối cùng của dự án đầu tư. Thực chất của giai đoạn này là đưa công
trình đã được xây dựng, lắp đặt xong vào vận hành, khai thác. Tức là, thực hiện tổ chức sản
xuất kinh doanh nhằm đạt được các mục tiêu của dự án đề ra, trong đó mục tiêu chủ yếu là thu
hồi vốn và có lợi nhuận.
Ở những năm đầu, khi dự án mới đi vào hoạt động, do tình hình chưa ổn định nên công
suất thực tế đạt được không cao. Vì vậy, ở năm thứ nhất, công suất thực tế chỉ nên tính khoảng
50% công suất thiết kế, năm thứ hai ở mức cao hơn, khoảng 75%. Công suất thiết kế thực tế
đạt được ở mức cao nhất thường là từ năm thứ 3 trở đi và khi đó cũng chỉ nên tính ở mức xấp
xỉ 90% công suất thiết kế.
Tóm lại, chu trình dự án là các giai đoạn và các bước mà một dự án đầu tư cần trải qua
bắt đầu từ thời điểm có ý tưởng đầu tư cho đến thời điểm kết thúc dự án.
II. NỘI DUNG CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1. Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư
Dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất
- kinh doanh, phát triển kinh tế, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và hoạt động tài trợ. Tuỳ
theo từng dự án cụ thể để nghiên cứu, xác định những cơ sở về sự cần thiết phải tiến hành đầu
tư theo dự án đó. Tuy nhiên, do hoạt động đầu tư mang tính phức tạp, có liên quan, ảnh hưởng
10
và chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố, trong đó đặc biệt là tình hình kinh tế của mỗi vùng,
mỗi khu vực và mỗi quốc gia. Vì vậy, có thể nói rằng, tình hình kinh tế tổng quát là cơ sở chủ
yếu nhất để nghiên cứu sự cần thiết phải thực hiện các dự án đầu tư. Khi nghiên cứu tình hình
kinh tế tổng quát có liên quan đến dự án đầu tư cần xem xét trên các khía cạnh chủ yếu sau:
- Trước hết là điều kiện về địa lý tự nhiên. Các yếu tố thuộc điều kiện về địa lý tự nhiên
như địa hình, khí hậu, địa chất, tài nguyên... có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và hoạt
động của dự án đầu tư, tác động mạnh mẽ đến “đầu vào” và “đầu ra” của các dự án.
- Điều kiện về dân số và lao động. Đây là yếu tố có liên quan, ảnh hưởng đến nhu cầu và
khuynh hướng tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ do dự án tạo ra, đồng thời tác động đến nguồn lao
động cung cấp cho dự án.
- Tình hình chính trị, các chính sách và hệ thống luật pháp của nhà nước là những yếu tố
có liên quan, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư và tâm lý của nhà đầu tư. Sự ổn định về chính

lựa chọn mục tiêu và quy mô của dự án. Mục đích chủ yếu của nghiên cứu thị trường là nhằm:
- Xác định thị trường hiện tại của sản phẩm dự định sản xuất, đánh giá tiềm năng phát
triển của thị trường này trong tương lai, đồng thời phân tích các yếu tố kinh tế và phi kinh tế
tác động đến nhu cầu sản phẩm.
- Xây dựng các biện pháp khuyến thị và tiếp thị cần thiết giúp cho việc tiêu thụ sản phẩm
của dự án.
- Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm so với sản phẩm cùng loại có sẵn và các
sản phẩm có thể sau này xuất hiện trên thị trường.
Về mặt nội dung, nghiên cứu thị trường dự án bao gồm các vấn đề chính như sau:
Một là, lựa chọn sản phẩm dự án. Một sản phẩm được sản xuất ra là nhằm đáp ứng nhu
11
cầu nào đó của xã hội. Tuy nhiên, nhu đó rất đa dạng và có tầm quan trọng khác nhau tuỳ theo
mỗi cá nhân và tuỳ theo mỗi xã hội. Vì vậy, khi nghiên cứu lựa chọn sản phẩm của dự án cần
xác định rõ loại sản phẩm và đối tượng tiêu thụ sản phẩm đó. Những vấn đề cần được xem xét,
làm rõ khi lựa chọn sản phẩm dự án là:
- Đặc điểm, công dụng chủ yếu của sản phẩm là gì? Sản phẩm dự án đáp ứng nhu cầu
sản xuất hay nhu cầu của các cá nhân?
- Ai là khách hàng chính tiêu thụ sản phẩm dự án? Ai sẽ là những khách hàng mới ?
- Sản phẩm dự án dự định sản xuất đang ở trong giai đoạn nào của chu kì sống? Nếu sản
phẩm dự án dự định sản xuất đang ở vào những giai đoạn cuối của chu kì sống thì việc thực
hiện dự án đó rõ ràng là bất lợi, không nên tiến hành.
Hai là, xác định nhu cầu thị trường hiện tại. Xác định nhu cầu hiện tại của sản phẩm mà
dự án dự định sản xuất là điều cần thiết đối với nhà đầu tư. Để xác định được mức tiêu thụ
hiện tại về loại sản phẩm của dự án cần thu thập các số liệu như số liệu sản xuất trong năm của
các cơ sở hiện có, số lượng nhập khẩu và xuất khẩu trong năm và lượng tồn kho cuối năm. Cần
lưu ý rằng, mức tiêu thụ hiện tại có thể phản ánh đúng hoặc chưa đúng như cầu hiện tại.
Đối với những mặt hàng không còn sự khan hiếm về sản phẩm, hoặc mức độ khan hiếm
thấp thì mức tiêu thụ hiện tại sẽ phản ánh đúng nhu cầu thị trường hiện taị.
Đối với những sản phẩm có sự khan hiếm, sản xuất ra đến đâu đều được tiêu thụ hết, có
thêm nữa vẫn bán được thì mức tiêu thụ hiện tại chưa phản ánh đúng nhu cầu thị trường hiện

và mức tiêu thụ sản phẩm dự án dự định sản xuất.
Về dân số, cũng có ảnh hưởng quan trọng đến nhu cầu thị trường theo hướng “đồng
biến”, nhất là các mặt hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, may mặc...
12
Bốn là, phân tích khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Cạnh tranh là điều thường xuyên
xảy ra trong nền kinh tế thị trường do có nhiều doanh nghiệp cùng sản xuất một loại sản phẩm.
Quá trình này nhiều lúc diễn ra rất gay gắt, biến thương trường thành chiến trường. Nhiều
doanh nghiệp và nhà đầu tư không đủ sức cạnh tranh dẫn đến bị phá sản.
Vì vậy, phân tích đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm dự án là điều tất yếu và
cần được coi trọng.
Trước hết, cần phân tích, đánh giá tình hình và mức độ cạnh tranh. Cụ thể là, xác định tất
cả các nhà cạnh tranh chính ở hiện tại và tương lai. Thu nhập các thông tin về tình hình sản
xuất - kinh doanh của họ có ước tính đến sự thay đổi trong tương lai để đánh giá điểm mạnh và
điểm yếu của “đối thủ” cạnh tranh.
Sau khi phân tích, đánh giá các “đối thủ”, cần phân tích đánh giá khách quan ưu thế và
bất lợi của dự án trong cạnh tranh trên các mặt chủ yếu như chi phí sản xuất, khả năng tài
chính, kỹ năng quản lý và kỹ thuật. Điều quan trọng là cần xác định rõ những ưu thế đó của dự
án sẽ tồn tại được bao lâu và những bất lợi của dự án có khắc phục, hạn chế được hay không?
Bước quan trọng trong quá trình cạnh tranh sản phẩm do dự án tiến hành sản xuất nhằm
chiếm lĩnh thị trường như đã dự tính là cần sử dụng các công cụ để cạnh tranh trên hai khía
cạnh. Cạnh tranh về phương diện giá cả và khả năng cạnh tranh về giá trị sử dụng.
Để cạnh tranh về giá cả cần thu thập giá bán của các sản phẩm cùng loại đang được tiêu
thụ trên thị trường do các doanh nghiệp hiện có sản xuất. Từ đó, dự kiến giá bán sản phẩm của
dự án sao cho có thể cạnh tranh được mà vẫn có lời.
Nhìn chung, giá cả sản phẩm của dự án phải thấp hơn hoặc tối đa là cao bằng giá cả sản
phẩm của các sản phẩm cùng loại đang có mặt trên thị trường mới có lợi thế trong cạnh tranh.
Khả năng cạnh tranh về giá trị sử dụng được thể hiện chủ yếu ở chất lượng sản phẩm,
kiểu dáng công nghiệp, hình thức bao bì... Vì vậy, cần nêu rõ những ưu điểm nổi bật của chất
lượng sản phẩm, nói rõ sản phẩm đạt tiêu chuẩn cấp nào, đồng thời cũng cần nêu rõ những tiện
lợi của sản phẩm trong sử dụng, di chuyển và khả năng đáp ứng được thị hiếu của người tiêu

để xác định những thông tin cần thiết khác.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu thị trường không phải chỉ là thu lượm các tài liệu, thông tin
về tình hình quá khứ, hiện tại và tương lai của sản phẩm dự án dự định sản xuất mà còn cần có
các chuyên gia với những hiểu biết về sản phẩm dự án và những sản phẩm có thể thay thế cũng
như những kiến thức về qui luật và cơ chế hoạt động của thị trường, pháp luật, thương mại...
để có thể lựa chọn, phân tích và rút ra được những kết luận cụ thể và xác đáng.
3. Nghiên cứu phương diện kỹ thuật - công nghệ của dự án
Mục đích chính của việc nghiên cứu kĩ thuật - công nghệ của dự án là nhằm xác định,
kiểm tra các thông số đầu vào, quy trình sản xuất, địa điểm sản xuất và nhu cầu để sản xuất
một cách tối ưu và phù hợp nhất với những điều kiện hiện có mà vẫn đảm bảo các yêu cầu về
chất lượng và số lượng sản qua nghiên cứu thị trường.
Nghiên cứu phương diện kĩ thuật - công nghệ là một trong những tiền đề quan trọng cho
việc phân tích về mặt kinh tế - tài chính của dự án. Không có số liệu của phân tích kỹ thuật thì
không thể phân tích về mặt kinh tế tài chính. Quyết định đúng đắn trong thẩm định kỹ thuật -
công nghệ có tác dụng to lớn trong việc tiết kiệm các nguồn lực và tranh thủ được các cơ hội
để tăng thêm nguồn lực.
Mặt khác, kỹ thuật - công nghệ của từng dự án phụ thuộc vào các ngành kinh tế - kỹ
thuật và là một vấn đề rất phức tạp nhất là đối với dự án lớn. Vì vậy, cần có những nghiên cứu
hỗ trợ bổ sung cho các dự án lớn, phức tạp về kĩ thuật với sự tham gia của các chuyên gia có
am hiểu sâu sắc về từng lĩnh vực kĩ thuật cụ thể đó.
Tuỳ thuộc vào từng loại dự án cụ thể mà nội dung nghiên cứu kĩ thuật - công nghệ có nội
dung và mức độ phức tạp khác nhau. Tuy nhiên, những nội dung cơ bản cần tập trung nghiên
cứu bao gồm các vấn đề chính sau đây:
Một là, lựa chọn hình thức đầu tư. Việc nghiên cứu lựa chọn hình thức đầu tư mới hay
đầu tư chiều sâu, cải tiến kĩ thuật, mở rộng qui mô sản xuất cần dựa trên một số cơ sở như tính
chất sản phẩm và điều kiện cụ thể của các cơ sở hiện có. Thông thường, đối với loại sản phẩm
hoàn toàn mới cần phải đầu tư mới, ít khi tận dụng được các cơ sở hiện có. Trong trường hợp
cần tăng số lượng sản phẩm hoặc đa dạng hoá sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường,
thông thường sẽ thực hiện hình thức đầu tư chiều sâu, cải tạo, mở rộng và đổi mới thiết bị,
công nghệ cơ sở hiện có.

và công suất tối thiểu. Khi xác định công suất của dự án lớn hay nhỏ cần căn cứ vào các yếu tố
chủ yếu sau đây:
+ Nhu cầu của thị trường hiện tại và tương lai đối với sản phẩm của dự án.
+ Khả năng mở rộng chiếm lĩnh thị trường của sản phẩm do dự án dự định sản xuất.
+ Khả năng cung cấp các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất, nhất là đối với nguyên
vật liệu phải nhập khẩu.
+ Khả năng mua thiết bị - công nghệ có công suất phù hợp đối với dự án.
+ Khả năng về vốn đầu tư và năng lực về tổ chức, điều hành sản xuất - kinh doanh.
Đa số các dự án đều khởi đầu bằng cách: một mặt, phát triển dần mức thương vụ và xâm
nhập thị trường tiêu thụ, mặt khác điều chỉnh dần các yếu tố nguyên vật liệu, lao động, thiết
bị... theo sự lựa chọn để tăng dần công suất của dự án, vì ngay cả nếu có sản xuất hết công suất
trong những năm đầu thì khả năng tiêu thụ thường vẫn gặp khó khăn. Nói cách khác, việc xác
định một cách rõ ràng các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn công suất của dự án thường gặp khó
khăn. Vì vậy, trong thực tế thường áp dụng phương pháp phân kì đầu tư, đưa công suất tăng
dần lên cho đến khi đạt được công suất yêu cầu.
Ba là, nghiên cứu xác định chương trình sản xuất và nhu cầu các yếu tố đầu vào cho sản
xuất.
Nghiên cứu xác định chương trình sản xuất bao gồm các vấn đề chính như xác định cơ
cấu sản phẩm, chất lượng và giá cả sản phẩm. Về cơ cấu sản phẩm, cần xác định rõ tỉ trọng của
mỗi loại sản phẩm cũng như bán thành phẩm và các phế liệu thu hồi theo từng năm sản xuất và
cho cả đời dự án.
Về chất lượng sản phẩm, cần xác định tiêu chuẩn của sản phẩm phân theo nhiều cấp
hạng thông qua các chỉ tiêu như đặc tính cơ lý hoá, kiểu dáng công nghiệp, hình thức, bao bì,
nhãn mác công dụng và cách sử dụng.
Về giá cả sản phẩm, thông thường giá bán sản phẩm được xác định trên cơ sở chi phí giá
thành. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường giá cả chủ yếu do người mua và người bán thoả
thuận nên xác định giá bán sản phẩm là điều phức tạp, nếu không có kinh nghiệm dễ dẫn đến
tình trạng hoặc bị thua lỗ hoặc không tiêu thụ được sản phẩm. Khi xác định giá cả sản phẩm
trong dự án cần chú ý một số khía cạnh như vừa sức mua của người tiêu dùng, cân đối với các
mặt hàng khác trên thị trường, có thể cạnh tranh được với sản phẩm cùng loại đồng thời bảo

và từ thể hiện khả năng dẫn điện, điện trở, từ tính...
Về nguồn và khả năng cung cấp nguyên vật liệu. Nguồn và khả năng cung cấp nguyên
vật liệu, nhất là nguyên vật liệu chính là điều kiện quan trọng để xác định tính sống còn cũng
như tầm cỡ đa số các dự án.
Nguồn cung cấp nguyên vật liệu chủ yếu phải đảm bảo cho dự án hoạt động bình thường
trong suốt đời dự án. Cần chú trọng khai thác các nguồn trong nước, thường là rẻ hơn, đỡ
phiền hà hơn khâu nhập khẩu và tiết kiệm được ngoại tệ, đồng thời hỗ trợ thêm cho các ngành
khác cùng phát triển. Chỉ nên nhập khẩu những nguyên vật liệu trong nước không có hoặc
không đẩm bảo yêu cầu về chất lượng.
Về kế hoạch cung ứng và giá mua nguyên vật liệu. Kế hoạch cung ứng nguyên vật liệu
có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất của dự án sau này. Trên cơ sở nhu cầu sử dụng
nguyên vật liệu hằng năm cho dự án, cần nghiên cứu và lập kế họach thu mua, cung ứng để bảo
đảm cho việc cung cấp nguyên vật liệu cho dự án được đầy đủ và đều đặn, không ảnh hưởng
đến quá trình sản xuất. Có thể tổ chức thu mua trực tiếp, qua các màng lưới và tổ chức khác.
Ngoài ra, cần phân tích giá mua nguyên vật liệu vì đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng
đến hiệu quả của dự án. Đối với nguyên vật liệu trong nước, giá mua hiện tại có đối chiếu với
giá trong quá khứ và chiều hướng trong tương lai. Các chi phí thu mua, vận chuyển cần được
tính đầy đủ. Trong trường hợp nguyên vật liệu nhập khẩu, nên áp dụng giá CIF cùng với các
chi phí bốc dỡ, lệ phí cảng, phí bảo hiểm, các loại thuế, chi phí chuyên chở đến nhà máy...
+ Về lao động. Lao động là yếu tố quan trọng quyết định mọi hoạt động trong dự án. Vì
vậy, cần nghiên cứu lao động cho dự án trên các khía cạnh như nhu cầu về lao động, nguồn lao
động và chi phí lao động.
Về nhu cầu lao động. Trên cơ sở yêu cầu kĩ thuật của sản xuất, sơ đồ bộ máy quản lý
điều hành để ước tính số lượng lao động trực tiếp và bậc thợ tương ứng cho mỗi loại công việc
và số lượng lao động gián tiếp với trình độ lao động thích hợp.
Về nguồn lao động. Cần chú trọng xem xét lao động trong nước và tại địa phương để
tuyển dụng đào tạo. Có thể tuyển dụng trực tiếp hoặc thông qua các cơ quan chuyên môn. Nếu
phải đào tạo, phải có chương trình đào tạo lao động chuyên môn, lập kế hoạch và dự tính chi
phí. Việc đào tạo có thể tiến hành ở trong nước hoặc nước ngoài (nếu trong nước không đủ
điều kiện) hoặc thuê chuyên gia nước ngoài vào huấn luyện ở trong nước.

xây dựng dự án là xem xét các khía cạnh về tự nhiên, kinh tế - xã hội của nơi xây dựng dự án
để thấy rõ những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện dự án. Trước hết, cần lựa chọn một khu
vực tương đối rộng mà trong đó có thể có nhiều địa điểm khác nhau để xét chọn. Khi lựa chọn
khu vực địa điểm, những vấn đề cần phân tích đánh giá bao gồm:
- Chủ trương, chính sách của Nhà nước về phân bổ các ngành, các cơ sở sản xuất. Các
chính sách kinh tế - xã hội, đặc biệt là chính sách khuyến khích đầu tư có ảnh hưởng rất lớn
đến sự hoạt động và hiệu quả sau này của dự án. Các chủ trương chính về phân bổ ngành, cơ
sở sản xuất có ảnh hưởng đến sự ô nhiễm môi trường, sự phát triển kinh tế đồng đều giữa các
vùng... Thông thường, đầu tư vào những vùng Nhà nước khuyến khích đầu tư sẽ được sự trợ
giúp về vốn, kĩ thụât, tiêu thụ sản phẩm, thuế...
- ảnh hưởng của địa điểm đến quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm của dự án. Đây là
một vấn đề hết sức quan trọng đối với việc lựa chọn địa điểm của hầu hết các dự án. Cách tiếp
cận đơn giản nhất là tính toán chi phí thu mua, vận chuyển nguyên vật liệu và chi phí tiêu thụ
sản phẩm ở nhiều địa điểm khác nhau, được xác định qua khả năng cung cấp nguyên vật liệu
và tiêu thụ sản phẩm của dự án. Lựa chọn được địa điểm vừa gần nơi cung cấp nguyên vật liệu
vừa gần nơi tiêu thụ sản phẩm là điều tốt nhất. Trường hợp không thể được, cần căn cứ vào
từng dự án cụ thể để lựa chọn cho phù hợp.
- Cơ sở hạ tầng của nơi xây dựng dự án. Trước hết, cần nghiên cứu xem mức độ thích
hợp của cơ sở hạ tầng đến mức nào? Có cần phải đầu tư thêm không? Nếu đầu tư chi phí hết
bao nhiêu? Tuỳ theo địa điểm cụ thể của từng dự án mà đi sâu nghiên cứu vấn đề giao thông có
liên quan đến có liên quan đến tình hình cung cấp nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm. Cụ thể
là cần xem xét từng loại giao thông đối với dự án.
Đối với giao thông đường biển, cần làm rõ các chi tiết về tiện nghi ở cảng, độ sâu, công
suất bốc dỡ hàng, cỡ tàu sẽ sử dụng...
Đối với giao thông đường bộ, cần làm rõ độ rộng của đường và cầu, tình trạng chất
lượng của đường và luật lệ, phí giao thông...
Đối với giao thông đường sắt, cần xem xét khả năng vận tải hàng hoá, các phương tiện
bốc dỡ, chi phí vận tải từ ga chính đến nơi xây dựng dự án...
17
Đối với giao thông đường sông, cần xem xét về bề rộng, độ sâu của kênh rạch, sông

Công nghệ được lựa chọn phải mang tính hiện đại, kinh tế, đảm bảo vệ sinh môi trường.
Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra khi nghiên cứu công nghệ của dự án là phải lựa chon được công nghệ
thích hợp. Tính thích hợp được thể hiện trên những khia cạnh chủ yếu là đảm bảo công suất
của dự án; đảm bảo chất lượng sản phẩm theo yêu cầu của dự án; chi phí chuyển giao công
nghệ và nhập thiết bị không quá cao; công nghệ càng hiện đại càng tốt nếu các yếu tố nói trên
đạt như nhau.
Thông thường công nghệ và thiết bị có mối quan hệ tuỳ thuộc lẫn nhau. Lựa chọn thiết bị
được tiến hành trên cơ sở công nghệ đã lựa chọn. Thiết bị là bộ phận chủ lực của tài sản cố
định, có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm và toàn bộ quá trình sản xuất kinh
doanh. Do vậy, khi chọn thiết bị chú ý chọn của những hãng nổi tiếng để đảm chất lượng của
thiết bị và giá cả để tránh lãng phí về năng lực sản xuất cần chú ý tính đồng bộ của thiết bị.
Mặt khác, trong quá trình sử dụng, sự hao mòn giữa các bộ phận của thiết bị không đều nhau,
nên cần chú ý đến phụ tùng sửa chữa, thay thế của các thiết bị được lựa chọn.
Một vấn đề quan trọng cần phân tích xem xét là chi phí. Chi phí thiết bị trong các dự án,
nhất là các dự án công nghiệp thường rất lớn, vì vậy, khi lựa chọn cần đưa ra tối thiểu 2
phương án để lựa chọn. Việc lựa chọn căn cứ chủ yếu vào hiệu quả tài chính của từng phương
án.
Sau khi tính toán, phân tích, so sánh các phương án công nghệ, thiết bị trong dự án cần
nêu rõ các vấn đề sau đây:
+ Tên và các đặc điểm chủ yếu của công nghệ đã lựa chọn.
+ Sơ đồ tiến trình công nghệ chủ yếu của dự án.
18
+ Nguồn công nghệ và phương thức chuyển giao công nghệ.
+ ảnh hưởng do công nghệ, thiết bị của dự án đến môi trường và các giải pháp xử lý.
+ Lập danh mục trang thiết bị cần thiết cho dự án.
Tóm lại, công nghệ và thiết bị được lựa chọn phải phù hợp với điều kiện sản xuất ở Việt
Nam. Các điều kiện đó thông thường là điều kiện về khí hậu, thời tiết, trình độ người lao
động...
Sáu là, nghiên cứu kĩ thuật xây dựng công trình của dự án. Công trình xây dựng của dự
án bao gồm các hạng mục công trình nhằm tạo điều kiện và đảm bảo cho cho dây chuyền thiết

mọi khía cạnh kĩ thuật, nghĩa là dự án có thể thực hiện được, cần phải ước tính thời gian cần
thiết để thực hiện các công việc đó. Nói khác đi là phải phải lập lịch trình thực hiện dự án.
Công trình đầu tư bao gồm nhiều hạng mục, quá trình thực hiện việc xây lắp đòi hỏi một
trình tự nhất định, khoa học để đảm bảo đưa công trình vào vận hành khai thác đúng thời điểm
dự kiến. Có nhiều công trình có thể tiến hành xây - lắp song song hoặc phải được hoàn tất
trước khi công trình khác bắt đầu.
Mặt khác, đối với ngân hàng là cơ quan tài trợ vốn, lịch trình thực hiện liên quan chặt
chẽ với tíên độ rút vốn vay của dự án, do đó ngân hàng cần nắm rõ lịch trình này để chủ động
trong viêc tạo lập nguồn vốn cho vay nếu ký hợp đồng tín dụng với chủ đầu tư. Cụ thể, cần
nghiên cứu và nêu rõ các vấn đề như thời gian hoàn thành từng hạng mục và cả công trình;
những hạng mục nào phải hoàn thành trước, những hạng mục nào có thể hoàn thành sau,
những công việc nào có thể tiến hành song song...
4. Nghiên cứu phương diện quản trị nhân lực dự án
Nghiên cứu tổ chức quản trị dự án bao gồm nghiên cứu sơ đồ tổ chức bộ máy, phân rõ
19

Trích đoạn Nghiờn cứu và thẩm định phương diện tổ chức quản trị nhõn sự Thẩm định dự ỏn bằng phương phỏp phõn tớch tài chớnh giản đơn LãI suất chiết khấu
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status