MỘT SỐ VẤN ĐỀ QUAN TÂM
- Cac loai giay to co gia ma NHTM co the phat hanh:
1) Chứng chỉ tiền gửi (Certificate of deposit / CDs/ CD) là một loại Giấy tờ có giá do ngân hàng
phát hành để huy động vốn từ các tổ chức và cá nhân khác.
2) Trái phiếu:
+ Đối tượng phát hành có thể là doanh nghiệp (trái phiếu doanh nghiệp), một tổ chức chính
quyền như Kho bạc nhà nước (trái phiếu kho bạc), chính quyền (công trái hoặc trái phiếu chính
phủ). Đối tượng phát hành sẽ qui định về thời hạn và lãi suất,
+ Đối tượng mua trái phiếu, hay trái chủ, có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp hoặc chính phủ.
Tên của trái chủ có thể được ghi trên trái phiếu (trường hợp này gọi là trái phiếu ghi danh) hoặc
không được ghi (trái phiếu vô danh).
+ Thời hạn: có thể dưới 1 năm (trái phiếu ngắn hạn) hay lâu hơn (5, 7 hay 10 năm, )
3) Tín phiếu:
+ Là một giấy chứng nhận nợ của cá nhân, của công ty, trong đó các điều kiện hai bên tự thõa
thuận với nhau (ghi rõ thời gian trã lại vốn và tỹ lệ lời trên vốn)
+ Là giấy tờ có giá do chính phủ , ngân hàng nhà nước hay doanh nghiệp phát hành, mục đích là
huy động vốn trong ngắn hạn (dưới 1 năm)
+ Ngành ngân hàng dùng chữ chứng nhận tiền gởi định kỳ của khách hàng
4) Kỳ phiếu:
+ Là một loại chứng khoán, trong đó người ký phát cam kết sẽ trả một số tiền nhất định vào một
ngày nhất định cho người hưởng lợi được chỉ định trên lệnh phiếu hoặc theo lệnh của người
hưởng lợi trả cho một người khác.
+ Trả một số tiền nhất định một cách vô điều kiện & ghi rõ tên người thụ hưởng
+ Nếu xét về bản chất kỳ phiếu là một loại trái phiếu ngắn hạn với thời gian đáo hạn là khoảng
trên dưới 1 năm nhưng không quá 7,8 năm và thường do các ngân hàng thương mại phát hành.
+ Thời hạn thanh toán ngắn hơn là điểm khác biệt chính giữa kỳ phiếu và trái phiếu
+ Kỳ phiếu (và hối phiếu) nó dùng thanh toán cho các bên xuất nhập khẩu
- Mot so giay to co gia khac:
- Hối phiếu (Bill of exchange, draft):
+ Là mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện dưới dạng văn bản do một người ký phát (người ký phát hối
phiếu: drawer) cho một người khác (người thụ tạo: drawee), yêu cầu người này ngay khi nhìn
cơ cấu lại lần đầu; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả
nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả
chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn.
2. Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với các nhóm nợ quy định tại Khoản 1 Điều này như sau:
a) Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): 0%;
b) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý): 2%;
c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): 25%;
d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ mất vốn): 50%;
đ) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn): 100%.
- cac rui ro NH gap phai ( RR TD, RR LS, RR TK, RR tỷ gia, nguyen nhan va cac bien phap
khac phuc, )
1) Rủi ro tín dụng (Credit risk): Nguy cơ bên đi vay không thể thanh toán cản gốc lẫn lãi theo
thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng.
Rủi ro tín dụng là thuộc tính vốn có của hoạt động cho vay và góp vốn, phát sinh trong trường
hợp việc thanh toán bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là mất khả năng thanh toán. Điều này gây ảnh
hưởng nghiêm trọng đến dòng luân chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của
ngân hàng.
Nguyên nhân:
- Khách quan: Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định(Sự biến động quá nhanh và không
dự đoán được của thị trường thế giới, Rủi ro tất yếu của quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập
quốc tế, Sự tấn công của hàng nhập lậu, Thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tư một cách hợp lý đã
dẫn đến khủng hoảng thừa về đầu tư trong một số ngành), Rủi ro do môi trường pháp lý chưa
thuận lợi (Sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấp địa phương, Sự thanh tra, kiểm tra, giám
sát chưa hiệu quả của NHNN, Hệ thống thông tin quản lý còn bất cập)
- Chủ quan: Rủi ro do các nguyên nhân từ phía khách hàng vay (Sử dụng vốn sai mục đích,
không có thiện chí trong việc trả nợ vay, Khả năng quản lý kinh doanh kém, Tình hình tài chính
doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch), Quản lý rủi ro tín dụng của các NHTM (Lỏng lẻo
trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng, Bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên
môn nghiệp vụ, Thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay, Sự hợp tác giữa các NHTM quá lỏng
lẻo, vai trò của CIC chưa thực sự hiệu quả).
lãi suất đồng ngoại tệ và nội tệ.
- phan tich TCDN nen hoc ky( cac loai BCTC, y nghia, cac HS chi tieu TC can tham dinh, )
- Tai sao khi tham dinh cho vay TDung lai can co bang cham diem tin dung, dieu J quan
trong nhat khi quyet dinh cho vay Tdung ( Tư cách khách hàng QT nhất)
- Bảo lãnh (KN, các loại BL, )
- Nghiệp vụ chiết khấu ( phan biet hối phiếu, lệnh phiếu, rủi ro của NH khi CK : bên thanh
toán mất kn thanh toán, phá sản, bị bên thụ hưởng chủ động lừa, hoặc bên thanh toán và bên
thụ hưởng hợp tác lphats hành thương phiếu khống ma không có giao dịch thương mại tồn
tại, Các biện pháp phòng ngừa rủi ro, )
Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển
nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán.
Hối phiếu và lệnh phiếu thường được dùng trong quan hệ tín dụng thương mại giữa người mua
và người bán, khi người mua chưa trả tiền cho người bán ngay mà nợ lại về sau. Lúc đó người
cho vay là người bán, và người đi vay là người mua.
Hiểu nôm na thế này:
Hối phiếu do người Bán kí phát,gửi cho người mua , yêu cầu người mua khi nhìn thấy nó thì phải
trả nợ cho người bán.
Lệnh phiếu do người Mua kí phát, đưa người cho vay giữ, chứng nhận là có nợ của người cho
vay 1 khoản tiền và sẽ trả vào 1 ngày nào đó.
Về thời điểm kí phát :
Với hối phiếu thì lúc nào cần đòi tiền, người bán sẽ kí phát, thường là sau khi hàng đã được
chuyển đến người mua.
Với lệnh phiếu thì người mua phải kí phát và đưa cho người bán giữ (kiểu như làm thế chấp ấy )
rồi mới được lấy hàng.
1. Quy trình tín dụng ?
Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả công việc của ngân hàng từ khi tiếp nhận hồ sơ vay
vốn của một khách hàng cho đến khi quyết định cho vay, giải ngân, thu nợ và thanh lý hợp đồng
tín dụng.
Việc xác lập một quy trình tín dụng và không ngừng hoàn thiện nó đặc biệt quan trọng đối với
một ngân hàng thương mại.
lớn, sản xuất của các khách hàng đang suy giảm nghiêm trọng, các ngân hàng khó khăn trong thu
nợ (gốc, lãi), nợ xấu có xu hướng tăng cao.
- Một số lĩnh vực cho vay cần ưu tiên như cho vay nông nghiệp, nông thôn gặp nhiều khó khăn
do khách hàng vay không đủ điều kiện để ngân hàng xem xét cho vay (không có phương án sản
xuất - kinh doanh có hiệu quả không có hoặc không đủ tài sản bảo đảm, tình hình tài chính
không minh bạch, nợ xấu phát sinh do không tiêu thụ được sản phẩm ).
- Sự mất cân đối kỳ hạn vốn của ngân hàng hiện nay cũng là một trong những nguyên nhân khiến
nhiều ngân hàng không thể đáp ứng nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh
nghiệp nhỏ và vừa, do các doanh nghiệp này chủ yếu vay vốn trung và dài hạn để đầu tư mở rộng
sản xuất kinh doanh.
- Việc thẩm định khách hàng gặp nhiều khó khăn dẫn đến việc đánh giá khách hàng đôi lúc còn
thiếu chính xác.
6. 'Nếu 1 dự án có tính khả thi thì Ngân hàng ko cần xem xét các dự án khác mà tập trung
vào cho vay dự án đó thôi'' Đúng/Sai, giải thích?
Sai:
- Thứ nhất, “không nên bỏ trứng vào 1 rổ”
- Thứ hai, Dự án có khả thi chưa chắc dự án đó có thể đáp ứng những yêu cầu về tài chính của
NH và khả năng trả nợ.
- Thứ ba, việc xem xét các dự án khác là cần thiết để có thể so sánh với dự án đang xem xét. Từ
đó làm cơ sở để đưa ra quyết định cuối cùng.
7. Khi thẩm định tài chính doanh nghiệp người ta đánh giá những chỉ tiêu tài chính nào?
Các hệ số chỉ tiêu TC cần quan tâm:
+ Nhóm chỉ tiêu thanh khoản ( thanh toán hiện hành TSLĐ/NNH, thanh toán nhanh (TSLĐ-
HTK)/NHH, thanh toán tức thời = Tiền và các khoản tương đương tiền/NNH.
+ Nhóm HS chỉ tiêu hoạt động:Số ngày phải thu bình quân, số ngày tồn kho bình quân, chu kỳ
kinh doanh, số ngày phải trả bình quân, VLD ròng….
+ Nhóm hs chỉ tiêu nợ: NPT/ tổng TS, NPT/ VCSH
+ Nhóm hs chỉ tiêu lợ nhuận: ROA, ROE, ROS,…
+ Nhóm hs chỉ tiêu tăng trưởng: HS tăng trưởng DT, hs tăng trưởng NV, TTS,…
8. Làm thế nào để tìm kiếm khách hàng?
bước trong quy trình thẩm định cho vay ( Tư cách,Pháp lý, năng lực tài chính, mục đích,
TSBĐ, trừ trường hợp ký quỹ 100% thì có thể không cần thẩm định chi tiết về tài chính và
TSBĐ)
11. Cho vay tiêu dùng? Cho vay tiêu dùng khác gì so với cho vay dự án?\
Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng
bao gồm các cá nhân và hộ gia đình. Đây là nguồn tài chính quan trọng giúp họ trang trải cho
nhu cầu về nhà ở, đồ dùng gia đình, xe cộ Bên cạnh đó cho vay tiêu dùng còn đáp ứng những
chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế, du lịch
Sự khác nhau của cho vay tiêu dùng và cho vay dự án : Quy mô nhỏ hơn, lãi suất cao hơn, cho
vay TD thì quan trọng nhất là tư cách khách hàng còn cho vay dự án thì quan trọng nhất là tính
khả thi và một loạt các yếu tố khác, nguồn trả nợ của cho vay TD thường được đánh giá dựa trên
dòng thu nhập hiện tại còn cho vay dự án là dòng thu nhập trong tương lai, cho vay tiêu dùng là
hình thức hỗ trợ các khách hàng CN, hộ cá thể có thể mua sắm, chi tiêu phục vụ nhu cầu sinh
hoạt -> không đánh giá về tính sinh lời của PAV, cho vay dự án thì đối tượng KH là các công ty,
quan tâm hàng đầu của Bank là lợi nhuận mang lại của dự án và các ảnh hưởng tích cực của DA
đến kinh tế xã hội, các bạn bổ sung thêm nhé.
12. Một doanh ngiệp làm ăn có lãi thì chắc chắn trả được nợ, đúng hay sai, giải thích?
Sai, việc trả được nợ hay không phụ thuộc vào dòng tiền vào của DN có đúng thời điểm trả nợ
hay không, lợi nhuận trên báo cáo chỉ là con số chốt tại một thời điểm nhất định, còn tiền thực có
để thanh khoản của DN phụ thuộc và dòng tiền vào - ra (báo cáo lưu chuyển tiền tệ), tại thời
điểm đáo hạn ngân hàng nếu DN đang có nhiều khoản phải thu chưa thu được ( do chính sách
bán chịu, do khó khăn thị trường ,…) thì cũng không thể có tiền để trả NH.
13. Quy trình thẩm đinh? Ý nghĩa?
“Quy trình thẩm định tín dụng là một quá trình quy định các bước, các nguyên tắc và nội dung
thẩm định khách hàng vay một cách cụ thể nhằm đưa ra những đánh giá về khách hàng phục vụ
cho việc ra quyết định tín dụng.”
- Giúp đánh gía được mức độ tin cậy của phương án sản xuất hoặc dự án đầu tư mà khách hàng
đã lập và nộp cho ngân hàng khi làm thủ tục vay vốn.
- Phân tích và đánh giá được mức độ rủi ro của dự án khi quyết định cho vay.
- Giúp cho cán bộ tín dụng và lãnh đạo ngân hàng có thể mạnh dạn quyết định cho vay và giảm