QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ MÔI TRƯỜNG
2.1. QUAN HỆ GIỮA YẾU TỐ ĐẦU VÀO - SẢN XUẤT - TIÊU THỤ
2.1.1. Hoạt động của hệ thống kinh tế
Hoạt động của hệ thống kinh tế thực chất được hiểu đơn giản là một chu kỳ khép kín giữa các yếu tố
đầu vào (tài nguyên, năng lượng) - sản xuất - tiêu thụ. Trong đó:
- Tài nguyên là tất cả các vật chất, tri thức được sử dụng làm đầu vào để tạo ra của cải vật chất hoặc
tạo ra giá trị sử dụng mới cho xã hội.
- Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là quá trình con người tác động vào yếu tố đầu vào, biến
chúng từ cái chưa có nhu cầu thành cái có nhu cầu, những sản phẩm có ích phục vụ cho nhu cầu sử
dụng, hay để trao đổi thương mại.
- Tiêu thụ là khâu cuối cùng trong hệ thống kinh tế, con người sẽ sử dụng những sản phẩm vào những
mục đích cụ thể. Theo nghĩa hẹp thì tiêu thụ chính là quá trình diễn ra hình thái sử dụng giá trị của
sản phẩm.
Như vậy, trong hệ thống kinh tế sẽ hình thành một chu kỳ chuyển hóa của những dòng vật chất và
năng lượng đi từ nguồn tài nguyên đến sản xuất và tiêu dùng. Trong quá trình chu chuyển này luôn đi kèm
với vấn đề phát sinh chất thải (phát thải). Đó là những chất thải của nguyên liệu ở quá trình khai thác,
những chất thải bị tổn thất từ khâu sản xuất, các sản phẩm khuyết tật, chất thải loại ra từ quá trình tiêu thụ
sản phẩm...
Trong suốt quá trình vận động của hệ thống kinh tế, một phần tài nguyên sẽ bị tổn thất và đưa vào
môi trường dưới dạng chất thải. Tuy nhiên, chúng vẫn tuân theo định luật thứ nhất nhiệt động học “năng
lượng và vật chất không tự sinh ra và cũng không tự mất đi, mà chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng
khác, từ trạng thái này sang trạng thái khác”, điều này có nghĩa là tổng năng lượng nguồn đầu vào hệ
thống kinh tế sẽ luôn cân bằng với tổng lượng đầu ra (bao gồm sản phẩm, chất thải và tổn thất năng lượng)
trong suốt quá trình vận động của hệ thống kinh tế.
2.1.2. Chức năng của môi trường trong hệ thống kinh tế
2.1.2.1. Môi trường là nơi chứa đựng chất thải
Trong suốt quá trình hoạt động, tất cả chất thải của hệ thống kinh tế đều được đưa trở lại môi trường
và chỉ một phần trong số đó được chúng ta tái tạo lại để sử dụng.
Dòng đầu vào
Quy trình sản xuất
Sản phẩm
lượng chất thải hàng ngày được thải ra lớn hơn khả năng tự làm sạch của môi trường thì vấn đề ô nhiễm
chắn chắc sẽ xảy ra. Vì vậy, các biện pháp quản lý và xử lý chất thải (rắn, lỏng và khí) là cần thiết để giảm
thiểu các khả năng tác động nguy hại đến môi trường.
2.1.2.2. Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cho toàn bộ hệ thống kinh tế
Những sản phẩm mà con người sử dụng được lấy từ các nguồn tài nguyên. Môi trường chứa đựng tất
cả các nguồn tài nguyên đầu vào cho các hoạt động của hệ thống kinh tế. Dưới tác động mạnh mẽ của
cách mạng khoa học và công nghệ, khái niệm tài nguyên được mở rộng ra trong nhiều lĩnh vực hoạt động
của con người.
Hiện nay, quan điểm của các nhà kinh tế học môi trường đều thống nhất cách phân loại tài nguyên như
sau:
Tài nguyên tái tạo: Là những loại tài nguyên sau khi khai thác vẫn còn khả năng tự tái tạo hoặc phục
hồi giống hoặc tương tự trạng thái ban đầu (chẳng hạn như tài nguyên rừng, thủy hải sản...) nếu được quản
lý một cách hợp lý. Những loại tài nguyên này nếu bị khai thác vượt quá khả năng tự tái tạo thì chúng sẽ
trở thành nguồn tài nguyên không thể tái tạo được. Do đó, quá trình khai thác chúng ta cần phải có những
biện pháp kiểm soát một cách hợp lý, đồng thời có kết hợp với các chính sách bảo vệ nhằm tạo ra những
điều kiện thuận lợi nhất cho những loại tài nguyên tái tạo này.
Tài nguyên không tái tạo: là những nguồn tài nguyên thiên nhiên không có khả năng tái tạo được, hoặc
thời gian tái tạo rất lâu (có thể hàng thế kỷ hoặc lên đến hàng triệu năm), chúng thường có số lượng hạn
chế, sau khi khai thác và sử dụng thì tài nguyên này sẽ cạn kiệt dần và không còn tái tạo được nữa. Loại
tài nguyên này gồm những nhiêu liệu hóa thạch, khoáng sản. Một số tài nguyên có thể tái tạo nhưng chỉ
được phục hồi qua một quá trình hoạt động địa chất lâu dài thì cũng được xếp vào loại tài nguyên không
tái tạo được.
Hiện nay, ở nước ta cũng như trên thế giới tình trạng khai thác tài nguyên thường không triệt để, hiệu
suất khai thác không cao, dẫn đến tình trạng lãng phí tài nguyên. Chẳng hạn như, đối với dầu hỏa, theo
thống kê, hiệu suất khai thác chỉ đạt 30 - 40%; trong khi đó, khai thác quặng có thể được 75 - 85%... Từ
những con số trên cho thấy sự lãng phí trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên hiện nay mà nhất là đối
với loại tài nguyên không có khả năng tái tạo được. Để hạn chế sự lãng phí và cạn kiệt những tài nguyên
không tái tạo này, chúng ta cần phải khai thác đúng kỹ thuật, kết hợp với việc cải tiến trang thiết bị, công
nghệ, tìm ra những phương pháp khai thác tối ưu để tận thu tối đa tài nguyên.
2.1.2.3. Môi trường là không gian sống của con người
năng lượng mà thôi.
Nói cách khác, nhiệt năng truyền vào một hệ bằng với thay đổi nội năng của hệ cộng với công năng
mà hệ sinh ra cho môi trường.
Định luật 1 của nhiệt động học cũng là một nguyên lý tổng quát cho tất cả các lý thuyết vật lý (cơ học,
điện từ học, hóa học, vật lý hạt nhân...). Tiên đề Noether cho rằng sự bảo toàn năng lượng có liên quan
chặt chẽ tới độ đồng dạng về cấu trúc của không gian - thời gian.
2.2.1.3. Định luật 2
Định luật 2, hay nguyên lý thứ hai, còn gọi là nguyên lý về entropy, liên quan đến tính không thể đảo
ngược của một quá trình nhiệt động lực học và đề ra khái niệm entropy. Theo nguyên lý thứ 2, entropy của
một hệ kín chỉ có hai khả năng, hoặc là tăng lên, hoặc giữ nguyên. Điều này có nghĩa là, đối với bất kỳ
trường hợp nào, việc chuyển đổi từ trạng thái bất ổn định này sang trạng thái bất ổn định khác không thể
xảy ra nếu không có sự can thiệp của các yếu tố bên ngoài.
Nói cách khác, một hệ lớn và không trao đổi năng lượng với môi trường sẽ có entropy luôn tăng hoặc
không đổi theo thời gian.
Vì entropy là mức độ hỗn loạn của hệ, định luật này nói rằng vũ trụ sẽ ngày càng "hỗn loạn" hơn. Cơ
học thống kê đã chứng minh rằng định luật này là một định lý, đúng cho hệ lớn và trong thời gian dài. Đối
với hệ nhỏ và thời gian ngắn, có thể có thay đổi ngẫu nhiên không tuân thủ định luật này. Nói cách khác,
không như định luật 1, các định luật vật lý chi phối thế giới vi mô chỉ tuân theo định luật 2 một cách gián
tiếp và có tính thống kê. Ngược lại, định luật 2 khá độc lập so với các tính chất của các định luật đó, bởi lẽ
nó chỉ thể hiện khi người ta trình bày các định luật đó một cách giản lược hóa và ở quy mô nhỏ.
2.2.1.4. Định luật 3
Nguyên lý thứ ba, hay nguyên lý Nernst, còn gọi là nguyên lý về độ không tuyệt đối, đã từng được
bàn cãi nhiều nhất, gắn liền với sự tụt xuống một trạng thái lượng tử cơ bản khi nhiệt độ của một hệ tiến
đến giới hạn của độ không tuyệt đối. Định luật này được phát biểu như sau “Trạng thái của mọi hệ không
thay đổi tại nhiệt độ không tuyệt đối (0°K)”.
2.2.2. Phân tích cân bằng vật chất trong hệ thống kinh tế
Trong hệ thống kinh tế xã hội, hàng hóa - dịch vụ được di chuyển tự sản xuất, lưu thông, phân phối và
tiêu dùng cùng với dòng luân chuyển của nguyên liệu, năng lượng, sản phẩm và chất thải. Các thành phần
đó luôn ở trạng thái tương tác với các thành phần tự nhiên và xã hội của hệ thống môi trường đang tồn tại
trong địa bàn đó.
NHỮNG HOẠT ĐỘNG CHẾ BIẾN VÀ CHẾ TẠO CƠ BẢN
HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, BIẾN ĐỔI
HOẠT ĐỘNG PHÂN PHỐI
HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ