VAI TRÒ CỦA VỐN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNSẢN
XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Vốn nhân lực của doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm vốn nhân lực của doanh nghiệp
Nguồn nhân lực của một quốc gia là bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có
khả năng tham gia lao động. Như vậy số lượng nguồn nhân lực vừa phụ thuộc vào
khả năng tham gia lao động của từng cá nhân, vừa phụ thuộc quy định “độ tuổi lao
động” của từng quốc gia. Việc quy định “độ tuổi lao động” của mỗi quốc gia phải
xuất phát từ nhiều căn cứ, nhiều mối quan hệ. Độ tuổi lao động tối thiểu được quy
định nhằm hạn chế tình trạng lạm dụng lao động trẻ em. Theo quy định của ILO
(Tổ chức lao động quốc tế) hiện nay độ tuổi lao động tối thiểu được quy định là 15
tuổi. Độ tuổi lao động tối đa được quy định tuỳ theo từng quốc gia và liên quan tới
vấn đề nghỉ hưu của người lao động.
Nhân lực của doanh nghiệp là toàn bộ những khả năng lao động mà doanh
nghiệp cần và huy động được cho việc thực hiện, hoàn thành những nhiệm vụ
trước mắt và lâu dài của doanh nghiệp. Nhân lực của doanh nghiệp còn gần nghĩa
với sức mạnh của lực lượng lao động, sức mạnh của đội ngũ người lao động, sức
mạnh của đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức của doanh nghiệp. Sức mạnh đó là
sức mạnh hợp thành từ sức mạnh của người lao động, sức mạnh hợp thành từ khả
năng lao động của từng người lao động. Khả năng lao động của một con người là
khả năng đảm nhiệm, thực hiện, hoàn thành công việc bao gồm những nhóm yếu
tố: sức khoẻ (sức dẻo dai, sức bền …), trình độ ( kiến thức và kỹ năng, kinh
nghiệm), tâm lý, mức độ cố gắng …. Trong nền kinh tế thị trường không cần có
biên chế, nhân lực của doanh nghiệp là sức mạnh hợp thành các loại khả năng lao
động, của những người giao kết, hợp đồng làm việc với doanh nghiệp. Nhân lực
của doanh nghiệp là đầu vào độc lập của bất kỳ quá trình nào trong hoạt động của
doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần và có nhiều loại nhân lực (khả năng lao động)
như: Lực lượng lãnh đạo, quản lý, lực lượng chuyên môn, nghiệp vụ, lực lượng
công nhân viên… Mỗi một nhóm nhân lực đó đáp ứng một nhu cầu riêng như:
Đảm bảo việc làm ổn định, lo đảm bảo tài chính cho doanh nghiệp, đảm bảo công
nghệ, lo đảm bảo vật tư cho quá trình sản xuất… các nhu cầu và chất lượng nhân
Vốn nhân lực được xem xét và đánh giá trên phương diện số lượng, chất
lượng, cơ cấu và tính năng lao động, phản ánh thông qua số lượng lao động, trình
độ chuyên môn, tay nghề, kinh nghiệm, ý thức làm việc, kết quả công việc, tuổi
tác, giới tính, sự biến động, sự thay đổi về các phương diện trên sao cho phù hợp
với các yêu cầu của từng doanh nghiệp trong mỗi thời kỳ.
Cũng như các nguồn lực khác, nguồn nhân lực trong doanh nghiệp cũng bị
hao phí và hao mòn trong quá trình khai thác và sử dụng. Sự khôi phục, củng cố và
phát triển nguồn lực này được coi là yếu tố sống còn của doanh nghiệp.
Sức mạnh vật chất và tinh thần của nguồn lực có nguồn gốc từ cá nhân người
lao động. Nó phát sinh từ động cơ, động lực thúc đẩy cá nhân. Nói cách khác, chỉ
có thể phát huy và sử dụng nguồn lực này trên cơ sở khai thác động cơ cá nhân, kết
hợp các động cơ này để tạo nên động lực thúc đẩy chính cho các doanh nghiệp.
Không giống như các nguồn lực khác, nguồn nhân lực bị chi phối bởi nhiều yếu tố
khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài doanh nghiệp như quan hệ sản
xuất và phương thức sản xuất xã hội, các thể chế, các quan hệ xã hội, trình độ tổ
chức và quản lí nhân sự trong doanh nghiệp, đặc điểm tâm sinh lí, nhu cầu và động
cơ cá nhân, hoàn cảnh và môi trường làm việc… Việc khai thác và sử dụng nguồn
nhân lực trong doanh nghiệp phải được xem xét trên hai mặt: hiệu quả kinh tế và
hiệu quả xã hội. Nghĩa là việc sử dụng nguồn lực này phải đem lại lợi ích kinh tế-
xã hội cho doanh nghiệp. Vấn đề khai thác sử dụng,đào tạo và phát triển nguồn
nhân lực không phải chỉ là vấn đề riêng của mỗi doanh nghiệp mà còn là vấn đề
của toàn xã hội.
Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp không phải tự nhiên mà có, cũng không
phải tự thân nó đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu của hoạt động sản xuất mà phải trải
qua một quá trình tuyển chọn, đào tạo và phát triển.
1.1.3. Vai trò vốn nhân lực trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
Theo giai đoạn của quá trình hoạt động của doanh nghiệp được tách lập phân
định thành ba nhóm chính trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Nhóm
nghiên cứu đưa ra các ý tưởng, nhóm thiết kế và nhóm thi công. Khả năng lao
có thu nhập cao thì khả năng mua sắm cao hơn các nguồn lực khác với thu nhập
thấp hơn. Vì vậy ta thấy được rằng nguồn nhân lực thông qua quá trình tiêu thụ sản
phẩm của mình sẽ kích thích quá trình sản xuất của doanh nghiệp và tăng thêm
nguồn thu cho doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế hiện đại, các nhân tố công nghệ phát triển mạnh mẽ, con
người không trực tiếp tham gia các quá trình sản xuất nhưng với sự gia tăng của
hàm lượng chất xám trong từng sản phẩm, dịch vụ, vai trò của nhân tố con người
ngày càng tăng lên. Trước đây, hàm lượng chất xám của lao động trong các sản
phẩm thấp, sản xuất không đòi hỏi lao động phải có trình độ cao, kỹ năng tốt, do
vậy mà lực lượng lao động không cần thiết phải qua các chương trình đào tạo
chuyên sâu mà đơn giản chỉ là các khoá học ngắn hạn trang bị kiến thức cư bản.
Trình độ của lực lượng lao động thấp chỉ thích hợp với trình độ phát triển thấp của
công nghệ, thiết bị và tất yếu là với sản xuất như vậy không thể có sản xuất với
năng suất cao, chất lượng tốt. Vì vậy, ta thấy được rằng nhằm đáp ứng được các
yêu cầu của doanh nghiệp không chỉ đáp ứng về số lượng mà còn phải đảm bảo về
chất lượng của lực lượng lao động trong doanh nghiệp.
Nhân lực là yếu tố cơ bản không thể thiếu quyết định tới thành công trong
kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu thiếu đi yếu
tố nguồn nhân lực thì việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không thể thực
hiện được. Nguồn nhân lực tạo ra của cải vật chất cho doanh nghiệp, cũng như cho
toàn bộ xã hội. Nếu như không có yếu tố nguồn nhân lực thì không có quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh. Dù cho các nguồn lực khác như đất đai, tài nuyên,
vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật, khoa học công nghệ sẽ không được sử dụng và khai
thác có mục đích vì con người là yếu tố quyết định tới các yếu tố khác do con
người có thể sử dụng các yếu tố khoa học vào hoạt động sản xuất kinh doanh,
chính con người sẽ sử dụng nguồn tào nguyên, nguồn vốn một cách có hiệu quả
nhất phục vụ cho nhu cầu con người và tạo ra của cải vật chất cho doanh nghiệp và
xã hội. Khi đó một doanh nghiệp có nguồn nhân lực dồi dào, trình độ chuyên môn
nghiệp vụ cao sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển mạnh.
Nguồn nhân lực so với các yếu tố đầu vào khác không phải là yếu tố thụ động