CHƯƠNG II TÌNH HÌNH THỰC HIỆN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI TẠI VIỆT NAM THỜI GIAN QUA
I. ĐÁNHGIÁTỔNGQUANVỀ FDI TẠI VIỆT NAM
1. Thực trạng cấp giấy phép đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1. Tình hình chung
Từ khi Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có hiệu lực cho đến hết tháng 12 năm
2000, Nhà nước ta đã cấp giấy phép cho 3254 dựán đầu tư trực tiếp nước ngoài với
tổng số vốn đăng ký là 38.553 triệu USD. Tính trung bình mỗi năm chúng ta cấp phép
cho 250 dựán với mức 2965,62 triệu USD vốn đăng ký. Cũng trong thời gian này, đã
có 1067 dựán mở rộng quy mô vốn đầu tư với lượng vốn bổ sung thêm là 6034 triệu
USD. Như vậy tổng số vốn cấp mới và bổ sung đến thời điểm hết năm 2000 đạt
khoảng 44.587 triệu USD.
Trong số các dựán đã nêu trên, đã có 30 dựán hết hạn hoạt động với số vốn hết
hạn là 291 triệu USD. Bên cạnh đó, đã có một số lượng đáng kể dựán bị giải thể, rút
giấy phép đầu tư (645 dựán), lượng vốn giải thể là 7952 triệu USD, chiếm gần 21%
tổng lượng vốn đăng ký. Như vậy, tính đến ngày 15/03/2001, tổng số dựán còn hiệu lực
là 2701 với tổng vốn đăng ký (kể cả phần vốn bổ sung) là 36.329,775 triệu USD.
Nhịp độ thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của ta có xu hướng tăng nhanh từ
1988 đến 1995 cả về số dựán cũng như vốn đăng ký. Riêng năm 1996 sở dĩ có lượng
vốn đăng ký tăng vọt là do có 2 dựán đầu tư vào lĩnh vực phát triển đô thịở Hà Nội và
TP Hồ Chí Minh được phê duyệt với quy mô dựán lớn (hơn 3 tỷ USD/ dựán). Như vậy
nếu xét trong cả thời kỳ 1988-2000 thì năm 1995 có thểđược xem là năm đỉnh cao về
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam (cả về số dựán, vốn đăng ký cũng
như quy mô dựán). Từ năm 1997 đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam có biểu
hiện suy giảm, nhất làđến các năm 1998, 1999 thì xu hướng giảm đó càng rõ rệt hơn.
So với năm 1997, số dựán được duyệt của năm 1998 chỉ bằng 79,71%, năm 1999 chỉ
bằng 80,58%. Số liệu tương ứng của vốn đăng ký là 83,83% và 33,01%. Trong các năm
này, số dựán giải thể và số lượng vốn giải thể tăng mạnh. Lượng vốn giải thể năm 1998
là 2428 triệu USD, gấp 4,5 lần so với năm 1997. Đến năm 2000, sự giảm sút có chiều
hướng dừng lại và bắt đầu có sự phục hồi. Số dựán và lượng vốn đầu tư của năm 2000
đã tăng lên so với năm 1999, tuy nhiên vẫn còn khá nhỏ so với cả những năm 1997 và
Còn hiệu
lực
Tổng
88-2000
3254 1067 645 30 38553 6034 7952 291
3 năm
88-90
214 1 6 2 1582 0.3 26 0.3 1556
1991 151 9 37 2 1275 9 240 1 2598
1992 197 13 48 3 2027 50 402 13.9 4260
1993 274 60 34 4 2589 240 79 38 6971
1994 367 84 60 1 3746 516 292 0.1 10941
1995 408 151 58 3 6607 1318 509 45.5 18311
5 năm
91-95
1397 262 237 12 16244 2132 1522 98.6
1996 365 162 54 4 8640 788 1141 146.1 26453
1997 348 164 85 6 4649 1173 544 24.4 31706
1998 275 162 101 2 3897 884 2428 19.1 34040
1999 311 163 85 2 1568 629 624 1.1 35613
2000 344 153 77 2 1973 427 1666 1.9 36344
5 năm
96-2000
1643 804 402 16 20727 3902 6403 193
Vốn còn hiệu lực = vốn cấp mới + tăng vốn - vốn hết hạn - vốn giải thể
Nguồn : Vụ Quản lý dựán - Bộ KH-ĐT
Trong bối cảnh đầu tư quốc tế vào các nước ASEAN suy giảm và môi trường đầu
tưở nước ta vẫn còn những hạn chế nhất định, sự phục hồi bước đầu của đầu tư nước
ngoài qua các số liệu nêu trên là các dấu hiệu rất đáng khích lệ và là một phần hệ quả
từ các tác động tích cực của các giải pháp thu hút đầu tư mà Chính phủđã thực thi trong
đó chứng tỏ môi trường đầu tư của Việt Nam hiện đang thu hút được sự quan tâm của
các nhàđầu tư Châu Á. Và trình độ, điều kiện, khả năng của các nhàđầu tư Châu Á
cũng phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển của Việt Nam trong thời gian qua. Đồng
thời đây cũng là nguyên nhân làm cho nền kinh tế nước ta phải chịu ảnh hưởng khá
mạnh của cuộc khủng hoảng tiền tệ khu vực Châu Á.
Trong khi đó, nguồn vốn đầu tư từ các nước công nghiệp phát triển khác
nhưĐức, Mỹ, Anh...còn chiếm tỷ trọng tương đối thấp, chứng tỏ môi trường đầu tưở
Việt Nam chưa gây được sự chúý nhiều của các nhàđầu tư phương Tây và Mỹ.
Bảng 2: 12 đối tác nước ngoài đầu tư lớn nhất vào Việt Nam
(Tính đến 15/03/2001 - chỉ tính các dựán còn hiệu lực)
Đơn vị : triệu USD
STT
Nước
Vùng lãnh thổ
Số dựán
Tổng vốn
đầu tư
Vốn pháp
định
Đầu tư
thực hiện
1 Singapore 236 6619,871 2036,066 2048,154
2 Đài Loan 662 4990,669 2120,096 2411,855
3 Nhật Bản 304 3884,892 1927,881 2623,879
4 Hàn Quốc 277 3181,738 1226,648 1911,570
5 Hồng Kông 208 2844,499 1231,076 1431,662
6 Pháp 107 1818,607 1219,716 587,320
7 Virgin Islands 107 1786,941 695,456 858,341
8 Liên bang Nga 35 1479,722 916,897 600,255
9 Hà Lan 40 1179,956 951,962 504,055
chưa đầy 1%. Sự phân bổ FDI cũng chênh lệch rất nhiều giữa khu vực thành thị và
nông thôn. Trên 80% tổng số vốn đầu tư tập trung ở khu vực thành thị, chỉ còn chưa tới
20% cho khu vực nông thôn, trong khi 80% dân số Việt Nam sinh sống ở nông thôn,
làm cho khoảng cách thu nhập giữa hai khu vực ngày càng lớn.
Vốn đầu tư vào các vùng (1988-1999) được xếp thứ tự như sau:
Bảng 3: Cơ cấu đầu tư theo vùng (%)
1. Đông Nam Bộ 53,13 5. Đồng bằng sông Cửu Long 2,46
2. Đồng Bằng sông Hồng 29,6 6. Bắc Trung Bộ 2,38
3. Duyên hải Nam Trung Bộ 7,64 7. Tây Nguyên 0,16
4. Đông Bắc 4,46 8. Tây Bắc 0,15
Nguồn : Những vấn đề kinh tế thế giới, Số 2 (64) 2000.
Cũng trong thời kỳ này, nếu như hai thành phố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh
đã chiếm tới hơn nửa (50,3%) tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của cả nước thì
10 địa phương cóđiều kiện thuận lợi cũng chiếm tới 87,8%. TP Hồ Chí Minh chiếm
26,6% tổng vốn đăng ký của cả nước. Số liệu tương ứng của các địa phương tiếp theo
như sau : Hà Nội: 21,15%; Đồng Nai: 12,5%; Bình Dương: 6,4%. Đến nay, phần lớn
các tỉnh, thành phốđều đã có hoạt động hợp tác đầu tư với nước ngoài. Tuy nhiên, trừ
hoạt động thăm dò và khai thác dầu khíở thềm lục địa, vốn đầu tư tập trung nhiều vào 3
vùng kinh tế trọng điểm là những nơi có nhiều thuận lợi. Vùng kinh tế trọng điểm phía
Nam, với ưu thế vượt trội về cơ sở hạ tầng, sự thuận lợi về giao thông thủy, bộ, hàng
không và năng động trong kinh doanh là vùng thu hút được nhiều vốn FDI nhất, 1.378
dựán, chiếm 57% tổng số dựán của cả nước, vốn đầu tưđăng kýđạt 17,3 tỷ USD, chiếm
đến 48% tổng vốn đăng ký cả nước. Đây cũng là vùng kinh tế sôi động nhất của cả
nước, chiếm đến 66% giá trị doanh thu và 84% giá trị xuất khẩu của khu vực FDI năm
1999. Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, đứng đầu là thủđô Hà Nội, trung tâm chính trị
và kinh tế của cả nước là vùng thu hút FDI thứ hai, với 493 dựán còn hiệu lực chiếm
20,5% về số dựán và 30% tổng vốn đăng ký, làđầu tàu phát triển của cả khu vực phía
Bắc. Trên địa bàn kinh tế trọng điểm miền Trung, tính riêng dựán lọc dầu Dung Quất
với tổng số vốn đầu tưđăng ký 1,3 tỷ USD đã cao hơn tổng vốn đăng ký của 113 dựán
tại đồng bằng sông Cửu Long là 300 triệu USD. Dưới đây là số liệu về 10 địa phương
1.4. Cơ cấu đầu tư theo ngành kinh tế
Những năm đầu 1988-1990, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phần lớn tập trung
vào lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí (32,2%) và khách sạn, du lịch, căn hộ cho thuê
(20,6%). Nhưng từ năm 1994 trở lại đây, đầu tư vào khu vực sản xuất vật chất của nền
kinh tế ngày càng gia tăng (nhất là lĩnh vực công nghiệp). Hiện nay, các dựán đầu tư
vào ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất cả về số lượng dựán lẫn vốn đầu tư,
tiếp đến là các lĩnh vực khách sạn, du lịch và dịch vụ. Các ngành nông, lâm nghiệp có
số dựán khá lớn nhưng vốn thấp, chỉ chiếm 5,79% tổng vốn đầu tư, chứng tỏ quy mô
dựán ở lĩnh vực này tương đối nhỏ. Quy mô dựán đầu tư vào ngành thủy sản là nhỏ
nhất, khoảng 3 triệu USD. Ngành dịch vụ có quy môđầu tư lớn nhất, khoảng 25 triệu
USD/dựán, nếu không tính 2 dựán xây dựng khu đô thị mới tại Hà Nội thì quy mô bình
quân 1 dựán là 21,7 triệu USD.
Tính đến ngày 15/03/2001, khu vực công nghiệp có 1715 dựán đầu tư trực tiếp
nước ngoài còn hiệu lực, với tổng vốn đầu tư 19430,413 triệu USD, chiếm 53,5% tổng
vốn FDI của cả nước; tiếp theo là ngành dịch vụ với 638 dựán và lượng vốn đầu tư
14796,008 triệu USD, chiếm 40,73%; khu vực nông lâm nghiệp có 348 dựán với số
vốn đầu tư 2103,353 triệu USD, chiếm 5,77% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của
cả nước. Vốn đầu tư vào công nghiệp chủ yếu tập trung vào các ngành công nghiệp
nặng, sau đó dến công nghiệp nhẹ, xây dựng, công nghiệp dầu khí và công nghiệp thực
phẩm . Ngành dịch vụ các dựán tập trung vào xây dựng văn phòng, căn hộ, xây dựng
khu đô thị mới; khách sạn du lịch, giao thông vận tải và bưu điện.
Bảng 5: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành
(Tính đến 15/03/2001 - chỉ tính các dựán còn hiệu lực)
Đơn vị : triệu USD
Chuyên ngành
Số dựán Tổng vốn
đầu tư
Vốn pháp
định
Đầu tư
3 2466,674 675,183 0,394
XD Văn phòng-Căn hộ
116 3781,909 1351,182 1640,271
XD hạ tầng KCX-KCN
13 807,221 274,961 460,988
Dịch vụ
149 552,870 325,729 151,285
Tổng số 2701 36329,775 16364,827 17842,325
Nguồn : Vụ Quản lý dựán ĐTNN - Bộ KH-ĐT
Thực trạng cơ cấu vốn đầu tư vào các ngành, các lĩnh vực kinh tếđang đặt ra
những vấn đề cần suy nghĩ. Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực nông, lâm nghiệp
vốn đãít lại đang có xu hướng chững lại và giảm dần vìđây là lĩnh vực chịu nhiều rủi
ro, thời gian thu hồi vốn dài, trình độ quản lý dựán còn nhiều hạn chế. Đến cuối 1999,
trong lĩnh vực này đã có tới 74 dựán đầu tư nước ngoài bị giải thể trước thời hạn với số
vốn 287 triệu USD. Trong đó 35 dựán thuộc lĩnh vực trồng trọt và chế biến nông sản,
39 dựán chế biến gỗ và lâm sản.
Vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành như trên đã biểu hiện phù hợp các chỉ số
của cơ cấu kinh tế hiện đại, công nghiệp hóa: Công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp.
Tuy vậy, trong điều kiện ở giai đoạn đầu tiến hành CNH-HĐH và với đặc trưng của
nền kinh tế trong đó nông nghiệp nhiệt đới đang là một trong những thế mạnh của Việt
Nam thì tình hình thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này như hiện nay còn khoảng
cách khá xa so với yêu cầu, mong muốn và mục tiêu mà chúng ta đặt ra. Sở dĩ như vậy
là vìđối với Việt Nam, nông nghiệp là một trong những lĩnh vực đang có nhiều tiềm
năng mà chúng ta chưa cóđiều kiện để khai thác. Và, từđặc điểm phân bố dân cư, lao
động, việc làm như hiện nay thì sự thành công trong phát triển nông thôn, nông nghiệp
là một trong những chỉ tiêu cơ bản đểđánh giá thành công của sự nghiệp CNH-HĐH.
Thực hiện CNH-HĐH trong nông thôn, nông nghiệp cũng tức là tạo được việc làm và
thu nhập cho sốđông lao động cũng như tác động làm chuyển biến đáng kểđến sản xuất
vàđời sống của đa số nhân dân Việt Nam.
1.5. Cơ cấu đầu tư theo hình thức đầu tư
Sau một thời gian hoạt động trong môi trường đầu tưở Việt Nam, các nhàđầu tư
nước ngoài, đặc biệt là các nhàđầu tư Châu Á cóđiều kiện hiểu biết hơn về pháp luật,
chính sách, phong tục tập quán và cách thức hoạt động kinh doanh ở Việt Nam. Vì vậy,
nhu cầu cóđối tác Việt Nam giảm đi một cách đáng kể. Không những thế, khi tham gia
liên doanh, khả năng của phía Việt Nam thường yếu cả về vốn đóng góp lẫn cán bộ
quản lý, mặt khác nhiều nhàđầu tư nước ngoài không muốn chia sẻ quyền điều hành
doanh nghiệp với bên Việt Nam nên họ thấy không cần thiết phải cóđối tác Việt Nam
trong hoạt động đầu tư. Do đó, số dựán đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam dưới
hình thức 100% vốn nước ngoài ngày càng có xu hướng tăng lên cả tuyệt đối lẫn tương
đối. Các dựán 100% vốn nước ngoài tập trung chủ yếu trong các khu công nghiệp và
khu chế xuất vìđảm bảo các điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, tránh được nhiều thủ tục
hành chính phức tạp.
Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh đến nay chỉ chiếm 4,74% số dựán và
10,36% tổng vốn đầu tư, chủ yếu trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí, các dịch
vụ viễn thông. Hợp đồng BOT là hình thức chúng ta đưa vào áp dụng từ năm 1993 với
mong muốn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Mặc dù Nhà
nước đã có nhiều ưu đãi như không thu tiền thuêđất, hưởng các mức thuế thấp nhất,
được chuyển đổi ngoại tệ... nhưng số dựán thuộc hình thức này vẫn còn rất ít. Đến nay
mới chỉ có 4 dựán đầu tư nước ngoài theo hình thức BOT với số vốn đăng ký hơn 415
triệu USD. Điều này chủ yếu là do các bên chưa thực sự gặp nhau trong các ý tưởng
khi thương lượng, như không thống nhất được cách tính giá cảđầu vào, đầu ra đối với
các đối tác cung ứng nguyên, nhiên vật liệu và mua sản phẩm...
2. Tình hình thực hiện của các dựán Đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.1. Tiến độ thực hiện vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Sau hơn mười năm thực hiện Luật đầu tư nước ngoài, nhiều dựán được cấp giấy
phép đã hoàn thành giai đoạn xây dựng, đi vào hoạt động, có sản phẩm tiêu thụ tại Việt
Nam và xuất khẩu đến nhiều nước trên thế giới, đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng
và phát triển kinh tế xã hội của nước ta.
Có 1067 dựán sau một thời gian triển khai có nhu cầu xin được tăng vốn, mở rộng
quy mô sản xuất. Tổng số vốn đãđược phê duyệt tăng thêm là 6034 triệu USD (bằng
vào lĩnh vực công nghiệp xây dựng có tỷ lệ giải ngân cao nhất, trên 50%. Các dựán
nông nghiệp đạt tỷ lệ giải ngân 43%, trong khi các dựán thuỷ sản chỉ giải ngân được
36%.
Dưới đây là số liệu về tình hình thực hiện dựán qua các thời kỳ:
Bảng 7: Tình hình thực hiện dựán qua các năm
(Tính đến 31 tháng 12 năm 2000)
Đơn vị : triệu USD
Chỉ tiêu Vốn thực hiện
Trong đó chia ra
Vốn từ nước ngoài Vốn DN V.Nam
Tổng 88-2000 19984 17654 2330
1991 428 375 53
1992 575 492 83
1993 1118 931 187
1994 2241 1946 295
1995 2792 2343 449
5 năm 91-95 7153 6086 1067
1996 2923 2518 405
1997 3137 2822 315
1998 2364 2214 150
1999 2179 1971 208
2000 2228 2043 185
5 năm 96-2000 12831 11568 1263
Nguồn : Vụ Quản lý dựán ĐTNN - Bộ KH-ĐT
Trong điều kiện của một nền kinh tế kém phát triển, kết cấu hạ tầng lạc hậu, các
nguồn lực cũng như chính sách đối với đầu tư nước ngoài còn nhiều biến động, thị
trường phát triển chưa đầy đủ...thì tỷ lệ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện được
ở mức như vậy là không thấp. Tuy vậy, xuất phát từđặc điểm, các dựán sau khi phê
duyệt thường chưa đủ các điều kiện để triển khai ngay, do đó số vốn thực hiện trong
năm chủ yếu là của các dựán đãđược phê duyệt từ các năm trước đó. Nếu so sánh số
Công nghiệp dầu khíđã góp phần ngày càng lớn vào tăng trưởng GDP và thu ngân
sách Nhà nước.
b. Lĩnh vực công nghiệp điện tử : là lĩnh vực mà các nhàđầu tư nước ngoài có mặt
tương đối sớm, vốn thực hiện chiếm tỷ lệ cao so với vốn đăng ký, có tiến độ thực hiện
đúng với cam kết được ghi trong giấy phép đầu tư vàđây là lĩnh vực sớm phát huy hiệu
quả. Đến nay, đã có 22 dựán đầu tư với tổng số vốn đăng ký 615 triệu USD, trong đó
có hơn 60% vốn đã thực hiện (379 triệu USD). Một trong những yếu tố hơn hẳn so với
nhiều lĩnh vực khác là các nhàđầu tư vào lĩnh vực này phần lớn thuộc các hãng điện tử
mạnh trên thế giới như: SONY, JVC, TOSHIBA, PHILIP, LG, FUJITSU, SAMSUNG,
MATSUSHITA... Tuy nhiên các dựán đầu tư chủ yếu vào điện tử gia dụng, chưa chúý
nhiều đến điện tử công nghiệp.
c. Lĩnh vực công nghiệp ô tô và xe máy :Đây cũng là một trong những lĩnh vực thu
hút được các nhàđầu tư thuộc các hãng lớn mà sản phẩm của họđã trở thành nổi tiếng
và có lợi thế cạnh tranh so với những sản phẩm cùng loại trên thế giới nhưTOYOTA,
FORD, HONDA, SUZUKI...Đến nay đã có 14 dựán sản xuất ô tô và 4 dựán sản xuất xe
máy được cấp giấy phép. Số vốn đăng ký của các liên doanh ô tô là 872 triệu USD,
trong đóđã thực hiện được 376 triệu USD (43,12% vốn đăng ký). Các liên doanh này
có thể sản xuất hàng năm 140 nghìn xe ô tô các loại. Trong số 14 dựán trên đã có 3
dựán không triển khai và 1 dựán tuy đãđầu tư 16 triệu USD nhưng tạm dừng không đầu
tư tiếp (dựán Mercedes-Benz) và liên doanh MêKông cũng đã ngừng sản xuất. Nói
chung, thị trường ô tô của nước ta còn hạn hẹp. Ngành công nghiệp xe máy cũng thu
hút được những hãng xe nổi tiếng thế giới mà sản phẩm đã quen thuộc với người Việt
Nam như Honda, Suzuki, VMEP. Hiện tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
sản xuất mỗi năm khoảng 200 nghìn xe máy với tỷ lệ nội địa hóa từ 20-50%.
Các dựán ô tô và xe máy đãđược cấp giấy phép đầu tư có tác động dây chuyền đối
với các dựán sản xuất linh kiện, phụ tùng; do vậy đã kéo theo hàng chục nhàđầu tư vốn
là bạn hàng của họ vào Việt Nam; đồng thời đã mở rộng quan hệ hợp tác chế tạo với
các doanh nghiệp cơ khí, sản xuất săm lốp, ghếđệm...của Việt Nam, giải quyết những
khó khăn trước mắt cho các doanh nghiệp này và góp phần phát triển chúng về lâu dài.
d. Lĩnh vực viễn thông :Đến nay đã có 14 dựán đầu tư nước ngoài được cấp giấy
Tuy nhiên đa phần các dựán FDI năng lực hoạt động còn thấp so với công suất
cho phép. Số liệu trong bảng dưới đây sẽ cho ta thấy rõ hơn thực trạng này:
Bảng 8: Tình hình khai thác công suất một số
ngành hàng của các dựán FDI (tính đến hết năm 1997)
Mặt hàng Công suất cho phép Công suất huy động Tỷ lệ
1.Thép XD thông thường 1197 triệu tấn/ năm 600.000 tấn / năm 50%
2. Ô tô dưới 12 chỗ 65.600 xe / năm 6.600 xe / năm 10%
3. Xe vận tải 94.700 xe / năm 2.850 xe / năm 3%
4. Xe máy 1,28 triệu xe / năm 100.000 xe / năm 8%
5. Xi măng đen 10,5 triệu tấn / năm 1,9 triệu tấn / năm 18%
6. Tủ lạnh 300.000 chiếc / năm 60.000 chiếc / năm 20%
7. Sợi các loại 133.200 tấn / năm 20.000 tấn / năm 15%
8. Vải các loại 325 triệu mét / năm 65 triệu mét / năm 20%
9. Chất tẩy rửa, xà bông 138.000 tấn / năm 100.000 tấn / năm 72%
10. Phân bón NPK 660.000 tấn / năm 30.000 tấn / năm 5%
11. Phòng khách sạn 24.000 phòng 5.000 phòng 21%
Nguồn : Bộ Kế hoạch vàđầu tư
Như vậy ta thấy thực tế công suất đã huy động của các dựán còn quá bé so với
công suất cho phép, gây ra một sự lãng phí rất lớn cho nền kinh tế. Một trong những
nguyên nhân chính của tình trạng này là những dự báo sai lệch dung lượng thị trường
như 14 liên doanh lắp ráp ô tô với tổng công suất 140.000 ô tô/ năm, trong khi nhu cầu
thực tế của cả nước năm 1999 là 15.000 chiếc (trong đó lắp ráp trong nước chỉ 5000
chiếc), hoặc 4 dựán liên doanh sản xuất, lắp ráp xe máy với công suất 1,5 triệu xe/năm,
trong khi nhu cầu nhập khẩu linh kiện CKD, IKD khoảng 0,5 triệu xe/ năm. Do các
nhàđầu tư trong lĩnh vực ô tô, xe máy không tự khẳng định được khả năng xuất khẩu
của mình như các nhàđầu tư trong các ngành dệt may, giày dép, điện tử...nên không thể
hoàn thành mục tiêu của các dựán được cấp phép.
Một nguyên nhân nữa là do công tác quy hoạch đầu tư còn chậm và thiếu đồng bộ
nên dẫn đến tình trạng cấp phép đầu tư một cách ồạt và thiếu định hướng, chưa quan
tâm đến kế hoạch tiêu thụ sản phẩm của các dựán, thậm chí cấp phép cho cả các dựán
16.291 tỷđồng/ năm. Đối với một nền kinh tế có quy mô như của nước ta thìđây thực
sự là lượng vốn đầu tư không nhỏ, nó thực sự là nguồn vốn góp phần tạo ra sự chuyển
biến không chỉ về quy môđầu tư màđiều quan trọng hơn là nguồn vốn này có vai trò
như chất “xúc tác- điều kiện” để việc đầu tư của ta đạt hiệu quả nhất định. Nếu so với
tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản xã hội thời kỳ 1991-1999 thì vốn đầu tư xây dựng cơ
bản của các dựán đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 26,51% và lượng vốn đầu tư này
có xu hướng tăng lên qua các năm.
Bảng 9 : Cơ cấu vốn đầu tư XDCB của Việt Nam thời kỳ 1991-1999
Đơn vị : tỷđồng
Năm Tổng vốn đầu tư Vốn trong nước
Vốn ĐTTT của nước ngoài
Số lượng So với tổng (%)
1991 13471 11545 1926 14,3
1992 34737 19552 5185 21
1993 42177 31556 10621 25,2
1994 54296 37796 16500 30,4
1995 68048 46048 22000 32,3
1996 79367 56667 22700 28,6
1997 96870 66570 30300 31,3
1998 97336 73036 24300 25
1999 105200 86300 18900 18
2000 120600 98200 22400 18,6
Tổng 712102 527870 174832 24,55
Nguồn : Kinh tế VN và Thế giới 2000-2001 - Thời báo kinh tế Việt Nam
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ các dựán đầu tư trực tiếp nước ngoài giai đoạn
1995-1999 là 118.200 tỷđồng, cao hơn hẳn so với vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
cùng thời kỳ này (97389,6 tỷđồng). Tức là vốn ngân sách Nhà nước dành cho xây dựng
cơ bản chỉ bằng 82,4% vốn từ các dựán ĐTTTNN dành cho lĩnh vực này.
Kết quả phân tích cho thấy giữa vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài có sự tương quan với nhau. Hệ số tương quan Pearson bằng 0,773 cho thấy
hết các nước nhận được nhiều vốn đầu tư trực tiếp từ bên ngoài, đều nhỏ hơn 30%.
Điều này cũng lý giải lý do tăng tổng vốn đầu tư của nhiều nước ngoài vốn FDI còn có
phần tăng vốn trong nước do tác dụng lan truyền của FDI (spillover effects). Sự hoạt
động của đồng vốn có nguồn gốc từ FDI như là một trong những động lực gây phản
ứng dây chuyền làm thúc đẩy sự hoạt động của đồng vốn trong nước. Sự xuất hiện của
dựán FDI sẽ kéo theo sự xuất hiện của các doanh nghiệp trong nước làm nhiệm vụ cung
cấp nguyên nhiên vật liệu, linh kiện, phụ kiện, lao động, dịch vụ...cho dựán này đồng
thời đặt ra yêu cầu đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật tạo điều kiện cho sự
hoạt động của các dựán này. Các nhàđầu tư nước ngoài vào nước ta phải sử dụng đường
xá, cầu cống, bến cảng, đất đai, nhàở, bệnh viện, trường học và các dịch vụ khác của ta
và họ phải trả chi phí, như vậy đã làm cho đồng vốn bỏ vào các lĩnh vực này hoạt động
náo nhiệt hơn và có hiệu quả hơn.
Ta sẽước lượng mô hình với biến độc lập là VNN
(t-1)
- vốn ĐTTTNN năm (t-1) và
biến phụ thuộc là VTN
(t)
– vốn đầu tư trong nước năm t, để thấy rõ hơn tác động lan
truyền của FDI. Kết quảước lượng mô hình chi tiết được trình bày trong phần phụ lục.
Các kiểm định chứng tỏ kết quảước lượng mô hình có thể chấp nhận được và ta có
phương trình hồi quy mẫu như sau :
VTN
(t
)
= 19413,3 + 2,4691 VNN
(t-1)
Kết quả trên cho thấy, nếu các điều kiện khác không đổi, trung bình, khi thêm một
đồng vốn FDI được đưa vào đầu tưở nước ta sẽ làm cho vốn đầu tư trong nước năm sau
tăng thêm 2,47 đồng. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với kết quảước tính của các
chuyên gia kinh tế nước ta. Việc vốn FDI chỉ tác động nhiều đến vốn đầu tưtrong nước
biến TLUY và VNN được lấy dưới dạng logarit cơ số e
Ta có hàm hồi quy mẫu như sau:
Ln(TLUY) = 1,3275 + 0,06561 T + 0,1096 Ln(VNN)
hay TLUY = e
1,3275
VNN
0,1096
e
0,06561 .T
Như vậy ta thấy rằng, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, khi vốn FDI tăng
lên 1% sẽ làm cho tỷ lệ tích lũy của nền kinh tế tăng 0,11%. Đồng thời, tỷ lệ tích lũy
của nước ta đang có xu hướng tăng dần qua các năm. Khi các yếu tố khác giữ nguyên
như năm trước, tỷ lệ tích lũy năm sau sẽ tăng gấp 1,052 lần (e
0,06561
lần).
Điều này thực sự cóý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế của
nước ta vì chỉ thông qua việc nâng cao tỷ lệ tích lũy, chúng ta mới có thể tạo ra khả
năng tự lực về kinh tế cho mình trong các giai đoạn phát triển tiếp theo. Để có thể làm
được điều này thì việc thu hút mạnh mẽ hơn nữa nguồn vốn FDI là một trong những
yêu cầu cấp bách.
Những kết quả phân tích trên cho thấy trong những năm qua, vốn đầu tư nước
ngoài là nguồn vốn bổ sung quan trọng giúp Việt Nam phát triển một nền kinh tế cân
đối, bền vững theo yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài với tăng trưởng GDP
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần tạo ra những năng lực sản xuất
mới, ngành nghề mới, sản phẩm mới, công nghệ mới và phương thức sản xuất kinh
doanh mới, từđó làm tăng năng suất lao động xã hội, tăng tổng sản phẩm quốc nội và
làm cho nền kinh tế nước ta từng bước chuyển biến theo hướng kinh tế thị trường hiện
đại.
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài luôn có chỉ số phát triển cao hơn chỉ số
thời gian.
Dưới đây là kết quảước lượng mô hình bằng phương pháp OLS:
Ln(GDP) = 9,5712 + 0,14459 T + 0,20277 Ln(VNN)
hay GDP = e
9,5712
VNN
0,20277
e
0,14459 .T
Các kiểm định chẩn đoán cho thấy mô hình đảm bảo được các giả thiết của ước
lượng bình phương nhỏ nhất và không có khuyết tật. Các hệ số của mô hình đều phù
hợp với nội dung kinh tế vàđều khác 0 một cách thực sự. Hệ số của biến Ln(VNN)
bằng 0,20277 tức là trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, khi vốn ĐTTTNN tăng
lên 1% sẽ làm cho GDP của nước ta tăng lên 0,202%. Đồng thời từ năm này sang năm
tiếp theo, GDP sẽ tăng lên gấp 1,119 lần ( e
0,14459
), với điều kiện các yếu tố khác giữ
nguyên như năm trước. Đây thật sự là các kết quả cóý nghĩa, cho thấy vai trò to lớn của
vốn đầu tư nói chung và vốn đầu tư nước ngoài nói riêng trong sự tăng trưởng và phát
triển của nền kinh tế nước ta.
Một số lượng lớn các dựán FDI sau thời gian chuẩn bị triển khai và xây dựng cơ
bản đãđi vào hoạt động, tạo ra sản phẩm và nguồn thu đáng kể. Doanh thu của khu vực
FDI liên tục gia tăng với tốc độ nhanh chóng, từ 151 triệu USD năm 1991 lên 2063
triệu USD năm 1995, 3910 triệu USD năm 1998 vàđạt 5500 triệu USD trong năm
2000. Tổng doanh thu thời kỳ 1998-2000 đạt 21.641 triệu USD. Khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài đãđóng góp một phần đáng kể vào ngân sách Nhà nước: 195 triệu USD
năm 1995, 263 triệu USD năm 1996, 317 triệu USD năm 1998. Trong giai đoạn 1988-
2000, các doanh nghiệp FDI đãđóng góp vào ngân sách tổng cộng khoảng 1749 triệu
USD, đây là một con số thực sự cóý nghĩa, góp phần làm giảm bớt tình trạng thâm hụt
và nâng cao khả năng chi cho đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước.
số ngành quan trọng, tỷ trọng giá trị sản xuất của các doanh nghiệp FDI như sau: 71%
trong ngành sản xuất và sửa chữa xe cóđộng cơ (trong đó 100% trong sản xuất và lắp
ráp xe máy, ô tô); 44,3% trong ngành sản xuất sản phẩm bằng da và giả da; 100% trong
ngành sản xuất tụđiện, máy in, máy giặt, tủ lạnh, điều hòa không khí, đầu video, sản
xuất sợi PE, PES; 67,6% trong ngành sản xuất radio, tivi, thiết bị truyền thông; 31%
trong ngành sản xuất kim loại; 22,2% trong sản xuất thiết bịđiện, điện tử; 20,1% trong
ngành sản xuất hóa chất; 19,1% trong ngành may mặc và 18,6% trong ngành dệt. Các
số liệu trên chứng tỏ khu vực FDI có vai trò thực sự quan trọng trong ngành công
nghiệp của nước ta vàđang nắm giữ hầu hết các ngành ứng dụng khoa học công nghệ
tiên tiến.
♦ Đối với ngành nông nghiệp
Tính đến nay, còn 298 dựán ĐTTTNN đang hoạt động trong lĩnh vực nông lâm
nghiệp với tổng số vốn đăng ký gần 2 tỷ USD. Đầu tư nước ngoài đã góp phần nâng
cao năng lực sản xuất cho ngành nông nghiệp, chuyển giao cho lĩnh vực này nhiều
giống cây, giống con, tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao, góp phần thúc đẩy quá
trình đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp và khả năng cạnh tranh của nông lâm sản hàng
hóa. Vốn FDI còn góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp theo yêu
cầu của nền kinh tế CNH-HĐH. Nếu như trước đây đầu tư nước ngoài chỉ chủ yếu tập
trung vào lĩnh vực chế biến gỗ, lâm sản.. thì những năm gần đây nhiều dựán đãđầu tư
vào các lĩnh vực sản xuất giống, trồng trọt, sản xuất thức ăn chăn nuôi, mía đường,
trồng rừng, sản xuất nguyên liệu giấy, chăn nuôi...
Như vậy đầu tư trực tiếp nước ngoài đãđóng góp một phần rất lớn vào những
thành tựu về tăng trưởng kinh tế mà chúng ta đạt được trong thời gian qua vàđang
khẳng định vai trò quan trọng của mình trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước
các giai đoạn tiếp theo.
3. Đầu tư trực tiếp nước ngoài với chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế
Trong các mục tiêu kinh tế vĩ mô, quan trọng hàng đầu là tốc độ tăng trưởng và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu có quan hệ mật thiết
với nhau: tăng trưởng khác nhau giữa các ngành, lĩnh vực và vùng lãnh thổ sẽ làm thay
đổi cơ cấu kinh tế; ngược lại, chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ làm thay đổi tốc độ tăng
động dịch vụ trong nền kinh tế. Hai khu vực này luôn có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn
khu vực nông nghiệp, chỉ trừ năm 1998, nhịp tăng của dịch vụ trong tổng sản phẩm xã
hội giảm xuống còn 5,08% và năm 1999 còn 2,25%, thấp hơn so với khu vực nông
nghiệp mà nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp là do sự giảm sút luồng FDI đãảnh hưởng
đến vốn đầu tư, gián tiếp đến công ăn việc làm, thu nhập và như vậy làm giảm sức mua
trong nước. FDI giảm kéo theo lượng khách du lịch (kết hợp với kinh doanh) giảm,
gián tiếp làm giảm doanh thu ngành vận tải, du lịch, khách sạn, nhà hàng... Điều này
một lần nữa cho thấy vai trò quan trọng của nguồn vốn FDI.
Cơ cấu vốn FDI ngày càng thay đổi phù hợp với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh
tế của đất nước, phân bố FDI thực hiện đến nay cho thấy: công nghiệp, xây dựng
chiếm 48,5%; dịch vụ chiếm 47,5%. Tính đến ngày 15/03/2001, trong số các dựán FDI
còn hiệu lực thì khu vực công nghiệp có 1715 dựán, với tổng vốn đầu tư 19430,413
triệu USD, chiếm 53,5% tổng vốn FDI cả nước; tiếp theo là ngành dịch vụ với 638
dựán và lượng vốn đầu tư 14796,008 triệu USD, chiếm 40,73%; khu vực nông lâm