MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM VƯỢT RÀO CẢN TRONG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG HOA KỲ - Pdf 63

Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Thu Linh
MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM VƯỢT RÀO CẢN
TRONG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM VÀO THỊ
TRƯỜNG HOA KỲ
3.1 DỰ BÁO XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÁC RÀO CẢN CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI
HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM
3.1.1 Rào cản thuế quan có khả năng giảm nhưng không nhiều
Trong thời gian vừa qua Việt Nam và Hoa Kỳ đã tiến hành thành công
phiên đàm phán thứ 12, đây là bước đi cuối cùng mang tính chất quyết định việc
gia nhập WTO của Việt Nam. Như vậy chỉ vài tháng nữa Việt Nam đã là thành
viên của một tổ chức thương mại mang tính chất toàn cầu này. Khi đó quan hệ
thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ cũng như với các nước khác sẽ có nhiều
đổi thay. Điều đó được thể hiện trước tiên ở mức thuế mà các nước dành cho
nhau.
Sau khi quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ được bình thường hoá
và đặc biệt sau khi hiệp định thương mại song phương giữa hai nước có hiệu
lực, Hoa Kỳ đã cho hàng hoá của Việt Nam trong đó có hàng dệt may được
hưởng mức thuế MFN ở cột thuế NTR – mức thuế dành cho các nước có quan
hệ bình thường. Đó là mức thuế chung dành cho các nước là thành viên của tổ
chức thương mại thế giới WTO và những nước tuy chưa phải là thành viên của
WTO nhưng đã ký hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ. Như vậy
hiện nay Việt Nam đang được hưởng mức thuế đối với hàng dệt may như là các
nước thành viên của WTO nói chung, trừ các nước đựơc hưởng mức thuế quan
ưu đãi dặc biệt. Vì vậy sắp tới khi Việt Nam là thành viên của WTO Hoa Kỳ vẫn
đánh thuế hàng dệt may của Việt Nam như cũ trừ khi giữa hai nước có hiệp định
cho nhau hưởng mức thuế quan ưu đãi đặc biệt nào đó.
Tuy nhiên trước kia Việt Nam chỉ được Hoa Kỳ coi là nước có quan hệ
thương mại bình thường tạm thời (NTR). Nhưng hiện nay quốc hội Hoa Kỳ sắp
thông qua quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) với Việt Nam.
Khoa Kinh tế 1 Lớp K38F5
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Thu Linh

thể tránh được điều này khi xuất khẩu vào Hoa Kỳ. Hiện nay công nghệ sản xuất
hàng dệt may của Việt Nam đặc biệt là công nghệ nhuộm còn chưa đáp ứng
được các tiêu chuẩn môi trường. Vì thế đây là rào cản không dễ vượt qua đối với
tất cả các doanh nghiệp sản xuất hàng dệt may sang Hoa Kỳ trong thời gian tới.
Bên cạnh việc coi trọng vấn để đảm bảo môi trường trong quá trình sản
xuất, Hoa Kỳ còn rất coi trọng việc đáp ứng các tiêu chuẩn lao động trong doanh
nghiệp – các tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội, đặc biệt là các doanh nghiệp có
đông lao động như ngành dệt may. Hiện nay Hoa Kỳ đang áp dụng hai tiêu
chuẩn xã hội là tiêu chuẩn SA 8000 và tiêu chuẩn WRAP. Như đã giới thiệu ở
chương hai, cả hai tiêu chuẩn này không bắt buộc, các doanh nghiệp dệt may áp
dụng trên tinh thần tự nguyện. Nhưng ngày càng nhiều nước chỉ nhập khẩu hàng
dệt may của các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu đáp ứng được các tiêu chuẩn
này. Xu hướng tiêu chuẩn này sẽ trở thành bắt buộc, tất cả các doanh nghiệp dệt
may Việt Nam đều phải tuân theo nếu muốn xuất khẩu được hàng hoá vào Hoa
Kỳ.
3.1.3 Các quy định bảo vệ người tiêu dùng ngày càng nhiều và được
lồng ghép trong nhiều rào cản hơn
Về lý thuyết, việc các quốc gia đưa ra các rào cản thương mại trái với
nguyên tắc tự do hoá thương mại đã được thoả thuận trong thương mại quốc tế.
Vì vậy, các nước nhập khẩu hàng dệt may nói chung và Hoa Kỳ nói riêng
thường núp dưới bóng lợi ích người tiêu dùng để thiết lập các rào cản mới.
Hiện nay có rất nhiều rào cản có liên quan tới người tiêu dùng. Chẳng hạn
như quy định liên quan tới việc ghi nhãn hàng dệt may của Hoa Kỳ rất chặt chẽ
đảm bảo cho người tiêu dùng có các thông tin cần thiết về sản phẩm như thành
phần sợi, nước sản xuất, cách giặt, tẩy, là, sấy... Từ đó người tiêu dùng có cách
dùng tốt hơn, đồng thời đảm bảo chất lượng sản phẩm trong thời gian dài hơn.
Hay các quy định tiêu chuẩn môi trường, ngoài các lợi ích về môi trường nói
chung còn nhằm đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng. Trong quy định tiêu
Khoa Kinh tế 3 Lớp K38F5
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Thu Linh

để hải quan dễ kiểm tra khi cho hàng thông quan.
Nói chung việc ghi xuất xứ hàng dệt may rất được Hoa Kỳ quan tâm
chính vị vậy các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần chú ý để tránh những rắc
rối và những tổn thất không đáng có từ rào cản này.
3.1.5 Rào cản từ các biện pháp thương mại tạm thời ngày càng khắt
khe hơn
Việt Nam sắp là thành viên của WTO nhưng không có nghĩa là hàng dệt
may của Việt Nam có thể tránh khỏi rào cản từ các biện pháp thương mại tạm
thời. Thật vậy, trong lần đàm phán thứ 12 vừa rồi giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã
đi đến một thỏa thuận rất quan trọng đối với hàng dệt may. Hoa Kỳ sẽ xoá bỏ
hạn ngạch cho Việt Nam nhưng Chính phủ Việt Nam phải cam kết không được
thực hiện các chương trình trợ cấp vốn cho các doanh nghiệp dệt may, các
chương trình đang thực hiện cũng cần xoá bỏ ngay lập tức. Điều này gây không
ít khó khăn cho doanh nghiệp.
Bên cạnh đó việc Việt Nam gia nhập WTO cũng không đồng nghĩa với
việc hàng dệt may của Việt Nam sẽ không bị kiện bán phá giá hay áp dụng các
biện pháp đối kháng khác khi vi phạm. Mà chỉ có thể là vị trí của Việt Nam
trong các vụ kiện đó sẽ được cải thiện mà thôi. Kinh nghiệm từ Trung Quốc cho
thấy, sau khi tham gia vào WTO, trong giai đoạn đầu hàng hoá Trung Quốc tự
do chiếm lĩnh tất cả các thị trường và đã vướng phải rất nhiều vụ kiện bán phá
giá từ nhiều nước trên thế giới, trong đó có Hoa Kỳ. Việt Nam cũng vậy, trong
thời gian tới khi hạn ngạch đối với hàng dệt may vào thị trường Hoa Kỳ không
còn thì các doanh nghiệp dệt may Việt Nam sẽ xuất khẩu hết khả năng của mình
(hiện tại các doanh nghiệp chỉ xuất khẩu khoảng 50% khả năng sản xuất). Chính
vì vậy, nguy cơ hàng dệt may Việt Nam vào thị trường này tăng rất nhanh là
điều mà các doanh nghiệp có thể nhìn thấy được. Với sự tăng nhanh như vậy các
doanh nghiệp dệt may của Hoa Kỳ có thể sẽ khởi đơn kiện Việt Nam và các
Khoa Kinh tế 5 Lớp K38F5
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Thu Linh
doanh nghiệp dệt may Việt Nam khi đó sẽ bị áp các biện pháp đối kháng. Mặt

Trung tâm Thông tin thương mại - Bộ Thương mại có tạp chí chuyên ngành dệt
may phát hành mỗi tuần một số. Đây là một tờ báo rất có ý nghĩa đỗi với các
doanh nghiệp cũng như những người quan tâm tới lĩnh vực dệt may trong nước
và quốc tế. Nhưng việc cung cấp thông tin qua mạng Internet thì còn rất hạn chế.
Các trang Web của các bộ chưa hữu ích đối với các doanh nghiệp, các thông tin
trên đó không theo kịp sự phát triển trên thị trường dệt may. Bên cạnh việc cung
cấp thông tin một cách kịp thời thì các cơ quan này cũng cần phải có những
hướng dẫn cụ thể và chi tiết cho các doanh nghiệp hơn khi có những quy định
mới.
Chẳng hạn, cuối năm 2005 cơ quan hải quan và bảo vệ biên giới Hoa Kỳ
ra một quy định mới về viêc khai xuất xứ hàng dệt may. Huỷ bỏ quy định cũ về
khai báo (19 CFR 12.130) đối với tất cả hàng dệt và may. Thay vào đó, các nhà
nhập khẩu phải khai báo mã của nhà sản xuất – Manufacturer Identification
Code (MID). Nhà nhập khẩu, môi giới hải quan là người sẽ xác định MID dựa
trên những thông tin về công ty, điền vào form khai hải quan khi làm thủ tục
nhập khẩu. Quy định này có hiệu lực từ ngày 5/10/2005. Theo đó tất cả hàng dệt
may nhập khẩu từ tất cả các nước trong đó có Việt Nam phải thực hiện. Hàng
hoá của nước nào không thực hiện quy định này sẽ không được thông quan. Bộ
Thương mại đã cho đăng thông báo này trên tạp chí dệt may số ra ngày
24/10/2005 nghĩa là sau khi quy định có hiệu lực gần 20 ngày, còn Cục Xúc tiến
thương mại Việt Nam thì cung cấp thông tin này thông qua trang Web của cục
ngày 21/4/2006, chậm so với ngày có hiệu lực hơn nửa năm. Trong cả hai trang
thông tin này Bộ Thương mại cũng như Cục Xúc tiến thương mại đều không có
những quy định hướng dẫn cụ thể. Tuy có đưa ra các ví dụ về việc ghi mã số
MID của một số công ty nước ngoài nhưng tuyệt đối không có một ví dụ nào là
gắn với Việt Nam và các doanh nghiệp dệt may Viêt Nam. Điều này gây không
Khoa Kinh tế 7 Lớp K38F5
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Thu Linh
ít khó khăn cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam khi xuất khẩu vào Hoa Kỳ
trong thời gian qua.

là vấn đề lớn đối với ngành dệt may Việt Nam. Khi Việt Nam là thành viên
WTO, không còn quota, tâm lý khách hàng Hoa Kỳ sẽ vững tâm hơn khi làm ăn
với các doanh nghiệp dệt may Việt Nam. Mặt khác khi có các vụ kiện hay các
cuộc đàm phán với các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ, sẽ đỡ lép vế hơn, ít bị ép giá hay
thua thiệt hơn.
Trong những năm gần đây, Đảng và Chính phủ đã khẳng định rõ chủ
trương về chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và đã từng bước công bố lộ trình
hội nhập. Chính vì vậy các doanh nghiệp dệt may Việt Nam không còn bỡ ngỡ
với WTO. Nhưng Nhà nước cũng cần tạo điều kiện cho doanh nghiệp hơn nữa
để doanh nghiệp có thể cơ cấu lại nguồn lực, sắp xếp lại sản xuất... nâng cao sức
cạnh tranh của sản phẩm dệt may Việt Nam.
c) Giúp doanh nghiệp vượt qua rào cản trách nhiệm xã hội của Hoa Kỳ
Khi xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Hoa Kỳ, các doanh nghiệp
Việt Nam thường vướng phải các rào cản về trách nhiệm xã hội theo tiêu chuẩn
SA 8000 và WRAP. Cả hai tiêu chuẩn này đều có những quy định cơ bản về lao
động trẻ em, lao động cưỡng bức, sức khoẻ và an toàn, quyền tự do thành lập
các hiệp hội về đàm phán tập thể, phân biệt đỗi xử, các hình thức kỷ luật, giờ
làm việc và chế độ tiền lương.
Mặc dù đây là các tiêu chuẩn tự nguyện không có tính bắt buộc đối với
doanh nghiệp và các doanh nghiệp có thể đăng ký để được công nhận các tiêu
chuẩn đó, tuy nhiên Hoa Kỳ vẫn viện cớ rằng hàng hoá không đáp ứng được các
tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội để cản trở xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam. Điều
này đặc biệt được thể hiện rất rõ trong trường hợp sản xuất và xuất khẩu hàng
dệt may.
Tất nhiên, việc đáp ứng đầy đủ các quy định trong tiêu chuẩn SA 8000 và
WRAP là rất khó khăn với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh
Khoa Kinh tế 9 Lớp K38F5
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Thu Linh
nghiệp dệt may nói riêng. Việc để được công nhận là đáp ứng đầy đủ các yêu
cầu theo các tiêu chuẩn đó càng khó khăn hơn và phải trải qua một thời gian

thị trường Hoa Kỳ và góp phần xuất khẩu thành công vào thị trường này. Bên
cạnh đó các chuyên gia cũng tư vấn cho doanh nghiệp các bước cần thực hiện để
doanh nghiệp đáp ứng được các yêu cầu trong tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội
theo một lộ trình phù hợp với doanh nghiệp nhất.
Thứ ba, Nhà nước phải hỗ trợ các doanh nghiệp về điều kiện vật chất .
Để các doanh nghiệp dệt may có thể thực hiện được các tiêu chuẩn trách
nhiệm xã hội phải có sự hỗ trợ của Nhà nước về điều kiện vất chất. Vì doanh
nghiệp phải đảm bảo được các yêu cầu về môi trường làm việc như các thiết bị
về phòng cháy chữa cháy, có hệ thỗng thoát hiểm tiện lợi, có dây chuyền máy
móc đảm bảo an toàn cho người lao động trong quá trình sản xuất, nếu doanh
nghiệp nào có ký túc xá hay nhà ăn cho người lao động thì cũng phải đảm bảo
sạch sẽ và an toàn... Với các doanh nghiệp lớn việc thực hiện đồng bộ các quy
định về tạo môi trường an toàn này đã là rất khó khăn, với các doanh nghiệp nhỏ
thì việc thực hiện ngay một lúc lại càng không thể. Chính vì vậy rất cần sự giúp
đỡ của Nhà nước những bước đầu. Nhưng khi hỗ trợ các doanh nghiệp dệt may,
Nhà nước cần tìm cách thực hiện tốt nhất. Để không vi phạm quy định của Hoa
Kỳ về các hình thức trợ cấp và hỗ trợ không được phép sử dụng.
d) Chuyển các hình thức trợ cấp đèn đỏ, trợ cấp đèn vàng sang trợ cấp
đèn xanh
Các biện pháp hỗ trợ của Việt Nam đối với ngành dệt may trong thời gian
qua còn chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và vi phạm các nguyên tắc trợ cấp
của WTO cũng như quy định của Hoa Kỳ. Việt Nam được coi là nước đang phát
triển ở trình độ thấp nên chúng ta được phép vận dụng nguyên tắc ưu đãi dành
cho các nước đang phát triển. Tuy nhiên, theo Hiệp định Thương mại Việt Nam
- Hoa Kỳ, cũng như Hiệp định về hàng dệt may giữa hai nước thì nhiều biện
pháp hỗ trợ của của Việt Nam bị vi phạm như cấp vốn và cho vay ưu đãi đối với
Khoa Kinh tế 11 Lớp K38F5
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Thu Linh
doanh nghiệp dệt may Nhà nước, các khoản miễn thuế hay xoá nợ cho một đối
tượng nào đó mà không phải là cơ chế chung, trợ cấp để gom hàng xuất khẩu,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status