Chương II Phân tích thực trạng thị trường lao động việt nam
trong thời gian qua
II.1. Thực trạng về thị trường lao động Việt Nam
II.1.1.Đặc điểm về thị trường lao động.
a,áp lực lớn về việc làm:
Lực lượng lao động ở Việt Nam trong những năm gần đây đã liên tục tăng với
tốc độ cao,một mặt tạo nguồn lực lớn cho phát triển đất nước nhưng mặt khác
cũng tạo ra áp lực lớn về đào tạo nghề và giải quyết việc làm.
Tác dụng cả tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế đối với việc
thu hút , chuyển dịch cơ cấu lao động, nhưng hiện thực, tốc độ chuyển dịch cơ
cấu còn rất chậm , cụ thể :Trong vòng 10 năm kể từ năm 1990- 2000,khu vực
công nghiệp và dịch vụ lực lượng lao động tăng 14,2% trong khi đó lực lượng
lao động nông nghiệp chỉ giảm 4%(từ trên 72% năm 1990 xuống 68% năm
1999 ).
Những đặc điểm trên là luận chứng lý giải cho tình trạng : Thiếu việc làm và
dư thừa lao động càng trở lên bức xúc.Theo kết quả của cuộc điều tra về lao
động-việc làm cho thấy tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi ở
khu vực thành thị trong những năm gần đây có xu hướng gia tăng.Nếu năm
1986 là 5,8% thì năm 1997 là 6,01%;năm 1998 là 6,85% và năm 1999 là7,4%
(trong đó nữ chiếm 8,26%) .Đồng thời tỷ lệ lao động thất nghiệp ở khu vực
thành thị chủ yếu tập trung ở lực lượng lao động có độ tuổi từ 15-24.Lực lượng
lao động ở nhóm tuổi càng cao tỷ lệ thất nghiệp càng thất .Tỷ lệ sử dụng thời
gian thời gian lao động ở khu vực nông thôn chỉ đạt khoảng 65%-75% (thiếu
việc làm khoảng 30%-35%), càng chứng tỏ cho nhận định về tình trạng dư thừa
lao động nói trên .
b, Cơ cấu về lao động bất hợp lý:
Lực lượng lao động ở Việt Nam tăng nhanh, với mức cung về số lượng lao
động lớn, xong về trình độ chuyên môn tay nghề lại rất thấp dẫn đến tình trạng
vừa thừa lại vừa thiếu ,thừa lao động phổ thông thiếu lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật .
Chất lượng lao động nước ta còn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển.Theo
Qua một số khái niệm và đặc điểm của dân số và thị trường lao động nêu
trên, ta có đủ cơ sở, lý luận thực tiễn, để đi nghiên cứu tiếp sang phần thực
trạng của vấn đề đó .Tuy nhiên để xem xét vấn đề được hoàn thiện ta phải đề
cập đến,vấn đề sự tác động của dân số đến thị trường lao động.
II.1.2. Thực trạng đội ngũ lao động ở nước ta Thời kỳ trước đổi mới
(trước năm 1986)
II.1.2.1. Về số lượng lao động:
Trước năm 1986 lực lượng lao động nước ta rất dồi dào do tốc độ tăng dân
số nhanh sau chiến tranh nhất là thời kỳ 1954-1984 do vậy nguồn lao động nước
ta đang trong thời kỳ tăng cao nhất mà các nhà kinh tế học thế giới đã kết luận
“có nguy cơ không sử dụng hết lao động”
Nhịp độ tăng bình quân hàng năm dân số - nguồn lao động trong các thời
kỳ 5 năm
Bảng 1:
Thời kỳ 1961-1975 1976-1980 1981-1990
- Tốc độ tăng dân số (%) 3,05 2,45 2,15
- Tốc độ tăng NLĐ (%) 3,2 3,37 3,05
Về mức tuyệt đối nếu 5 năm 1976-1980 bình quân mỗi năm tăng thêm 75-
80 vạn người trong độ tuổi lao động; 5 năm từ 1981-1985 là 85-90 vạn người
(1)
(1)
(1)
Th tr ng lao ng v gi i quy t vi c l m Vi t Nam (UBKH nh n c - Trung tâm thông tin) tr.28ị ườ độ à ả ế ệ à ở ệ à ướ
(*)
Năm 1975 tổng số lao động trong khu vực nhà nước có 1761 ngàn người
chiếm 8,2% tổng số lực lượng lao động. Sang năm 1976 đã tăng lên 2475,3
nghìn người chiếm 11,05 tổng số lao động (so với 1975 tăng thêm 714,3 nghìn
người chiếm 12,5% tổng số lao động xã hội (so với 1976 đã tăng thêm 840,2
nghìn người và chiếm tỷ trọng 13% tổng số lực lượng lao động xã hội (so với
được qua các trường lớp đào tạo về quản lý mà từ đội ngũ cán bộ chủ yếu đảm
đương nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc sang đội ngũ cán bộ chủ yếu làm
nhiệm vụ quản lý.
- Thứ hai là chất lượng của lao động kỹ thuật, công nhân lành nghề không
những không được nâng cao mà còn bị mai một đi do cơ chế quản lý tập trung
sản phẩm làm ra theo chỉ tiêu dù tốt hay xấu đều được phân công hết. Từ đó ta
thấy kỹ năng của công nhân không được phát huy, tay nghề bị mai một đi và
công nhân không có tính sáng tạo. Mặt khác chế độ đào tạo công nhân theo chế
độ tuyển dụng suốt đời sẽ không tạo ra động lực để công nhân tự nâng cao trình
độ tay nghề của mình. Công tác tuyển dụng và công tác đào tạo không theo
đúng yêu cầu. Chỉ cần học qua các trường là được nhận vào công tác không kể
đó là nghề đào tạo là gì. Chính vì vậy chất lượng lao động không cao (do làm
không phù hợp với ngành nghề đào tạo).
Thêm vào đó là thông tin về mọi mặt phục vụ sản xuất kinh doanh quản lý
kinh tế không được mở rộng, không đáp ứng được nhu cầu mà chịu sự bưng bít
của kế hoạch hóa tập trung. Do vậy không có sự học hỏi từ các nước đi trước.
Đấy chính là sự thể hiện mặt hạn chế của cơ chế kế hoạch hóa tập trung.
II.1.2.3. Về chính sách bồi dưỡng đào tạo các loại hình lao động:
Trước đổi mới, nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến 90% dân số
mù chữ sau khi dành được chính quyền, Đảng và Bác Hồ đã ra quốc sách là diệt
giặc đói, giặc dốt. Các lớp bình dân học vụ và các lớp bồi dưỡng văn hóa lần
lượt được mở và phổ cập trong dân, nâng cao trình độ dân trí nói chung, trình
độ cán bộ công nhân lao động nói riêng. Hình thức này được duy trì khá lâu cho
mãi tới những năm 1970. Đặc biệt trong những năm 50 hình thành trường bổ túc
công nông, tuyển chọn những người đã có kinh nghiệm chiến đấu, bồi dưỡng
cấp tốc trình độ văn hóa cần thiết cử đi đào tạo hoặc đào tạo lại nghề phục vụ
cho nhu cầu xây dựng và phát triển đất nước. Hầu hết cán bộ, công nhân kỹ
thuật khoảng tuổi 50,60 hiện nay là những lớp người được đào tạo lại, bồi
dưỡng trong thời kỳ đó.
Năm 1958-1975, đây là thời kỳ bao cấp các chính sách được áp dụng chủ
cơ quan xí nghiệp nhà nước, nhà nước tăng lên nhanh chóng.
Bảng 3: Số lượng lao động có đào tạo tuyển dụng vào khu vực nhà nước từ
1975-1985
STT Lao động kỹ thuật tuyển 1975 1985
1 Trên đại học 2.179 5.000
2 Đại học và tương đương 136.000 400.000
3 Trung học chuyên nghiệp 325.000 760.000
4 Công nhân kỹ thuật 1.000.000 1.500.000
(Nguồn: Niên giám thống kê 1975, 1985 của TCTK)
Thực hiện chính sách tuyển dụng theo nghị định 24/CP ở giai đoạn trước
1986, mặc dù đã đạt được yêu cầu về mặt số lượng, nghĩa là đã tuyển dụng được
một đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đông đảo cung cấp cho các ngành nhưng
nhìn chung việc phân bổ sử dụng ở giai đoạn này chưa đều, mất cân đối giữa
các ngành, các cấp giữa địa phương và thành phố lớn và vùng xa xôi hẻo lánh.
Bảng 4: Phân bố không đều lao động khoa học kỹ thuật giữa các ngành (số
liệu 1982)
TT Ngành LĐ có trình độ TNCN
sơ học và nghiệp vụ
LĐ có trình độ đại học
và trên
Toàn bộ nền KTQD khu vực 697 254
1 Các ngành sản xuất vật chất 209 67
- Công nghiệp 69 24
- Xây dựng 43 15
- Nông, lâm, ngư 33 8
- Vận tải, bưu điện 19 7
- Thương nghiệp, vật tư 42 11
2 Phi sản xuất vật chất 488 187
- Nghiên cứu khoa học 22 13
- Giáo dục - đào tạo 316 117
thông qua các hình thức chuyển giao công nghệ, Trong khi đó đội ngũ lao động
hiện nay của chúng ta hầu như chưa đủ trình độ và phong cách để giao lưu, làm
ăn với các công ty của các nước cũng như để xây dựng một nền sản xuất, dịch
vụ hiện đại của nhà nước trong cơ chế thị trường. Do vậy, việc bồi dưỡng, đào
tạo đội ngũ lao động hiện có đang là một vấn đề cấp bách và nóng hổi hiện nay.
Đòi hỏi của sản xuất kinh doanh trong những năm tới (đến năm 2000 và
2010) đối với đội ngũ lao động ở các doanh nghiệp nước ta là: đạt tỷ lệ cân đối
hơn về số lượng giữa các loại lao động kỹ thuật và nâng cao chất lượng để có
thể vận hành sản xuất kinh doanh trong điều kiện hội nhập với nền kinh tế thế
giới. Như vậy yêu cầu đối với đội ngũ công nhân kỹ thuật có hiểu biết kỹ thuật,
và kỹ năng cao, có sức khỏe để vận hành được các máy móc và phương tiện tiên
tiến có đạo đức lao động tốt. Còn yêu cầu đối với đội ngũ lao động quản lý là:
có kiến thức chuyên môn, kỹ thuật và kiến thức quản lý hiện đại, có ngoại ngữ
đủ để giao tiếp bình thường trong công việc, thành thạo các kỹ năng quản lý
hiện đại, có đạo đức lao động và đạo đức kinh doanh tốt.
II.1.3.2. Thực trạng nguồn nhân lực.
Hiện nay giữa thực trạng nguồn nhân lực so với yêu cầu đặt ra ở nước ta
cồn một khoảng cách quá xa0, có thể nêu thực trạng nguồn lao động trong các
doanh nghiệp hiện nay như sau:
Một là, đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề còn rất thiếu so
với nhu cầu ( hiện nay chỉ có 13% so với tổng số lao động) và đang tồn tại mất
cân đối nghiêm trọng về tỷ lệ giữa các loại lao động kỹ thuật (tỷ lệ thực tế là
một kỹ sư/1,6 trung cấp và 3 công nhân, trong đó ở các nước phát triển, tỷ lệ
này là một kỹ sư / 3 trung cấp và 10 công nhân. Việc hình thành các khu công
nghiệp khu chế xuất ngày càng tăng thêm tình trạng đó .
Về nguồn lao động theo kết quả điều tra của Bộ lao động - thương binh và
xã hội năm 1996, số người trong độ tuổi lao động và là nhân khẩu thường trú từ
15-60 tuổi có 48,4 triệu người trong đó nhóm tuổi từ 15-24 có 13,7 triệu và
nhóm từ 25-34 có 11.6 triệu . Xét về lực lượng lao động về chuyên môn kỹ
thuật và công nghệ trong tất cả các ngành kinh tế quốc dân, thì trong tổng số
công nhân có tâm lý không muốn nâng bậc( vì nếu nâng bậc phải làm công việc
bậc cao hơn sẽ không đảm bảo năng suất, thu nhập sẽ bị giảm)
Bốn là, đội ngũ lao động quản lý tuy không thấp về trình độ sản xuất
nhưng năng lực thực tế cũng chưa tương xứng, chưa đáp ứng được nhu cầu của
công việc hiện tại; chưa được trang bị kiến thức quản lý kinh tế, quản trị kinh
doanh trong điều kiện kinh tế thị trường; chưa được đào tạo để có được những
kỹ năng quản lý hiện đại; tác phong làm việc về cơ bản là chưa thay đổi.