LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG - Pdf 63

Lý luận chung về hoạt động quản lý môi trờng và hệ
thống quản lý môi trờng
I- Thực chất và vai trò của hoạt động quản lý môi trờng
1. Khái niệm quản lý môi trờng
Theo quan điểm của ISO 14000 những yếu tố cơ bản của hệ quản lý chất l-
ợng môi trờng bao gồm việc xây dựng một chính sách về môi trờng xác định các
mục đích mục tiêu, thực hiện một chơng trình để đạt đợc những mục tiêu đó, giám
sát và đánh giá tính hiệu quả của nó, điều chỉnh các vấn đề và kiểm tra hệ thống
để cải thiện nó và cải thiện tác động chung đối với môi trờng. Cũng theo quan
điểm của ISO 14000 một hệ quản lý môi trờng hữu hiệu có thể hỗ trợ các Công ty
trong việc điều khiển đo lờng và cải thiện những phơng diện liên quan đến môi tr-
ờng trong các hoạt động của Công ty. Nó có thể làm cho những yêu cầu bắt buộc
và tự nguyện về môi trờng đợc đáp ứng tốt hơn. Nó có thể hỗ trợ quá trình đổi mới
của Công ty một khi những tập quán quản lý môi trờng đã đợc gắn liền với những
hoạt động tác nghiệp chung của Công ty.
2. Tình hình phát triển của vấn đề quản lý môi trờng
Với t cách là một chuyên ngành vấn đề quản lý môi trờng đã có lịch sử vào
khoảng 20 năm. Trớc khi các quy định về việc quản lý môi trờng đợc xây dựng
một cách rộng rãi, những vấn đề về môi trờng thờng đợc xử lý bởi các kỹ s và kỹ
thuật viên có trình độ và trách nhiệm khác nhau chứ không phải bởi các nhà quản
lý chuyên trách. Trớc đây, những quy định chính thức về môi trờng thờng không
có nhiều. Các quy định về việc cấp giấy phép và giám sát thực hiện cũng chỉ mức
độ hạn chế.
Các doanh nghiệp thờng có xu hớng đáp ứng riêng từng quy định mà
không tập trung thời gian và công sức để hệ thống hoá các giải pháp đáp ứng. Tr-
ớc đây các nhà quản lý môi trờng thờng tìm cách xử lý những điều phiền phức đã
xảy ra chứ không phải là những nhà kế hoạch làm việc một cách chủ động. Đồng
thời, các bộ phận chức năng khác của doanh nghiệp cũng không hề tham gia hoặc
có trách nhiệm về những vấn đề môi trờng có liên quan tới họ.
Hệ kinh tếSản xuất Tiêu dùng
Hộ gia đình

Sơ đồ1: mối quan hệ giữa kinh tế và môi trờng
Lấy ra Trả lại
Nh vậy hệ thống môi trờng, hệ kinh tế và hệ tự nhiên gắn bó rất chặt chẽ
với nhau, luân chuyển cho nhau, thờng xuyên tác động qua lại. Điều đó có nghĩa
là bất cứ một sự biến đổi nào của hệ tự nhiên cũng kéo theo sự biến đổi của hệ
kinh tế. Ngợc lại, các hoạt động kinh tế là nguyên nhân trực tiếp làm biến đổ hệ tự
nhiên. Hệ kinh tế và hệ tự nhiên tơng tác chặt chẽ với nhau tạo nên một hệ thống
mở, vì nó tiếp nhận năng lợng trực tiếp từ mặt trời, là tác nhân bên ngoài trái đất,
để duy trì sự tồn tại và tiếp tục phát triển. Nhng trong quá trình tăng trởng kinh tế
lại gắn liền với việc sử dụng ngày càng nhiều các nguồn tài nguyên không thể tái
tạo đợc. Mặt khác, sản xuất càng phát triển khối lợng sản phẩm càng tăng, thì
đồng thời lợng chất thải sản sinh ra từ các quá trình sản xuất cũng tăng. Tuy
nhiên, khả năng tiếp nhận và điều hoà của môi trờng đối với các chất thải là có
hạn, cho nên nếu không đợc kiểm soát tốt thì chất thải sẽ phá vỡ trạng thái cân
bằng của môi trờng.
+ Quan hệ giữa tăng dân số và bảo vệ môi trờng:
Con ngời là chủ thể của xã hội, đồng thời cũng là một trong những nhân tố
đặc biệt của môi trờng, có khả năng cải tạo hay huỷ hoại môi trờng. Con ngời là
nguyên nhân gây ra những tổn thất lớn lao cho môi trờng, làm cạn kiệt tài nguyên
phá vỡ cân bằng sinh thái tự nhiên của trái đất, làm nhiễm bẩn đất, nớc, không
khí. . . và những tổn thất này tăng lên cùng với sự gia tăng dân số. Vì vậy mà quản
lý, bảo vệ và cải tạo môi trờng vì lợi ích sống còn của loài ngời là tồn tại và phát
triển đang là vấn đề cấp bách đối với mỗi quốc gia trên toàn thế giới.
+ Sự phát triển bền vững:
Từ những năm 1980, đặc biệt từ sau hội nghị thợng đỉnh họp tại
Rio(Braxin) tháng 6/1992, xu hớng nhìn nhận thực trạng và tơng lai của thế giới
ngày càng hiện thực hơn, chính xác hơn. Để đảm bảo cho tăng trởng kinh tế có
tính ổn định và bền vững các quốc gia phải đồng thời quan tâm tới 3 mục tiêu cơ
bản là mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội và mục tiêu môi trờng. Nền kinh tế của
một quốc gia nào thực sự đạt đợc 3 mục tiêu đó thì chính là nền kinh tế hớng tới

cho bảo vệ môi trờng. Ngời ta dự đoán rằng khoảng 20% vốn đầu t của doanh
nghiệp sẽ phải dành cho các dự án về môi trờng. Tơng tự ở Việt Nam chính phủ đã
cho phép ngành than trích 1% chi phí sản xuất để đầu t cho công tác bảo vệ môi
trờng. Vì vậy mà các doanh nghiệp phải tìm kiếm những giải pháp hữu hiệu và ít
tốn kém để thực hiện các quy định về môi trờng.
+ Xu hớng toàn cầu hoá về môi trờng:
Trên phạm vi toàn thế giới, nói chung các vấn đề môi trờng đã trở nên phổ
biến hơn, và mọi ngời đã quan tâm đến môi trờng hơn đặc biệt là việc quan tâm
đến những vấn đề cần giải quyết nh hiện tợng trái đất nóng dần lên và vấn đề làm
thủng tầng ôzon. Những sự cố đặc biệt nh Shopal, ấn độ và exxon valdez đã làm
cho con ngời tập trung chú ý tới tác động của ngành công nghiệp đối với môi tr-
ờng và tới trách nhiệm của ngành công nghiệp trong vấn đề bảo vệ môi trờng.
+ Yêu cầu của các tổ chức tài chính
Những sức ép về mặt đầu t và tài chính cũng đòi hỏi phải cải tiến quản lý.
Các chủ cho vay đã nhạy cảm hơn đối với những vấn đề môi trờng và đã quan tâm
xem xét những vấn đề đó trong việc cho vay. Càng ngày các chủ cho vay càng yêu
cầu kiểm tra những nhà máy đang xây dựng hay những quá trình mới để tránh
những sự cố về mặt môi trờng, nhằm đảm bảo giá trị đầu t.
3. 3. Cơ sở pháp lý:
+ Luật bảo vệ môi trờng:
Hệ thống pháp luật và các văn bản pháp quy đã tạo cơ sở pháp lý cho việc
áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trờng ở Việt Nam. Vào năm 1985,
chính phủ Việt Nam xây dựng chơng trình quốc gia về bảo vệ môi trờng và cộng
với sự giúp đỡ của IUCN đã cho ra chiến lợc quốc gia về bảo tồn tài nguyên
thiên nhiên. Năm 1990 uỷ ban khoa học nhà nớc ( nay là bộ khoa học công nghệ
môi trờng), với sự giúp đỡ của UNDP, UNEP, IUCN và SIDA xây dựng báo cáo
kế hoạch quốc gia về môi trờng và phát triển bền vững và kế hoạch này đợc hội
đồng bộ trởng (nay là chính phủ) ban hành ngày 12/6/1992. Luật bảo vệ môi trờng
của Việt Nam đợc quốc hội thông qua vào tháng 12/1993 và ban hành ngày
10/1/1994. Bên cạnh luật môi trờng còn có một số luật và nghị định khác có liên

đợc công bố là tiêu chuẩn quốc tế sau đó mỗi nớc lại có thể chấp nhận một phiên
bản của tiêu chuẩn đó làm tiêu chuẩn quốc gia của mình.
+ Lịch sử ra đời và phát triển của ISO 14000:
Trong những năm 1980 ISO đã bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ tiêu chuẩn
hoá một vấn đề quản lý quan trọng của tổ chức là quản lý chất lợng. Đây là lần
đầu tiên ISO đã mạnh dạn đi vào lĩnh vực tiêu chuẩn không mang bản chất kỹ
thuật. Ban kỹ thuật TC 176 về đảm bảo chất lợng và quản lý chất lợng đợc thành
lập để xây dựng các tiêu chuẩn đầu tiên về quản lý chất lợng và đến năm 1987 bộ
tiêu chuẩn ISO về đảm bảo chất lợng đã đợc ISO ban hành. Có thể nói đây là một
bộ tiêu chuẩn mang lại tiếng tăm và thành công nhất trong lịch sử của ISO, đa số
các quốc gia trên thế giới đã chấp nhận các tiêu chuẩn ISO 9000 thành các tiêu
chuẩn quốc gia để đa vào áp dụng một cách rộng rãi. Tuy nhiên ngoài ý nghĩa về
xây dựng một hệ thống quản lý hữu hiệu trong doanh nghiệp nhằm nâng cao chất
lợng sản phẩm, ISO 9000 đã trở thành các yêu cầu đối với thơng mại và nhiều khi
trở thành điều kiện mua hàng của các nhà nhập khẩu đối với các nớc xuất khẩu.
Vào cuối những năm 1980, đã có nhiều tranh luận trong ISO về việc quyết định
xây dựng các dự thảo tiêu chuẩn quốc tế cho những vấn đề tranh cãi gay gắt trên
các diễn đàn công cộng nh vấn đề môi trờng. Sự huỷ hoại tầng ozon, sự nóng lên
của trái đất, nạn phá rừng nghiêm trọng và các vấn đề môi trờng khác đợc xem
nh là vấn đề mang tính chất toàn cầu. Trong thực tế đã có một phong trào thể hiện
sự mong muốn của các quốc gia có đợc sự quan tâm tốt hơn đến môi trờng của
trái đất. Một vấn đề khác vào thời điểm này đã gây nhiều sự quan tâm đó là quốc
tế cha có một chỉ số tổng hợp để đánh giá sự cố gắng nỗ lực của một tổ chức trong
việc đạt đợc các thành quả bảo vệ môi trờng một cách liên tục đáng tin cậy. Chính
loại chỉ số này đã hình thành nên tiêu chuẩn ISO 14001 về hệ thống quản lý môi
trờng.
Nói tóm lại, sự thành công của ISO 9000 và sự nổi lên của các vấn đề môi
trờng toàn cầu đã dẫn đến việc ISO thực sự bắt đầu các công việc xem xét đến
diễn đàn môi trờng. Tuy nhiên, chỉ đến năm 1994 ISO mới thực chất khởi sự công
việc này đợc tiến hành trong khuôn khổ hoạt động của nhóm t vấn chiến lợc về

tình trạng thiệt hại do môi trờng ở mức cao (khoảng 10%GDP) và đang có xu h-
ớng gia tăng. Theo đánh giá của ngân hàng thế giới nếu không có các biện pháp
kiểm soát và các chính sách đúng đắn lợng chất thải độc hại sẽ tăng 3,8 tấn trong
khoảng các năm 2000-2010 tơng ứng với tỷ lệ là 14,2%.
Ngày 1/1/1995, Việt Nam đã làm thủ tục để gia nhập tổ chức thơng mại thế
giới (WTO) và hiện nay vẫn đang trong quá trình đàm phán. Khi là thành viên của
tổ chức này chúng ta sẽ đợc hởng những lợi ích nhất định đồng thời cũng phải đáp
ứng những nghĩa vụ theo quy định hiện hành của WTO, trong đó có các quy định
về môi trờng. Bên cạnh đó chúng ta còn tham gia vào rất nhiều các tổ chức kinh tế
khu vực và thế giới. Tham gia vào các tổ chức kinh tế trên là điều kiện và môi tr-
ờng thuận lợi để các tự hoàn thiện mình nâng cao khả năng cạnh tranh. Bên cạnh
những thuận lợi đó các doanh nghiệp Việt Nam đang phải đối đầu với những khó
khăn trong việc đa hàng hoá của mình thâm nhập vào các thị trờng mới đặc biệt là
các thị trờng EU, Mỹ, Nhật. . . trong việc đòi hỏi các sản phẩm sạch thông qua
các quy định về môi trờng, quy định về trách nhiệm đối với ngời lao động khi
xuất khẩu hàng hoá sang các thị trờng này.
Nh vậy, trong xu hớng toàn cầu hoá, tự do hoá thơng mại vấn đề môi trờng
có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Nếu
doanh nghiệp biết cách khai thác triệt để lợi thế đó và có cách đối phó với những
vấn đề còn tồn tại thì có thể biến các lợi thế đó thành vũ khí cạnh tranh của doanh
nghiệp.
2.2. Tạo ra một số lợi thế trong kinh doanh
+ Lợi thế vay vốn:
Việc áp dụng ISO 14001 tạo ra những triển vọng cho việc vay ngân hàng
hoặc sự trợ giúp đối với các dự án phát triển cha đợc khai thác. Các cơ quan tài
chính quốc tế nh ngân hàng thế giới (WB), quỹ tiền tệ quốc tế (IMF). . . cũng nh
các nhà cho vay thơng mại của khu vực t nhân và các nhà đầu t thích hợp có thể
yêu cầu sự cam kết về ISO 14001 từ phía những ngời đi vay, do ISO 14001 có thể
là một chỉ số đáng kể của các cố gắng của tổ chức làm thoả mãn các trách nhiệm
môi trờng. Việc doanh nghiệp đợc chứng nhận sự phù hợp đối với các tiêu chuẩn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status