Chương 6
THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH KHÔNG HOÀN HẢO
Trong thế giới kinh tế thực, các thị trường thường không phải là thị
trường cạnh tranh hoàn hảo. Khi muốn ký một hợp đồng sử dụng điện,
chúng ta không có cơ hội lựa chọn các nhà cung ứng điện khác nhau, vì
trên thị trường chỉ có một nhà cung ứng điện độc quyền duy nhất. Khi
muốn sử dụng dịch vụ điện thoại di động, chúng ta đối diện với một thị
trường mà trên đó chỉ có một số ít người cung ứng. Tuy nhiên, nếu muốn
kiếm một chỗ ăn trưa, chúng ta có thể có nhiều nhà hàng để lựa chọn, và
đôi khi, sự lựa chọn là không dễ dàng vì các sản phẩm mà chúng cung
ứng là không giống nhau. Trên những thị trường như vậy, những người
bán không còn là những người chấp nhận giá. Vì thế, mô hình mà chúng
ta nghiên cứu ở chương trước không đủ để giải thích hành vi kinh doanh
của họ. Chúng ta cần phát triển mô hình tổng quát đã trình bày ở chương
4 để xem xét ứng xử của các doanh nghiệp trên các thị trường mà chúng ít
nhiều có quyền lực thị trường.
6.1. Đặc điểm và nguồn gốc của thị trường cạnh tranh không hoàn
hảo
6.1.1. Đặc điểm chung
Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo gắn liền với khả năng chi
phối hay kiểm soát giá của những người bán hay người mua riêng biệt.
Xét từ phía người bán, trên một thị trường cạnh tranh không hoàn hảo,
doanh nghiệp không phải là người chấp nhận giá mà là người định giá, có
khả năng chi phối giá, ở những mức độ khác nhau. Tùy theo số lượng
doanh nghiệp (do đó, ở một chừng mực nhất định là khả năng chi phối giá
cao hay thấp), người ta chia thị trường cạnh tranh không hoàn hảo thành
các dạng: thị trường độc quyền thuần túy (thị trường độc quyền của một
người), thị trường độc quyền nhóm và thị trường cạnh tranh có tính chất
độc quyền.
194
Đặc điểm chung của các dạng thị trường cạnh tranh không hoàn
P
2
0
q
1
q
2
q
Hình 6.1: Đường cầu đối diện với doanh nghiệp cạnh tranh không hoàn hảo
195
* Doanh thu biên mà doanh nghiệp thu được nhờ bán thêm một
đơn vị
sản lượng nhỏ hơn mức giá tương ứng (MR < P).
Đối với một doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo, đường cầu đối diện
với nó là một đường nằm ngang, do đó, khi doanh nghiệp bán hàng hóa
với một khối lượng lớn hơn, nó không phải hạ giá. Doanh thu biên của
việc bán thêm một đơn vị sản phẩm trong trường hợp này chính bằng
mức giá. Khi ta khẳng định, đường cầu đối diện với một doanh nghiệp
cạnh tranh không hoàn hảo là một đường dốc xuống, chúng ta muốn hàm
ý là, để bán được một khối lượng hàng hóa lớn hơn, doanh nghiệp phải hạ
đơn giá tính cho mỗi đơn vị sản phẩm xuống. Vì thế, khi bán thêm một
đơn vị sản phẩm, doanh thu mà doanh nghiệp thu thêm được bằng mức
giá của đơn vị cuối cùng mà doanh nghiệp bán ra trừ đi phần doanh thu
mất đi do doanh nghiệp phải hạ giá bán đối với những đơn vị sản phẩm
trước đó. Điều đó cho thấy, doanh thu biên của đơn vị sản phẩm cuối
cùng nhỏ hơn mức giá tương ứng. Nếu cần, ta có thể diễn giải điều này rõ
ràng hơn như sau:
Theo định nghĩa, ta có MR
(q+1)
= TR
- P
q
) + P
q+1
.
Do P
q+1
< P
q
nên số hạng thứ nhất trong biểu thức cuối cùng là một số
âm. Từ đó dễ dàng suy ra MR
q+1
< P
q+1
hay tổng quát hơn, MR < P.
*Khi theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp cạnh tranh
không hoàn hảo luôn định giá cao hơn chi phí biên của đơn vị sản phẩm cuối
cùng (P > MC).
Thật vậy, để tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp phải lựa chọn sản
lượng sao cho tại đơn vị sản phẩm cuối cùng MR = MC. Tuy nhiên, theo
đặc điểm trên, MR < P. Vì thế, P > MC. Ta có thể minh họa điều đó bằng
196
hình 6.2. Theo tính chất doanh thu biên luôn nhỏ hơn mức giá tương ứng
ở mỗi mức sản lượng, đường doanh thu biên nằm phía dưới đường cầu
mà doanh nghiệp đối diện (đường cầu chính là đường giá cả mà doanh
nghiệp có thể đặt ứng với mỗi mức sản lượng). Sản lượng tối đa hóa lợi
nhuận của doanh nghiệp là q*, tương ứng với giao điểm của đường doanh
thu biên MR với đường chi phí biên MC. Mức giá mà doanh nghiệp có
thể định là P*, được suy ra từ đường cầu ứng với sản lượng q*. Rõ ràng
P* lớn hơn MC*, tức chi phí biên của đơn vị sản lượng cuối cùng khi sản
sự xuất hiện các thị trường cạnh tranh không hoàn hảo chính là các yếu tố
phá vỡ các điều kiện cần thiết nuôi dưỡng thị trường cạnh tranh hoàn hảo
nói trên.
* Lợi thế theo quy mô
Lợi thế theo quy mô phản ánh khoảng sản lượng mà ở đó, quy mô
sản lượng càng tăng thì chi phí bình quân dài hạn càng hạ. Tuy nhiên, ở
các ngành khác nhau, quy mô sản lượng tối thiểu có hiệu quả cũng khác
nhau. Ở những ngành mà quy mô tối thiểu có hiệu quả tương đối nhỏ so
với quy mô chung của thị trường, miền lợi thế theo quy mô của mỗi
doanh nghiệp tương đối hẹp. Doanh nghiệp sớm vấp phải miền “bất lợi
thế theo quy mô”, tức là khoảng sản lượng mà ở đó, chi phí bình quân dài
hạn tăng lên theo chiều hướng tăng của sản lượng. Trong những ngành
như vậy, số lượng doanh nghiệp có thể cùng tồn tại khá nhiều. Ngành có
thể là một ngành cạnh tranh hoàn hảo. Với những ngành mà quy mô tối
thiểu có hiệu quả tương đối lớn so với quy mô chung của thị trường, đến
một lúc nào đó, số lượng doanh nghiệp có thể cùng hoạt động trong
ngành tương đối ít. Cạnh tranh trên thị trường sẽ loại bỏ nhiều doanh
nghiệp và chỉ cho phép một vài doanh nghiệp sớm đạt được khả năng sản
xuất ở quy mô sản lượng có hiệu quả trụ lại. Trong trường hợp này,
ngành sẽ trở thành một ngành cạnh tranh không hoàn hảo. Thậm chí, ở
những ngành như phân phối điện, sản lượng tối thiểu có hiệu quả thường
198
lớn đến mức nó chỉ cho phép một doanh nghiệp duy nhất hoạt động trong
ngành.
Trong trường hợp như vậy, ngành trở thành ngành độc quyền
thuần túy.
Doanh nghiệp độc chiếm được thị trường nhờ lợi thế theo quy mô được gọi là
doanh nghiệp độc quyền tự nhiên.
Tóm lại, do tính chất kỹ thuật, ở một số ngành, sản lượng cần tập
trung vào một nhóm nhỏ các doanh nghiệp mới đảm bảo được hiệu quả
),
số lượng các hãng có thể duy trì được hoạt động của mình tương đối
nhiều (tại mức giá hòa vốn P
1
, sản lượng q
1
của từng hãng khá nhỏ so với
sản lượng chung Q
1
của thị trường). Trong một ngành mà đường chi phí
trung bình dài hạn của một hãng là LAC
2
, số lượng hãng tồn tại dài hạn
được trong ngành không nhiều. Còn khi LAC
3
mới là chi phí trung bình
199
dài hạn của một hãng, với đường cầu thị trường vẫn là D, về dài hạn
ngành
chỉ cho phép tồn tại một doanh nghiệp.
* Tính khác biệt của sản phẩm
Chúng ta đã biết, khi sản phẩm của các doanh nghiệp cùng hoạt
động trong cùng một ngành khác biệt nhau, chúng không thể thay thế cho
nhau một cách hoàn hảo (ví dụ, những người đã quen sử dụng dầu gội
đầu nhãn hiệu “Sunsilk” không coi các loại dầu gội đầu khác là những vật
có thể thay thế nó một cách hoàn hảo). Trong trường hợp này, một doanh
nghiệp có thể tăng giá sản phẩm của mình trong một khoảng nhất định mà
không bị mất đi những khách hàng quen. Nói cách khác, khi sản phẩm
của mỗi doanh nghiệp đều khác biệt với sản phẩm của các đối thủ, mỗi
doanh nghiệp riêng biệt dường như có một phân đoạn thị trường riêng.
gian… với một độ rủi ro rất cao. Một phát minh mới ra đời, có khả năng
ứng dụng trong thực tiễn sản xuất, có thể không đem lại lợi ích kinh tế
đáng kể nào cho người tìm ra nó nếu những người khác có cơ hội sao
chép, bắt chước và khai thác nó một cách dễ dàng. Trong trường hợp này,
động cơ để từng cá nhân, doanh nghiệp đầu tư cho các phát minh, sáng
chế bị suy yếu nghiêm trọng. Để khắc phục điều đó, việc bảo hộ các phát
minh, sáng chế cũng như những sản phẩm trí tuệ khác được coi là một
trong những giải pháp quan trọng. Với các luật về quyền sở hữu trí tuệ,
những người nắm giữ các phát minh, sáng chế… được nhà nước bảo hộ
độc quyền khai thác chúng trong một khoảng thời gian nhất định. Đây là
một rào cản pháp lý để độc quyền (dù chỉ trong một số năm nhất định)
sản xuất trong một số lĩnh vực được thiết lập.
Việc bảo hộ các phát minh, sáng chế… luôn là sự bảo hộ có thời
hạn. Tính thời hạn ở đây liên quan đến sự cân nhắc của nhà nước trong
việc bảo đảm sự hài hòa về lợi ích xã hội giữa việc khuyến khích tạo ra
các phát minh, sáng chế với việc phổ biến rộng rãi chúng trong đời sống
sản xuất xã hội.
201
+ Chính sách ngoại thương của Nhà nước.
Để bảo hộ một số ngành công nghiệp trong nước, Nhà nước có thể
đánh thuế cao hoặc thiết lập những hàng rào phi thuế quan nhằm ngăn
chặn sự xâm nhập của hàng ngoại vào thị trường trong nước. Nếu trong
ngành công nghiệp được bảo hộ, chỉ có một nhóm nhỏ doanh nghiệp
trong nước đang kinh doanh, thì việc ngăn chặn thành công sự tham gia
cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ngoài có thể khiến cho ngành trở
thành ngành cạnh tranh không hoàn hảo. Tuy nhiên, hiện nay cùng với
tiến trình tự do hóa thương mại, việc tháo dỡ các hàng rào thuế quan và
phi thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu đã và đang trở thành những
cam kết quốc tế mà hầu hết các nước chấp nhận thực hiện trong lĩnh vực
thương mại.
thu biên.
Trên thị trường độc quyền thuần túy, doanh nghiệp nói chung
không bị nguy cơ gia nhập ngành từ phía các đối thủ tiềm năng đe dọa.
Đối với độc quyền tự nhiên, điều đó bắt nguồn từ lợi thế kinh tế nhờ quy
mô. Khi doanh nghiệp độc quyền có khả năng sản xuất ở mức sản lượng
tối thiểu có hiệu quả (ở đó LAC là tối thiểu) và mức sản lượng này quá
lớn so với quy mô chung của thị trường, một doanh nghiệp mới khó có
thể tham gia được vào ngành. Đối với các trường hợp độc quyền khác,
những rào cản pháp lý (giấy phép kinh doanh độc quyền, bằng sáng
chế…) không cho phép các doanh nghiệp mới xâm nhập vào ngành.
6.2.1. Quyết định về sản lượng và giá cả của nhà độc quyền
Theo đúng điều kiện tổng quát, để tối đa hóa lợi nhuận, nhà độc
quyền sẽ lựa chọn sản lượng theo nguyên tắc chi phí biên bằng doanh thu
biên (MC = MR). Đồng thời, nó sẽ định giá với mức giá P cao hơn chi
phí biên MC ở đơn vị sản lượng cuối cùng. Để đơn giản hóa, hãy hình
dung đường cầu đối diện với doanh nghiệp (cũng là đường cầu thị
trường) là một đường thẳng có dạng P = a - bQ (với P là mức giá, Q là
sản lượng và a, b là những tham số dương). Có thể dễ dàng chứng minh
rằng, đường doanh thu biên có dạng MR = a - 2bQ. Sản lượng tối đa hóa
203
lợi nhuận của doanh nghiệp là sản lượng Q* được xác định tương ứng với
giao điểm E của đường MC và đường MR. Mức giá P* mà doanh nghiệp
đặt sẽ là mức mà những người tiêu dùng sẵn sàng trả khi sản lượng là Q*.
P* được xác định như là tung độ của điểm F, là một điểm nằm trên
đường cầu được dóng lên từ mức sản lượng Q*. Rõ ràng, P* > MC(Q*).
P
F
P*
MC* E
MR
độc quyền có khả năng thu được lợi nhuận kinh tế dương trong ngắn hạn,
nó có thể duy trì được khả năng này trong cả dài hạn. Ở đây những rào
cản đối với sự gia nhập ngành khiến cho doanh nghiệp độc quyền vẫn có
thể duy trì được mức lợi nhuận tương đối cao của mình. Đây cũng là
điểm khiến cho doanh nghiệp có động cơ gia tăng đầu tư cho các hoạt
động nghiên cứu, triển khai, cải tiến kỹ thuật… nhằm hạ thấp chi phí sản
xuất để có thể thu được lợi nhuận cao. Những động cơ kiểu này vẫn có
thể có ở một doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo. Song xu hướng làm biến
mất những khoản lợi nhuận siêu ngạch trong dài hạn ở một ngành cạnh
tranh hoàn hảo khiến cho động cơ này bị suy yếu đi nhiều.
205
Trong ngắn hạn, nếu quy mô thị trường là quá nhỏ, doanh nghiệp
độc quyền có thể bị thua lỗ. Như chúng ta thấy trên hình 6.6 , tại mức sản
lượng tối ưu Q*, nơi mà MC = MR, mức giá cao nhất mà doanh nghiệp
có thể đặt được là P* vẫn nhỏ hơn chi phí bình quân tương ứng AC*.
Khoản lỗ của doanh nghiệp có thể biểu thị bằng diện tích của hình chữ
nhật được tô đậm. Khi gặp nguy cơ thua lỗ, quyết định của doanh nghiệp
vẫn tuân thủ theo nguyên tắc chung: doanh nghiệp chỉ sản xuất nếu mức
giá không nhỏ hơn chi phí biến đổi bình quân ngắn hạn. Trong trường
hợp ngược lại, doanh nghiệp sẽ đóng cửa. Trong dài hạn, doanh nghiệp
độc quyền sẽ không chấp nhận tình trạng thua lỗ. Nếu điều này có khả
năng xảy ra, doanh nghiệp sẽ rút lui khỏi ngành.
Doanh nghiệp độc quyền cũng có thể chỉ thu được lợi nhuận kế
toán thông thường, tức chỉ đạt mức lợi nhuận kinh tế bằng 0. Tuy nhiên,
trạng thái này vẫn đủ để giữ doanh nghiệp ở lại trong ngành cả trong dài
hạn.
Khi doanh nghiệp độc quyền lựa chọn sản lượng tối đa hóa lợi
nhuận theo nguyên tắc MC = MR, vì MC phải dương nên MR tương ứng
206
với mức sản lượng tối ưu cũng phải dương. Điều đó có nghĩa là: sản
1
Q
Hình 6.7: Nhà độc quyền cắt giảm sản lượng khi chi phí sản xuất tăng
207
Khi nhu cầu về hàng hóa mà nhà độc quyền sản xuất tăng lên,
đường cầu D dịch chuyển ra phía ngoài. Đường MR cũng dịch chuyển
theo
một cách tương ứng. Đường MR mới bây giờ sẽ cắt đường MC tại mức sản
lượng cao hơn. Nói cách khác, doanh nghiệp độc quyền sẽ mở rộng sản lượng
để đáp ứng lại sự gia tăng trong cầu về hàng hóa. Bạn đọc có thể tự vẽ để kiểm
tra lại điều này.
Đường cung của doanh nghiệp độc quyền
Khi chúng ta đã giả định doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu tối đa
hóa lợi nhuận, có thể khẳng định đường cung của doanh nghiệp là đường
mô tả các cặp giá cả và sản lượng cho phép doanh nghiệp tối đa hóa lợi
nhuận. Đối với một doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo, như ta đã biết, đó
chính là một phần của đường MC. Tuy nhiên, trong trường hợp thị trường
độc quyền, các cặp giá và sản lượng tối ưu của doanh nghiệp lại không
kết nối được với nhau thành một đường cung xác định. Đó là lý do người
ta nói rằng, không có đường cung trong trường hợp độc quyền. Có thể
giải thích điều này như sau: Vì không phải là người chấp nhận giá, các
quyết định về sản lượng và giá cả của doanh nghiệp độc quyền diễn ra
đồng thời. Chúng phụ thuộc vào vị trí của đường cầu, đường doanh thu
biên và chi phí biên. Với một đường MC xác định, khi đường cầu là D
1
và
đường doanh thu biên tương ứng là MR
1
, sản lượng và mức giá mà doanh
nghiệp độc quyền lựa chọn là Q
khác với mức giá P
1
. Trạng thái không
có đường cung của một doanh nghiệp độc quyền phản ánh sự kiện là: tại
cùng một mức giá, doanh nghiệp có thể sẵn sàng cung ứng với những
mức sản lượng khác nhau; và tại cùng một mức sản lượng doanh nghiệp
có thể định những mức giá khác nhau.
208
P
MC
P
1
D
2
MR
2
D
1
MR
1
0
Q
Q
1
Q
2
Hình 6.8: Doanh nghiệp độc quyền không có đường cung
So sánh thị trường độc quyền và thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Do thuộc về các cấu trúc thị trường khác nhau, các quyết định về
giá cả và sản lượng của các doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo và doanh