KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÁI BẢO HIỂM VÀ NĂNG LỰC
NHẬN TÁI BẢO HIỂM
I. NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ TÁI BẢO HIỂM
1. Sự cần thiết và bản chất của tái bảo hiểm
1.1 Sự cần thiết của tái bảo hiểm
Cũng giống như bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào, ngoài việc đáp ứng nhu
cầu an toàn cho con người thì lợi nhuận luôn là mục tiêu của hoạt động bảo hiểm
thương mại. Để đạt được mục tiêu đó thì một trong những nguyên tắc quan trọng mà
khi tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn phải tuân thủ, đó là nguyên tắc phân
tán rủi ro. Bởi sau khi nhận các rủi ro được chuyển giao từ người tham gia bảo hiểm,
nhà bảo hiểm lúc này sẽ là người phải đối mặt với những tổn thất có thể rất lớn nếu rủi
ro xảy ra. Mặc dù quĩ bảo hiểm là một quĩ tài chính lớn, được lập ra bởi sự đóng góp
của nhiểu người theo nguyên tắc số đông và như vậy với tư cách là người huy động và
quản lý quĩ, các công ty bảo hiểm có khả năng thực hiện nhiệm vụ chi trả bảo hiểm.
Tuy nhiên, trên thực tế, không phải lúc nào công ty bảo hiểm cũng luôn đảm bảo được
khả năng này. Rủi ro luôn tiềm ẩn trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và kinh
doanh bảo hiểm không phải là trường hợp ngoại lệ. Điều này xuất phát từ chính đặc
điểm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm:
Thứ nhất, bảo hiểm có chu kỳ kinh doanh đảo ngược, phí bảo hiểm thu trước
trong khi việc chi trả bồi thường lại phát sinh sau. Hơn nữa xác suất rủi ro lại khó có thể
dự báo một cách chính xác tuyệt đối khi tính phí bảo hiểm. Nên với trường hợp xác suất
rủi ro thực tế lớn hơn xác suất rủi ro dự báo hay có những tổn thất xảy ra liên tục trong
một thời gian dài và thậm chí có thể là những tổn thất mang tính thảm hoạ thì chính các
nhà bảo hiểm sẽ phải gánh chịu những rủi ro.
Thứ hai, kinh doanh bảo hiểm không chỉ đơn thuần là hoạt động kinh doanh
nhằm đem lại lợi nhuận cho các nhà bảo hiểm mà còn là san sẻ rủi ro giữa những người
tham gia bảo hiểm với nhau. Tuy nhiên có những đối tượng tham gia bảo hiểm hoạt
động ở địa bàn xa dẫn đến công ty bảo hiểm không có khả năng kiểm soát và quản lý
rủi ro dễ xảy ra tình trạng trục lợi bảo hiểm hoặc khi sự kiện bảo hiểm xảy ra để lại tổn
thất lớn.
Thứ ba, kinh doanh bảo hiểm còn phải đáp ứng các yêu cầu pháp luật về vốn và
và ký kết hợp đồng với nhiều công ty bảo hiểm, do đó sẽ mất hết thời cơ trong kinh
doanh. Mặt khác, khi tổn thất xảy ra việc giải quyết bồi thường sẽ rất khó tập trung
được một lúc nên người tham gia bảo hiểm sẽ không có điều kiện tập trung vốn để khôi
phục sản xuất kinh doanh và có thể dẫn đến việc nghi ngờ khả năng tài chính của các
nhà bảo hiểm.
b. Tái bảo hiểm: là phương thức bảo hiểm trong đó, một nhà bảo hiểm nhận bảo hiểm
cho một rủi ro lớn, sau đó nhượng bớt một phần rủi ro cho một hoặc nhiều nhà bảo
hiểm khác.
Công ty nhận
TBH A
Công ty nhận
TBH B
Công ty nhận
TBH C
Công ty bảo
hiểm gốc
Người được
bảo hiểm
Tác dụng của tái bảo hiểm được thể hiện ở một số mặt sau:
Rủi ro được phân tán nhanh do sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm,
công ty bảo hiểm gốc có thể tiến hành thu bồi thường nhượng tái bảo hiểm từ các công
ty tái, do đó mà tránh phá sản cho các công ty bảo hiểm gốc đặc biệt trong những
trường hợp rủi ro mang tính thảm hoạ hoặc sự kiện bảo hiểm xảy ra dồn dập. Từ đó
giúp ổn định hoạt động kinh doanh của công ty.
Tăng năng lực cho các công ty bảo hiểm gốc để chấp nhận các dịch vụ, giữ được
khách hàng, từ đó nâng cao uy tín cho công ty bảo hiểm gốc.
Công ty bảo hiểm gốc còn được hưởng một tỷ lệ hoa hồng nhất định từ các nhà
nhận tái bảo hiểm (chỉ áp dụng trong tái bảo hiểm theo tỷ lệ).
Ký kết hợp đồng được dễ dàng hơn, thời gian ngắn hơn.
Góp phần tăng thu ngân sách cho Nhà nước thông qua thuế do các công ty bảo
bảo hiểm là san sẻ được những tổn thất lớn liên quan đến mình, phân tán được giữa
những tổn thất lớn và những tổn thất nhỏ theo một biên độ đã dự kiến trước. Từ đó chủ
động xác định mức giữ lại và tái đi một cách hợp lý. Còn đối với các công ty tái bảo
hiểm, tái bảo hiểm có chức năng là mở rộng kinh doanh để tăng doanh thu và ngoại tệ
từ các dịch vụ nhận tái. Việc giúp ổn định kinh doanh cho công ty bảo hiểm gốc cũng
chính là giúp hoạt động kinh doanh của mình được ổn định.
Dưới góc độ Nhà nước: Bên cạnh việc tạo sự ổn định cho các công ty bảo hiểm,
tái bảo hiểm cũng gián tiếp giúp các doanh nghiệp, các cá nhân, các chủ thể nền kinh tế
tham gia bảo hiểm ổn định, hoạt động sản xuất kinh doanh từ đó đảm bảo ổn định và sự
phát triển vững chắc cho nền kinh tế trong nước. Ngoài ra, tái bảo hiểm cũng giữ Nhà
nước đảm bảo chức năng đối ngoại trong các nền kinh tế mở từ đó đảm bảo ổn định thu
ngân sách và ngoại tệ.
1.3 Lịch sử phát triển của tái bảo hiểm.
Một điều có tính quy luật là kinh tế - xã hội càng phát triển, đời sống vật chất và
tinh thần của người dân càng cao thì nhu cầu về bảo hiểm càng lớn. Như vậy, sự phát
triển của bảo hiểm phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội. Trong khi đó tái bảo hiểm
lại là hoạt động gắn bó chặt chẽ với hoạt động kinh doanh bảo hiểm, là một phần cơ bản
trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Chính vì vậy mà lịch sử phát triển của tái bảo
hiểm không thể tách rời được với sự phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi thời kỳ. Theo đó,
sơ lược phát triển của tái bảo hiểm có thể được chia làm ba giai đoạn:
1.3.1 Giai đoạn đầu phát triển của tái bảo hiểm (từ giữa thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ 19).
Theo tài liệu mà các nhà nghiên cứu thu thập được cho đến nay có thể khẳng
định nước Ý là nước đầu tiên chứng kiến sự ra đời của dịch vụ tái bảo hiểm. Bản thoả
ước cổ nhất có tính chất pháp lý như một hợp đồng tái bảo hiểm được ký kết vào năm
1370 nhằm đảm bảo cho chuyến hàng hoá vận chuyển trên biển có hành trình từ Genés
đến Bruges. Hợp đồng được ký kết giữa một bên hai thương nhân hoạt động với tư cách
là nhà tái bảo hiểm với một bên là đại diện cho một nhà bảo hiểm. Sau này cùng với sự
phát triển rộng rãi của những mối quan hệ thương mại giữa các thành phố của nước Ý
và giữa các nước Bắc Âu, đặc biệt là nước Anh, dịch vụ tái bảo hiểm ngày càng có điều
kiện phát triển.
toàn cầu. Mà thị trường Lloyd’s vẫn là trung tâm thế giới về bảo hiểm và tái bảo hiểm.
Giai đoạn này cũng chứng kiến sự xuất hiện đầy đủ tất cả các phương pháp và hình
thức tái bảo hiểm.
Tuy nhiên với hai cuộc chiến tranh thế giới cùng với các cuộc khủng hoảng kinh
tế và lạm phát đã làm tổn hại lớn đến sự phát triển của ngành bảo hiểm nói chung và
ngành tái bảo hiểm nói riêng. Bị tổn hại nhiều nhât là các công ty tái bảo hiểm của Đức.
Các giới tư bản độc quyền đã lấy vốn và quĩ tiền tệ bảo hiểm của các công ty bảo hiểm
và tái bảo hiểm để chi tiêu trong chiến tranh. Chính vì vậy mà đến cuối giai đoạn này
thị trường tái bảo hiểm thế giới bị trầm lắng hẳn.
1.3.3 Giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay.
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc năm 1945 với thắng lợi thuộc về Hồng quân
Liên Xô và các nước đồng minh. Cục diện thế giới thay đổi: hệ thống xã hội chủ nghĩa
ra đời, phong trào giải phóng dân tộc của nhiều nước thuộc địa giành thắng lợi, chủ
nghĩa đế quốc lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế mới…Tất cả đã tác động sâu sắc đến
nền kinh tế nói chung, ngành bảo hiểm – tái bảo hiểm nói riêng. Sự kiện này đã ảnh
hưởng lớn đến chiều hướng phát triển của tái bảo hiểm quốc tế. Các nước xã hội chủ
nghĩa đã thực hiện nhiều biện pháp mang tính độc quyền về tái bảo hiểm và hạn chế
quan hệ với thị trường tái bảo hiểm tư bản chủ nghĩa.
Tuy nhiên cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật mà qui mô sản xuất kinh
doanh ngày càng được mở rộng và những tài sản có giá trị lớn ngày càng tăng. Những
bất đồng trong chiến tranh ngày càng được đẩy lùi vào quá khứ làm cho quan hệ quốc
tế phát triển nhanh chóng và mang tính toàn cầu. Xã hội phát triển, nhiều ngành nghề
mới ra đời nhưng cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Mặt khác một số dịch vụ liên quan đến
con người có giá cả ngày càng đắt đỏ. Đó là những nguyên nhân chính giúp thị trường
tái bảo hiểm thế giới giai đoạn này phát triển nhanh nhất chưa từng thấy.
Đặc trưng chủ yếu của thị trường tái bảo hiểm giai đoạn này là thị trường tái bảo
hiểm đi theo xu hướng toàn cầu hoá. Các công ty tái bảo hiểm của CHLB Đức đã phục
hồi nhanh chóng, sớm khôi phục lại địa vị truyền thống của mình và thiết lập các mối
quan hệ quốc tế rộng rãi. Nhiều công ty tái bảo hiểm mới được thành lập và ngày càng
có nhiều công ty bảo hiểm tiến hành đồng thời dịch vụ tái bảo hiểm đã khiến cho thị
thành, trừ trường hợp có sự thoả thuận khác giữa hai bên. Dịch vụ tái bảo hiểm này
cũng sẽ tự động chấm dứt hiệu lực nếu đến ngày mãn hạn của hợp đồng bảo hiểm gốc
mà không có sự tái tục hợp đồng; tuy nhiên dù hợp đồng bảo hiểm gốc có tái lập thì
cũng không có nghĩa là nhà tái bảo hiểm buộc phải tiếp tục nhận hợp đồng tái bảo hiểm
cho thời hạn kế tiếp, mà họ có quyền lựa chọn nhận hoặc từ chối không tham gia tiếp
nữa, trừ trường hợp có những giao kết nào khác.
b. Ưu điểm của hình thức này là:
- Giúp công ty nhượng đặc biệt là những công ty mới thành lập còn non trẻ và ít
kinh nghiệm có thể yên tâm trong việc nhận bảo hiểm cho những đơn vị rủi ro có giá trị
lớn, vượt quá khả năng tài chính của họ
- Giúp công ty nhượng cân đối được khả năng tài chính của mình bởi vì họ rất
chủ động tái đi những đơn vị rủi ro cần thiết, chủ động xác định mức giữ lại hợp lý.
- Tái bảo hiểm tuỳ ý lựa chọn giúp cho công ty nhượng nhận những loại rủi ro
mà có thể không được chấp nhận trong các hợp đồng tái bảo hiểm bắt buộc truyền
thống của mình chẳng hạn như rủi ro về động đất, đình công, bạo loạn…
- Tạo điều kiện cho công ty nhượng có thể cải thiện vận may rủi trong việc đạt
được những lợi ích tối đa theo các điều kiện qui định trong các hợp đồng tái bảo hiểm
của họ (như điều kiện về chia lãi, thục tục phí tái bảo hiểm theo thang luỹ tiến, thủ tục
phí tái bảo hiểm theo lãi…). Bên cạnh đó, vận may rủi được chia sẻ giữa các bên là
hoàn toàn khách quan, không gò ép bởi vậy tạo điều kiện quan hệ lâu dài giữa công ty
nhượng và tái bảo hiểm.
c. Nhược điểm của hình thức tái bảo hiểm tuỳ ý lựa chọn:
- Do tiết lộ thông tin nên các nhà tái bảo hiểm có thể biết được chiến lược cũng
như mục tiêu kinh doanh, ý đồ của công ty nhượng. Điều này tạo sự bất lợi trong kinh
doanh.
- Công ty nhượng không có sự đảm bảo chắc chắn của thị trường tái bảo hiểm
cho một rủi ro nào đó nhất là rủi ro có giá trị lớn. Do đó công ty nhượng có thể sẽ mất
cơ hội tranh thủ bảo hiểm hoặc không có khả năng để nhận bảo hiểm cho rủi ro có giá
trị lớn, hay ít nhất cũng làm cho công ty nhượng mất uy tín vì sự chậm trễ trả lời người
được bảo hiểm.
Về nguyên tắc mọi điều khoản trong hợp đồng đều phải bắt buộc hai bên thực
hiện. Nếu có thay đổi thì thông thường đến năm nghiệp vụ sau đó hoặc đến một kỳ tái
tục bảo hiểm mới thì mới thay đổi.
b. Ưu điểm của hình thức tái bảo hiểm bắt buộc:
- Giúp công ty nhượng chủ động chấp nhận, định phí bảo hiểm cho rủi ro bảo
hiểm gốc mà không phải mất thời gian tham khảo ý kiến của nhà tái bảo hiểm, do đó
hợp đồng bảo hiểm sẽ nhanh chóng được ký kết.
- Việc nhận tái bảo hiểm theo hợp đồng cố định cho phép công ty tái bảo hiểm
nhận được nhiều dịch vụ hơn so với việc nhận từng hợp đồng tạm thời đơn lẻ. Nhà tái
bảo hiểm có điều kiện thu được số phí lớn, phù hợp với nguyên tắc “Quy luật số đông”
giúp họ đẩy mạnh tiến bộ kỹ thuật của ngành bảo hiểm bằng việc chấp nhận rủi ro mới.
- Thủ tục kí kết hợp đồng trong hình thức tái bảo hiểm này được tiến hành nhanh
chóng, tiết kiệm được chi phí, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty
bảo hiểm.
c. Nhược điểm:
- Đối với công ty nhượng còn non trẻ, mới thành lập, khả năng tài chính còn yếu
kém, bao giờ cũng gặp nhiều bất lợi khi thoả thuận. Mặt khác khi tái bảo hiểm theo
hình thức này, công ty nhượng phải đem tái đi mọi đơn vị rủi ro ngay cả đối với những
đơn vị rủi ro có số tiền bảo hiểm nhỏ nằm trong khả năng tài chính cho phép.
- Nếu công ty nhượng thiếu kinh nghiệm, đặc biệt sơ suất trong việc ký kết hợp
đồng bảo hiểm gốc thì hậu quả đối với các nhà tái bảo hiểm rất khó lường trước được.
Chính từ những ưu nhược điểm trên mà trong thực tế, hình thức tái bảo hiểm cố
định được áp dụng rất phổ biến trong nhiều loại nghiệp vụ bảo hiểm khác nhau như
trong bảo hiểm cháy, bảo hiểm hàng không.
2.3 Tái bảo hiểm lựa chọn - bắt buộc (Tái bảo hiểm để ngỏ)
Theo hình thức này, công ty nhượng không bắt buộc phải nhượng tất cả dịch vụ
mình có, ngược lại nhà tái bảo hiểm buộc phải chấp nhận các dịch vụ mà công ty
nhượng tái cho.
a. Thủ tục tiến hành:
Trước hết, công ty nhượng tính toán, rút kinh nghiệm từ những năm trước để
Tái bảo hiểm theo tỷ lệ là phương pháp tái bảo hiểm mà trong đó trách nhiệm
của công ty nhượng và các nhà tái bảo hiểm đối với các đơn vị rủi ro được bảo hiểm sẽ
phân bổ theo theo tỷ lệ giữa các bên tham gia so với số tiền bảo hiểm.
Đặc điểm của phương pháp tái này là đơn giản, dễ hiểu, dễ tính toán vì quĩ bảo
hiểm và số tiền bồi thường đều được chia sẻ theo tỷ lệ mà các bên đã cam kết trên cơ sở
số tiền bảo hiểm. Ngoài ra tái bảo hiểm theo tỷ lệ rất phù hợp với các công ty bảo hiểm
còn non trẻ, mới thành lập. Tuy nhiên thủ tục phí hay hoa hồng đôi khi rất khó thống
nhất giữa các bên tham gia hợp đồng. Có hai phương pháp cơ bản là: tái bảo hiểm số
thành ( phân ngạch) và tái bảo hiểm mức dôi (thặng dư vốn).
3.1.1 Tái bảo hiểm số thành:
Theo phương pháp này, công ty nhượng giữ lại cho mình một tỷ lệ nhất định so
với số tiền bảo hiểm, phần còn lại đem tái đi. Chính vì vậy, phí bảo hiểm và số tiền bồi
thường cũng được phân bổ giữa các bên theo tỷ lệ tương ứng.
a. Đặc điểm:
- Tất cả các đơn vị rủi ro trong bảo hiểm gốc đều phải đem tái đi theo tỷ lệ tương
ứng mà các bên đã thoả thuận.
- Nếu số tiền tái đi quá nhiều công ty nhượng có thể tìm kiếm nhiều nhà tái bảo
hiểm khác nhau để đảm bảo phân tán rủi ro nhanh hơn, giúp công ty ổn định kinh
doanh.
- Trong tái bảo hiểm số thành các bên tham gia hợp đồng cũng có thể đưa ra một
giới hạn nhất định. Căn cứ vào giới hạn này buộc công ty nhượng phải tìm kiếm những
bạn hàng mới.
b. Ưu điểm: