HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HOÀNG VĂN KHẢI
GIẢI QUYẾT QUAN HỆ GIỮA LỢI ÍCH CÁ NHÂN
VÀ LỢI ÍCH XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ
THỊ TRƢỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2019
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HOÀNG VĂN KHẢI
GIẢI QUYẾT QUAN HỆ GIỮA LỢI ÍCH CÁ NHÂN
VÀ LỢI ÍCH XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ
THỊ TRƢỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ
Mã số: 62 22 03 02
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS, TS Vũ Hồng Sơn
2. PGS, TS Đặng Quang Định
2.1. Khái niệm, nội dung giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi
ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay ................. 35
2.2. Những nhân tố tác động đến việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân
và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay ............... 64
Chƣơng 3. GIẢI QUYẾT QUAN HỆ GIỮA LỢI ÍCH CÁ NHÂN VÀ LỢI ÍCH XÃ
HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA .................................................................... 77
3.1. Thực trạng giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay .................................. 77
3.2. Một số vấn đề đặt ra từ thực trạng giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân
và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay............ 115
Chƣơng 4. GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ GIẢI QUYẾT QUAN HỆ GIỮA LỢI ÍCH CÁ
NHÂN VÀ LỢI ÍCH XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY ..................................................................................................................................124
4.1. Nâng cao nhận thức của các chủ thể lợi ích trong việc giải quyết
quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội................................................ 124
4.2. Tiếp tục hoàn thiện chính sách về sở hữu, phân phối nhằm đảm bảo
công bằng và tổ chức thực hiện tốt trên thực tế để giải quyết quan hệ
giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội ............................................................. 130
4.3. Khuyến khích cá nhân thực hiện lợi ích chính đáng của mình đồng
thời thực hiện lợi ích xã hội ........................................................................... 140
4.4. Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách tiền lương, kết hợp thực hiện
tốt chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội .............................................. 145
KẾT LUẬN................................................................................................................................156
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ....................................................................................................................158
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................159
ĐTSH
: Đối tượng sở hữu
HTSH
: Hình thức sở hữu
KTTT
: Kinh tế thị trường
KTTN
: Kinh tế tư nhân
KTNN
: Kinh tế nhà nước
LLSX
: Lực lượng sản xuất
LIXH
: Lợi ích xã hội
LICN
mối quan hệ trong xã hội. Đề cập tới vấn đề này, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng
định: “Lợi ích là thuộc tính tất yếu của con người và nó gắn kết các thành viên xã
hội dân sự lại với nhau” [88, tr.184]. Trong quá trình tồn tại và phát triển xã hội, sự
tác động lẫn nhau giữa các chủ thể lợi ích nhằm thỏa mãn nhu cầu sẽ hình thành
quan hệ lợi ích. Mối quan hệ giữa các lợi ích, đặc biệt giữa lợi ích cá nhân (LICN)
và lợi ích xã hội (LIXH), tạo nên những vector thúc đẩy hoạt động của con người và
sự vận động của xã hội theo những chiều hướng khác nhau, mạnh yếu khác nhau.
Tuy nhiên, quan hệ giữa các chủ thể lợi ích luôn nảy sinh vấn đề phức tạp, chứa
đựng những mâu thuẫn, nhất là giữa LICN và LIXH, bởi lợi ích luôn biến đổi theo
sự biến đổi của nhu cầu xã hội. Cho đến hiện nay, ở tất cả các cấp độ của lý luận lợi
ích nói chung, LICN và LIXH nói riêng vẫn đặt ra những vấn đề cần phải nghiên
cứu, nhất là trong bối cảnh kinh tế thị trường (KTTT) - nơi các loại lợi ích thể hiện
vai trò của mình một cách đặc thù, khác biệt so với các điều kiện xã hội khác.
Ở Việt Nam, trong quá trình xây dựng nền KTTT định hướng XHCN hiện
nay, chúng ta ngày càng nhận thức rõ hơn vai trò làm động lực của lợi ích đối với
sự tiến bộ xã hội. Tuy nhiên, điều đó chỉ đúng khi chúng ta giải quyết được hài hòa
các quan hệ lợi ích khác nhau, đặc biệt là quan hệ giữa LICN và LIXH - quan hệ lợi
ích căn bản của xã hội, nếu không thì trái lại, mâu thuẫn, xung đột lợi ích sẽ trở
thành lực cản sự tiến bộ xã hội, có thể phá hoại nghiêm trọng những thành quả bước
đầu mà đất nước đạt được, thậm chí xuất hiện những vấn đề chính trị - xã hội phức
tạp. Ở nước ta trong khoảng hơn 20 năm trở lại đây, khi chúng ta đi ngày càng đi
sâu vào nền KTTT, vấn đề lợi ích nói chung, LICN và LIXH nói riêng lại trở nên
2
phức tạp, tạo ra những vấn đề “nóng” cần phải giải quyết. Xuất hiện những biểu
hiện của sự mất cân bằng trong giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH, trong nhiều
biểu hiện chính là việc đề cao quá mức LICN hoặc LIXH. Một số lực lượng xã hội
nhân danh lợi ích, để mưu cầu LICN không chính đáng, xâm phạm LIXH. Những
hiện tượng tham ô, tham nhũng, lãng phí, gây thất thoát tài sản Nhà nước, buôn lậu,
những vấn đề đặt ra từ việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH trong điều kiện
KTTT ở Việt Nam hiện nay, luận án đề xuất những giải pháp chủ yếu để giải quyết
hài hòa quan hệ giữa LICN và LIXH góp phần thúc đẩy sự phát triển đất nước theo
định hướng XHCN.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu trên, luận án cần thực hiện một số nhiệm vụ cụ
thể như sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH
như khái niệm, nội dung, phương thức và các nhân tố tác động.
- Phân tích thực trạng, nguyên nhân của những hạn chế và những vấn đề đặt
ra từ giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH trong điều kiện KTTT ở Việt Nam
hiện nay.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu để giải quyết hài hòa quan hệ giữa LICN
và LIXH góp phần thúc đẩy sự phát triển đất nước theo định hướng XHCN ở Việt
Nam hiện nay.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH trong điều kiện
KTTT ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận án nghiên cứu việc giải quyết quan hệ giữa LICN và
LIXH trong điều kiện KTTT ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, giải quyết quan hệ giữa
LICN và LIXH là vấn đề rất rộng, ở đây, luận án chỉ giới hạn nghiên cứu việc giải
quyết quan hệ giữa LICN và LIXH chủ yếu thông qua lợi ích kinh tế trong lĩnh vực
sở hữu và phân phối; chủ thể giải quyết quan hệ lợi ích này chủ yếu là Đảng, Nhà
nước, xã hội và cá nhân. Luận án cũng chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu LICN là lợi
4
ích của cá nhân cụ thể nhằm đáp ứng nhu cầu thiết thân, đảm bảo sự phát triển của
5
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch s để phân tích bản chất của lợi ích, điều kiện hình thành, tồn
tại, biến đổi và tính lịch s của lợi ích, LICN, LIXH, quan hệ giữa LICN và LIXH...
Luận án s dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so
sánh, phương pháp tổng kết thực tiễn, phương pháp thống kê, các phương pháp thu
thập và x lý số liệu, thông tin (thứ cấp)... để phân tích thực trạng việc giải quyết
quan hệ giữa LICN và LIXH trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay bằng các
dẫn liệu cụ thể.
6. Ý nghĩa của luận án
- Góp phần cung cấp thêm cơ sở lý luận cho Đảng, Nhà nước trong việc đề
ra các chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm giải quyết quan hệ giữa LICN và
LIXH trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay.
- Những kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho
những người làm công tác quản lý xã hội xây dựng và thực hiện tốt các chủ trương,
chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước nhằm giải quyết quan hệ giữa LICN và
LIXH trong những điều kiện cụ thể nhất định ở nước ta hiện nay.
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc
giảng dạy, nghiên cứu giảng dạy triết học, các ngành khoa học xã hội và nhân văn
tại các học viện, trường đại học, cao đẳng, trường chính trị tỉnh (thành phố).
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm: 04
chương, 12 tiết.
6
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ LỢI ÍCH, LỢI ÍCH CÁ NHÂN,
Năm 2005, tác giả Lê Thị Kim Chi trong cuốn sách Nhu cầu: động lực và định
hướng xã hội [15] đã có những phân tích cụ thể về mối quan hệ giữa nhu cầu và lợi ích,
theo đó, tác giả khẳng định: “Lợi ích xuất hiện trong quan hệ giữa nhu cầu của con
người với môi trường xung quanh; lợi ích thể hiện mối quan hệ xã hội giữa con người
với con người nhằm thỏa mãn nhu cầu; lợi ích là cái trung gian giữa nhu cầu và hoạt
động của con người, là động lực thúc đẩy hoạt động của con người và của xã hội” [15,
tr.31]. Những phân tích của tác giả về quan hệ nhu cầu và lợi ích đã gợi mở cho chúng
tôi nghiên cứu sâu thêm về vấn đề lợi ích trong điều kiện Việt Nam hiện nay.
Năm 2010, trong công trình Thống nhất lợi ích kinh tế giữa giai cấp công
nhân, nông dân và tầng lớp trí thức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam
hiện nay [36], tác giả Đặng Quang Định trên cơ sở tiếp cận lợi ích từ nhu cầu, đã nêu
rõ định nghĩa về lợi ích: “lợi ích là cái phản ánh quan hệ nhu cầu giữa các chủ thể và
dùng để thỏa mãn nhu cầu của các chủ thể xã hội (cá nhân, tập đoàn, giai cấp, tầng
lớp...) trong những điều kiện lịch s - xã hội nhất định” [36, tr.30]. Từ đó, tác giả
khẳng định: “về bản chất, lợi ích là cái phản ánh quan hệ của các chủ thể nhu cầu, còn
nội dung là để thỏa mãn nhu cầu của chủ thể ấy” [36, tr.30]. Chúng tôi đồng ý với
quan điểm này và coi đây là tài liệu tham khảo rất có ý nghĩa.
Năm 2012, cũng trên cơ sở tiếp cận lợi ích từ nhu cầu, song đề cập đến khía
cạnh động lực của lợi ích đối với con người, tác giả Lê Văn B u, trong công trình
Vấn đề lợi ích trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở vùng
Nam bộ hiện nay [9] đã nêu: “Lợi ích là sự thể hiện mâu thuẫn khách quan giữa nhu
cầu và điều kiện để thỏa mãn nhu cầu. Trong khi thể hiện mâu thuẫn nói trên, lợi ích
kích thích tính tích cực, sáng tạo của con người và “thúc ép” con người phải hành
động, đấu tranh vì lợi ích của mình” [9, tr.35]. Đây là quan điểm mà chúng tôi cũng
đã có sự tham khảo trong quá trình nghiên cứu về lợi ích.
Như vậy, vấn đề khái niệm, bản chất của lợi ích cũng đã được nhiều học giả
trong và ngoài nước nghiên cứu trong những giai đoạn lịch s khác nhau, song có
thể thấy, cơ bản đều thống nhất quan hệ lợi ích là khách quan, là cái phản ánh quan
hệ nhu cầu giữa các chủ thể và dùng để thỏa mãn nhu cầu của các chủ thể xã hội và
về bản chất, lợi ích là cái phản ánh quan hệ của các chủ thể nhu cầu, còn nội dung là
Năm 2011, trong công trình Lợi ích - động lực của sự phát triển bền vững
[84] tác giả Hoàng Văn Luân đã khẳng định: Mâu thuẫn lợi ích và giải quyết mâu
thuẫn lợi ích là động lực phát triển xã hội [84, tr.93]. Trên cơ sở đó tác giả nêu ra
9
những định hướng quan hệ lợi ích vì sự phát triển xã hội, trong đó nêu khá cụ thể
các nguyên tắc và biện pháp điều chỉnh cũng như điều chỉnh một số quan hệ lợi ích
cơ bản của xã hội, đặc biệt nhấn mạnh đến việc điều chỉnh chính sách kinh tế. Đây
là công trình có nhiều giá trị đối với chúng tôi trong việc phân tích về lợi ích, cũng
như có những gợi mở để nghiên cứu về việc giải quyết các lợi ích.
Về phân loại lợi ích
Các công trình về lợi ích nêu trên đều đã đề cập về phân loại lợi ích theo
nhiều cách tiếp cận, nhiều tiêu chí khác nhau. Tuy nhiên, ở góc độ khái quát, theo
tác giả Đặng Quang Định trong công trình Thống nhất lợi ích kinh tế giữa giai cấp
công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt
Nam hiện nay [Theo 36], đã phân tích cách phân loại lợi ích của các học giả Liên
Xô được đề cập trong “Bách khoa toàn thư Liên Xô”, viết năm 1972, trên cơ sở các
nguyên tắc, tiêu chí nhất định, lợi ích phân loại như sau: dựa vào các lĩnh vực của
đời sống xã hội, chia thành lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích kinh tế và lợi
ích chính trị; dựa vào phạm vi cộng đồng, chia thành LICN, lợi ích giai cấp, lợi ích
tập thể, LIXH; dựa vào xu hướng khách quan của sự phát triển xã hội, chia thành
lợi ích tiến bộ, lợi ích bảo thủ;…
Ngoài ra, lợi ích còn có thể phân loại dựa trên một số căn cứ sau: dựa vào
thời gian tồn tại của lợi ích, chia thành lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; dựa vào
tầm quan trọng của lợi ích, chia thành lợi ích căn bản và lợi ích không căn bản, lợi
ích cấp bách và lợi ích không cấp bách; dựa vào tính chất và các biện pháp thực
hiện lợi ích, chia thành lợi ích chính đáng và lợi ích không chính đáng.
Đây là cách tiếp cận để phân loại lợi ích khá toàn diện, vì vậy, công trình này
là tài liệu tham khảo bổ ích cho chúng tôi trong việc phân loại lợi ích.
lợi ích kinh tế: “lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện của những quan hệ kinh tế,
quan hệ giữa người với người trong sản xuất” [132, tr.9]. Ở điểm khác các tác giả
phân tích “Lợi ích kinh tế của xã hội là lợi ích của nhân dân lao động trên phạm vi
cả nước, lợi ích của tất cả các tập đoàn, các thành viên của xã hội xã hội chủ nghĩa.
Lợi ích kinh tế của xã hội nảy sinh trên cơ sở nhân dân lao động làm chủ tập thể về
tư liệu sản xuất, về lao động, đất đai, về tài nguyên thiên nhiên” [132, tr.11]. Cùng
với đó, các tác giả cho rằng: “lợi ích của cá nhân người lao động biểu hiện trước hết
ở tiền lương, tiền thưởng trong các xí nghiệp quốc doanh, ở thu nhập của các xã
viên trong các đơn vị kinh tế tập thể, ở các khoản phụ cấp xã hội về học hành, bảo
vệ sức khỏe, nghỉ ngơi, v.v..” [132, tr.13].
11
Năm 1988, tác giả Nguyễn Duy Hùng trong công trình Bàn về sự hình thành và
kết hợp các lợi ích kinh tế trong nông nghiệp tập thể ở nước ta hiện nay, [60] đã cho
rằng: “lợi ích kinh tế là phạm trù kinh tế khách quan, có tính vật chất, có ý nghĩa thiết
thực đối với hoạt động và phát triển của chủ thể. Song chưa đủ: lợi ích kinh tế còn đảm
bảo duy trì các mối quan hệ giữa các chủ thể” [60, tr.12] và “lợi ích cá nhân là điểm
xuất phát và là động lực mạnh mẽ nhất cho mọi hoạt động” [60, tr.18].
Đi vào phân tích lợi ích kinh tế trong điều kiện hiện nay, năm 2013, tác giả Đỗ
Huy Hà trong công trình Giải quyết quan hệ lợi ích kinh tế trong quá trình đô thị hóa
ở nước ta hiện nay [48] khẳng định: “lợi ích kinh tế là những quan hệ kinh tế phản
ánh những nhu cầu, động cơ khách quan về sự hoạt động của các chủ thể khi tham gia
vào các hoạt động kinh tế - xã hội và do hệ thống quan hệ sản xuất quyết định” [48,
tr.10]. Công trình cũng đã khẳng định thực chất, nội dung, phân tích thực trạng của
việc giải quyết quan hệ lợi ích kinh tế trong quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay và
đề xuất quan điểm, giải pháp giải quyết tốt quan hệ này. Đây là công trình có nhiều
gợi mở ý tưởng cho tác giả trong việc giải quyết các nội dung cụ thể của giải quyết
quan hệ lợi ích trong đời sống xã hội.
Có thể nói, đây là những công trình hết sức quan trọng, có ý nghĩa đối với
Nói về LICN và LIXH trong điều kiện KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam, trong đề tài Quan hệ giữa cá nhân và xã hội trong điều kiện kinh tế thị
trường ở Việt Nam hiện nay [106] (năm 2013) các tác giả khẳng định: “thực chất
của việc tổ chức xã hội là giải quyết quan hệ lợi ích nhằm tạo khả năng cao nhất cho
mỗi cá nhân tác động vào mọi quá trình kinh tế, xã hội, cho sự phát triển được thực
hiện” [106, tr.33]. Các tác giả cũng đã phân tích quan hệ biện chứng giữa sự phát
triển của cá nhân và sự phát triển của xã hội: “thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu
và lợi ích chính đáng của cá nhân là mục tiêu và động lực thúc đẩy sự phát triển xã
hội. Bất cứ vấn đề gì, dù là phạm vi nhân loại hay cá nhân, dù trực tiếp hay gián
tiếp, nếu lợi ích cá nhân và xã hội là thống nhất thì chính ở đó bắt gặp mục đích và
động lực của sự nỗ lực chung vì một tương lai tốt đẹp” [106, tr.33]. Cách tiếp cận
về quan hệ xã hội, quan hệ lợi ích trong công trình này đã gợi mở cho chúng tôi
nhiều ý tưởng để có sự nhìn nhận rộng hơn về quan hệ lợi ích trong xã hội.
Đề cập đến lợi ích công cộng và lợi ích cá nhân, tác giả Tang Shan Qing
trong Mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích công cộng và lợi ích cá nhân [153] đã
phân tích quan hệ biện chứng giữa lợi ích công cộng và lợi ích cá nhân trong điều
kiện ở Trung Quốc. Tác giả cho rằng: lợi ích công và lợi ích cá nhân có mối quan hệ
13
biện chứng vừa đối lập, lại vừa thống nhất. Một mặt, lợi ích công và lợi ích cá
nhân có tính thống nhất, tương hỗ, chuyển hóa lẫn nhau; mặt khác lợi ích công và
lợi ích cá nhân lại thể hiện tính đối lập, giữa chúng không tránh khỏi việc tồn tại
những mâu thuẫn nhất định. Để giải quyết những mâu thuẫn giữa lợi ích công và lợi
ích cá nhân, cần nhìn nhận lợi ích công dưới góc độ khoa học; thiết lập cơ chế công
khai dân chủ trong nhân dân; thực hiện công bằng, hợp lý; có chính sách bồi thường
lợi ích thỏa đáng; từ đó góp phần làm cho lợi ích công và lợi ích cá nhân có sự phối
hợp nhịp nhàng, hiệu quả.
Như vậy, các công trình nêu trên dù không phải là công trình chuyên biệt, chưa
nêu một cách trực tiếp về quan hệ giữa LICN và LIXH, nội dung và thực chất của nó,
chúng ta phải nói đến quan hệ biện chứng giữa các lợi ích đó nhằm tìm ra những
động lực chung cho sự phát triển xã hội. Có như vậy, chúng ta mới tạo ra được
những hoạt động của “khối quần chúng đông đảo”, của “một dân tộc trọn vẹn” thúc
đẩy xã hội phát triển. Những đề xuất trong công trình này đặt ra cho chúng tôi
nhiệm vụ tìm kiếm những cách thức giải quyết quan hệ lợi ích một cách lâu dài, trên
cơ sở kết hợp các lợi ích.
Năm 2014, tác giả Hoàng Văn Luân trong công trình Quản trị xung đột lợi
ích - các lý thuyết và vấn đề đặt ra ở Việt Nam hiện nay [85] đã cho rằng giữa các
lợi ích khác nhau trong xã hội luôn có xu hướng xung đột với nhau, đó là một tất
yếu khách quan và phổ biến. Xung đột lợi ích được hiểu là sự vi phạm, xâm phạm
hoặc làm tổn hại lẫn nhau giữa các lợi ích trong một quan hệ nhất định. Tác giả
cũng đã lược khảo quan điểm của các nhà tư tưởng trong cách tiếp cận xung đột lợi
ích như F.W.Taylor, Mary Packer Follet... Từ đó, tác giả cho rằng, để thúc đẩy xã
hội phát triển, cần có quản trị xung đột lợi ích - tức là quá trình tác động của nhân tố
chủ quan đến các xung đột lợi ích, hay cụ thể hơn là đến các xu hướng khách quan
của sự cạnh tranh, đấu tranh giữa các lợi ích không phải là sự triệt tiêu sự cạnh
tranh, đấu tranh này, cũng không phải là để đẩy sự cạnh tranh đó thành đối kháng,
thù địch mà tạo ra sự cân bằng năng động giữa các lợi ích - động lực phát triển xã
hội. Tác giả cũng cho rằng: xung đột lợi ích giữa các chủ thể khác nhau có thể là
xung đột LICN - LIXH, xung đột LICN, lợi ích nhóm, xung đột lợi ích nhóm - lợi
ích nhóm, xung đột LICN và/hoặc lợi ích nhóm - lợi ích chung... Công trình rất có ý
nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn khi lược khảo các lý thuyết quản trị xung đột trên
thế giới, từ đó có những đánh giá, liên hệ việc quản trị xung đột lợi ích ở Việt Nam.
15
Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một bài nghiên cứu trên tạp chí, tác giả chưa đề cập
cụ thể tới các nhân tố chủ quan trong việc giải quyết xung đột lợi ích.
Đề cập cụ thể tới cách thức giải quyết mâu thuẫn lợi ích, theo tác giả Nguyễn
Linh Khiếu trong cuốn sách Góp phần nghiên cứu quan hệ lợi ích [76] đó là: “các
giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH, song vấn đề nội dung của quan hệ này vẫn
chưa được bàn nhiều, vẫn là khoảng trống cần nghiên cứu. Tuy nhiên, qua các công
trình này, chúng tôi đã kế thừa một số nội dung, cùng với các nhận định ở các nghiên
cứu khác sau này để đi đến sự khẳng định về thực chất của việc giải quyết quan hệ
giữa LICN và LIXH đó là việc điều chỉnh hệ thống các lợi ích ở các lĩnh vực khác
nhau, để đạt được sự hài hòa về lợi ích đáp ứng yêu cầu tồn tại và phát triển của cá
nhân và xã hội.
1.1.4. Những công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng tới việc
giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
Đi vào phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới việc giải quyết quan hệ giữa
LICN và LIXH có rất nhiều công trình nghiên cứu ở phạm vi rộng, với nhiều khía
cạnh khác nhau, có thể kể đến một số công trình như:
Về nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta, công trình Những đặc trưng của
kinh tế thị trường và nhận thức của Đảng ta về kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa [98] tác giả Vũ Văn Phúc đã nêu lên những đặc trưng mang tính quy luật,
bản chất của KTTT, nêu lên sự khác biệt giữa nền KTTT TBCN và nền KTTT định
hướng XHCN là ở chỗ ai làm chủ sức mạnh kinh tế và sức mạnh chính trị trong một
nước. Cùng với đó, bài viết cũng đã phân tích quá trình nhận thức của Đảng ta về
KTTT định hướng XHCN qua các kỳ Đại hội của Đảng. Đây là công trình chúng tôi
đã tham khảo trong quá trình nghiên cứu những nội dung về KTTT trong luận án.
Cùng với đó, trong các công trình như: Vấn đề lợi ích trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở vùng Nam bộ hiện nay [9] của tác giả Lê Văn
B u, Mâu thuẫn về lợi ích giữa các nhóm xã hội trong quá trình phát triển kinh tế
thị trường ở Việt Nam hiện nay [59] của tác giả Trần Thị Bích Huệ, Quan hệ giữa
cá nhân và xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay [106] của
tác giả Trần Văn Phòng... đã nêu những đặc trưng của nền KTTT định hướng
17
XHCN ở Việt Nam gồm nhiều đặc trưng, trong đó khẳng định những đặc trưng cơ
Đề cập tới yếu tố cá nhân - nhân tố đóng vai trò quan trọng trong việc giải
quyết quan hệ giữa LICN và LIXH, trong bài viết Cá nhân và sự phát triển của cá
nhân trước những yêu cầu và trong điều kiện hiện nay ở nước ta, [53] tác giả Đoàn
Đức Hiếu đã nêu quan điểm khá căn bản về cá nhân và những yêu cầu, thách thức
trong điều kiện của nước ta (vào những năm 90 của thế kỷ XX) đòi hỏi sự phát triển
của cá nhân. Cũng tác giả Đoàn Đức Hiếu, trong bài viết Về cơ chế đánh giá cá
nhân trong sự phát triển con người [54] đã đề cập đến quan hệ cá nhân trong lịch s
và hiện tại, nhưng nghiêng về cách đánh giá cá nhân trong sự phát triển con người.
Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra các quan điểm trong việc nhìn nhận, đánh giá cá
nhân trong bối cảnh KTTT hiện nay đó là: cần đảm bảo tính khách quan, đầy đủ,
chính xác, rõ ràng và tạo mọi điều kiện cho cá nhân phát triển. Các bài báo tuy
ngắn gọn nhưng có những gợi mở lý thú trong quan niệm về cá nhân và yêu cầu
phát triển cá nhân gắn với những yếu tố LICN.
Đi vào phân tích vai trò, trách nhiệm của các chủ thể, đặc biệt là cá nhân,
doanh nghiệp trong việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH, có khá nhiều bài
viết như: Nâng cao trách nhiệm xã hội của cá nhân trong điều kiện kinh tế thị
trường [56] của tác giả Nguyễn Đình Hòa; Mối quan hệ giữa trách nhiệm cá nhân
và trách nhiệm nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
[130] của tác giả Lê Thi; Trách nhiệm xã hội của cá nhân và yêu cầu nâng cao
trách nhiệm này ở Việt Nam [131] của tác giả Trần Thị Tuyết. Các bài viết này đã
có những đề cập tới vai trò, trách nhiệm của chủ thể cá nhân, nhà nước trong thực
hiện lợi ích liên quan đến cá nhân và xã hội. Các công trình này đã cung cấp những
phân tích thực tế cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu luận án.
1.2. NHỮNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN THỰC TRẠNG, NGUYÊN
NHÂN GIẢI QUYẾT QUAN HỆ GIỮA LỢI ÍCH CÁ NHÂN VÀ LỢI ÍCH XÃ HỘI
Qua khảo cứu các công trình nghiên cứu về lợi ích chúng tôi nhận thấy, chưa
có công trình nghiên cứu chuyên biệt về thực trạng giải quyết quan hệ giữa LICN và
LIXH. Song, có thể nói, đã có khá nhiều công trình đề cập tới thực trạng việc giải
hơn quan hệ giữa cá nhân và xã hội, nhất là tạo điều kiện để cá nhân phát triển. Tuy
nhiên, dưới tác động của mặt trái của KTTT, trong những năm gần đây, quan hệ
20
giữa cá nhân và xã hội ở nước ta đang bộc lộ những bất cập mới, đó là xu hướng
quá đề cao LICN làm cho lợi ích chung, LIXH bị tổn hại. Mặc dù trong công trình
này, dung lượng đề cập tới vấn đề lợi ích trong quan hệ giữa cá nhân và xã hội
không nhiều, song là những gợi mở quan trọng để chúng tôi kế thừa trong đánh giá
về thực trạng vấn đề này trong nội dung của luận án.
Năm 2012, trong công trình Lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội: từ góc nhìn
lịch sử đạo đức học [97], tác giả Nguyễn Văn Phúc đã lược khảo lịch s tư tưởng
đạo đức hai khuynh hướng đối lập nhau khi tiếp cận và giải quyết vấn đề quan hệ
giữa LICN và LIXH: một khuynh hướng tuyệt đối hóa LICN, một khuynh hướng
tuyệt đối hóa LIXH. Tuy nhiên, theo tác giả bài viết, xu thế vận động của tư tưởng
đạo đức của nhân loại là tiến tới sự thống nhất giữa LICN và LIXH trên cơ sở vận
động của bản thân lịch s nhân loại tiến tới chủ nghĩa cộng sản - xã hội không có
đối kháng về kinh tế - xã hội. Tác giả cũng đã nêu quan hệ biện chứng giữa LICN
và LIXH: “giải phóng xã hội khỏi những đối kháng là điều kiện cho sự giải phóng
cá nhân. Đồng thời, sự giải phóng cá nhân, sự phát triển tự do của mỗi người lại là
điều kiện để phát triển tự do của mọi người, của xã hội” [97, tr.20]. Dù chủ yếu
dừng lại ở góc độ đạo đức, đây là một trong số ít các công trình đề cập trực tiếp đến
quan hệ giữa LICN và LIXH.
Năm 2013, trong công trình Quan hệ giữa cá nhân và xã hội trong điều kiện
kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay [106], các tác giả đã có những đánh giá toàn
diện về thực trạng quan hệ giữa cá nhân và xã hội trong điều kiện hiện nay ở nước
ta, bao gồm cả thành tựu, hạn chế, cũng như một số vấn đề đặt ra cho việc giải
quyết tốt quan hệ này trong giai đoạn tiếp theo nhằm thúc đẩy sự phát triển cá nhân
và xã hội. Công trình cũng đã chỉ ra cốt lõi của quan hệ giữa cá nhân và xã hội là
quan hệ lợi ích. Do vậy, những đánh giá về thực trạng giải quyết quan hệ giữa cá