KHÁI QUÁT VỀ NHNo&PTNT KG, THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG QUA 3 NĂM (2004-2006) - Pdf 63

KHÁI QUÁT VỀ NHN
o
&PTNT KG, THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ
RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG QUA 3 NĂM (2004-2006)
3.1 KHÁI QUÁT VỀ NHN
o
&PTNT KIÊN GIANG
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển:
3.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của NHN
o
&PTNT Việt Nam:
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam hoạt động theo mô
hình tổng công ty Nhà nước quy định tại Quyết định số 90/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ
Tướng Chính Phủ và theo Điều lệ do Thống đốc Ngân hàng Việt Nam phê chuẩn trên
cơ sở kế thừa Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam (thành lập ngày 14/11/1990 theo
Quyết định số 400/CT của Thủ Tướng Chính phủ).
NHN
o
&PTNT Việt Nam là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, có tư cách
pháp nhân, thời hạn hoạt động là 99 năm, trụ sở chính tại Hà Nội, có quyền tự chủ về
tài chính, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh, bảo toàn và phát triển vốn.
NHN
o
&PTNT Việt Nam do Hội đồng quản trị quản lý và Tổng Giám đốc điều
hành; thực hiện chức năng kinh doanh đa năng, chủ yếu là kinh doanh tiền tệ, tín dụng
và các dịch vụ ngân hàng đối với khách hàng trong nước và nước ngoài; đầu tư các dự
án phát triển kinh tế - xã hội; ủy thác tín dụng đầu tư cho Chính phủ, các chủ đầu tư
trong nước và nước ngoài, trước hết trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
Kể từ năm 1993 đến nay, NHN
o
là ngân hàng Việt Nam đầu tiên liên tục được

hoạt động kinh doanh, làm chủ được thị trường vốn tín dụng nông nghiệp nông thôn,
hạn chế được việc cho vay nặng lãi và góp phần thúc đẩy nông nghiệp nông thôn Kiên
Giang phát triển.
3.1.2 Mạng lưới và cơ cấu bộ máy tổ chức
3.1.2.1 Mạng lưới hoạt động:
Từ khi mới được thành lập, NHNo & PTNT-KG chỉ có 12 chi nhánh hoạt động
tương ứng với số lượng huyện và thị xã trong tỉnh. Qua quá trình phát triển, để đưa hoạt
động ngân hàng ngày càng sát dân, gần dân hơn, phục vụ kịp thời và thuận tiện cho
khách hàng, nhất là tạo điều kiện cho nông dân vùng sâu, vùng xa, hải đảo, biên giới
được tiếp xúc, thụ hưởng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, mạng lưới của NHNo Kiên
Giang từng bước được mở rộng, bố trí tại tất cả các huyện, thị xã và một số xã, phường
trọng điểm kinh tế của tỉnh.

Sơ đồ 1: Mạng lưới hoạt động của ngân hàng
3.1.2.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức của ngân hàng:

HỘI SỞ
(Cấp I loại I)
4 CN TRỰC THUỘC HỘI SỞ
(Cấp II loại V)
13 CN HUYỆN/ THỊ
(Cấp II loại IV)
1 CN TRỰC THUỘC CN HUYỆN
(Cấp III loại V)
GIÁM ĐỐC
Sơ đồ 2: Cơ cấu bộ máy tổ chức của ngân hàng
Nhận xét: qua sơ đồ 2 ta thấy cơ cấu tổ chức của ngân hàng được phân chia theo
chức năng với những ưu, nhược điểm sau:
- Ưu điểm:
+ Bảo đảm sự thi hành các chức năng chủ yếu.

Phòng
Tổ
chức
Cán bộ
Phòng
Thẩm
định
Phòng
Thanh
Toán
QTế
Phòng
Vi
Tính
Phòng
Hành
Chính
Phòng
Kế
Toán
Phòng
Nguồn
Vốn
Phòng
Tín
Dụng
- Phòng Thẩm định:
+ Thu thập, quản lý, cung cấp những thông tin phục vụ cho việc thẩm định và
phòng ngừa rủi ro tín dụng.
+ Thẩm định các khoản vay do giám đốc chi nhánh cấp 1 quy định theo ủy

+ Thực thi pháp luật có liên quan đến an ninh trật tự, phòng cháy nổ tại cơ
quan.
+ Lưu trữ các văn bản pháp luật có liên quan đến ngân hàng.
+ Trực tiếp quản lý con dấu của chi nhánh, thực hiện công tác hành chính, văn
thư, lễ tân,…
- Phòng Tổ chức cán bộ và đào tạo:
+ Xây dựng quy trình lề lối làm việc trong đơn vị và mối quan hệ với tổ chức
Đảng, Công Đoàn.
+ Đề xuất mở rộng mạng lưới kinh doanh trên địa bàn.
+ Đề xuất cử cán bộ, nhân viên đi công tác, học tập trong và ngoài nước.
+ Thực hiện công tác thi đua, khen thưởng của chi nhánh…
3.1.3 Quy trình nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng:
Áp dụng nhiều hình thức chuyển tải vốn đến khách hàng, đặc biệt đối với khách
hàng là hộ nông dân, ngân hàng áp dụng 2 hình thức: giải ngân trực tiếp từng hộ và giải
ngân trực tiếp thông qua tổ hội nông dân hoặc các tổ tín chấp khác.
(1) thủ tục vay vốn
và thẩm định
(5) hạch (4) Hồ sơ (3) duyệt (2) xem xét
toán kế đã duyệt cho vay và cho ý
Phòng Tín dụng
Khách hàng
toán và cho vay hay không kiến trình
giải ngân cho vay giám đốc

Sơ đồ 3: Quy trình cho vay trực tiếp từng khách hàng
(1) Cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng có nhu cầu vay vốn làm thủ tục vay
vốn đồng thời tiến hành thẩm định các điều kiện vay vốn theo quy định, lập báo cáo
thẩm định trình trưởng phòng tín dụng.
(2) Trưởng phòng tín dụng có trách nhiệm kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của hồ
sơ và báo cáo thẩm định do cán bộ tín dụng lập, tiến hành xem xét, tái thẩm định (nếu

binh…Tổ viên có nhu cầu sẽ nộp hồ sơ vay vốn cho tổ trưởng và tổ trưởng đến ngân
hàng làm thủ tục đề nghị cho vay. Tổ trưởng có trách nhiệm kiểm tra, giám sát, đôn đốc
tổ viên sử dụng vốn đúng mục đích và trả nợ, trả lãi đúng hạn; được ngân hàng nơi cho
vay chi trả hoa hồng căn cứ vào kết quả công việc hoàn thành.
3.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng qua 3 năm (2004-2006)
Qua 3 năm hoạt động với những thuận lợi và không ít khó khăn, hoạt động kinh
doanh của ngân hàng đã đạt được một số kết quả sau:
Phòng Kế toán-
Ngân quỹ
Giám đốc
Bảng 1: Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng qua 3 năm
ĐVT: Triệu đồng
(Nguồn: Phòng Kế toán - Ngân quỹ)
- Đánh giá chung: Qua số liệu ở bảng 1 ta thấy hoạt động kinh doanh của ngân
hàng có hiệu quả và tăng rõ rệt từng năm. Biểu hiện là lợi nhuận luôn tăng trưởng qua
các năm với tốc độ tăng bình quân là 49%, đã đóng góp đáng kể vào kết quả chung của
toàn hệ thống, đảm bảo được thu nhập và đời sống của cán bộ công nhân viên.
Biểu đồ 1: Kết quả tài chính của ngân hàng qua 3 năm
Tỷ đồng
- Tình hình cụ thể:
+ Về tổng thu nhập: Nhìn vào cơ cấu trong tổng thu ta thấy nguồn thu chủ yếu
của ngân hàng là từ hoạt động cho vay (thu nhập lãi) chiếm trên 95% tổng thu nhập với
tốc độ tăng bình quân hàng năm là 44%. Có được kết quả này là do ngân hàng đã thực
hiện tốt công tác huy động vốn từ dân cư và các tổ chức kinh tế, đây là nguồn vốn rẻ,

KHOẢN MỤC
Năm

So sánh


không ngừng mở rộng đầu tư tín dụng và nâng cao chất lượng tín dụng cùng với việc
thu hồi nợ tốt đã tạo nên nguồn thu lãi lớn.
Đóng góp một phần vào tổng thu của ngân hàng là các khoản thu từ các hoạt
động dịch vụ và các khoản thu khác (thu nhập ngoài lãi) như: thu từ thanh toán quốc tế,
thu từ mua bán ngoại tệ, chi trả kiều hối, thu từ nghiệp vụ bảo lãnh…Các nguồn thu này
tuy chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng được ngân hàng chú trọng tăng qua các năm nhằm mục
đích nâng cao thương hiệu và để bù đắp phần nào những tổn thất do rủi ro tín dụng, rủi
ro lãi suất… gây ra. Tốc độ tăng của thu nhập ngoài lãi cao qua các năm. Năm 2005 tốc
độ tăng cao hơn nhiều so với năm 2006 nhưng về mặt số tuyệt đối thì tương đương
nhau do năm 2004 dịch vụ ngân hàng chưa phát triển mạnh nên xuất phát điểm thấp chỉ
8.514 triệu đồng do đó trong năm 2005 khi các dịch vụ phát triển mạnh đặc biệt là
thanh toán qua dịch vụ chuyển tiền nhanh Western Union, làm khoản thu tăng thêm
5.722 triệu đồng cũng làm cho phần trăm tốc độ tăng cao. Các khoản thu ngoài lãi tăng
nhanh như vậy đã làm cho tỷ trọng tăng dần qua các năm đồng thời làm giảm tỷ trọng
của các khoản thu lãi.
+ Về tổng chi phí: cùng với tốc độ tăng của thu nhập thì các khoản chi của
ngân hàng qua 3 năm cũng tăng cao do một số biến động lớn.
Đối với chi phí lãi: khoản chi này có tốc độ tăng qua các năm không đều nhau:
năm 2005 tăng so với năm 2004 là 25,3% và năm 2006 tăng so với năm 2005 là 38,6%.
Nguyên nhân do trong năm 2005 nền kinh tế có những chuyển biến như giá vàng tăng
cao, giá tiêu dùng và giá xăng dầu tăng nên ngân hàng huy động được vốn từ bên ngoài
ít nhưng sang năm 2006 với những chiến lược thu hút vốn được ngân hàng đặt ra kịp
thời đã làm tăng đáng kể nguồn vốn huy động nên chi phí trả lãi trong năm 2006 sẽ cao
hơn năm 2005.
Đối với chi phí ngoài lãi: khoản phí này chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng chi
nhưng có sự biến động lớn qua các năm. Đặc biệt trong năm 2005, tốc độ tăng của
khoản chi này gấp 2 lần trong năm 2004 do trong năm này ngân hàng đã nghiêm túc
thực hiện việc phân loại lại nhóm nợ theo Quyết định 165/QĐ-HĐQT làm tỷ lệ nợ xấu
theo cơ cấu mới tăng cao, vì thế số tiền được trích vào quỹ dự phòng rủi ro cũng tăng
hơn nhiều so với năm 2004 (khoảng 24 tỷ) . Tuy nhiên do ngân hàng thực hiện chính

dịch vụ tại huyện đảo Phú Quốc, đào tạo nguồn nhân lực để phát huy được hiệu quả
hoạt động ngân hàng, tăng thêm năng lực cạnh tranh.
Năm 2007 là năm đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam, là năm đầu tiên gia
nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, hoạt động kinh tế cả nước có sự đổi mới rõ
nét, hoạt động ngân hàng đứng trước những cơ hội và thách thức lớn, các chuẩn mực,
tiêu chuẩn quốc tế cần phải thực hiện. Do vậy phải có sự chuyển biến mạnh mẽ từ nhận
thức và quyết liệt trong hành động.
- Mục tiêu tăng trưởng cụ thể:
+ Huy động vốn chung tăng 25% so với năm 2006; trong đó tiền gởi từ dân cư
chiếm tỷ trọng 51% trở lên.
+ Dư nợ trung dài hạn chiếm tỷ lệ 50%
+ Nợ xấu phấn đấu < 3%
+ Chênh lệch thu chi tăng 67% so với năm 2006
+ Chênh lệch lãi suất đầu vào - đầu ra: 0,45%
+ Tiền lương: đạt hệ số tiền lương theo quy định.
3.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA
NHN
o
&PTNT KIÊN GIANG QUA 3 NĂM (2004-2006)
3.2.1 Tình hình huy động vốn
3.2.1.1 Tình hình nguồn vốn tại NHN
o
Kiên Giang:
Như chúng ta đã biết, vốn là một yếu tố vô cùng quan trọng trong mọi hoạt động
sản xuất kinh doanh, nó là nguồn lực để hoạt động kinh doanh có hiệu quả và tồn tại.
Đặc biệt đối với ngành ngân hàng – là một tổ chức chuyên cung cấp vốn cho các thành
phần kinh tế nên nguồn vốn phải đủ lớn mạnh để thực hiện tốt chức năng của nó. Hoạt
động tín dụng có được mở rộng hay không thì yếu tố đầu tiên phải kể đến là phải có
nguồn vốn lớn. Vì vậy, trước khi phân tích đánh giá tình hình sử dụng vốn tại NHN
o

không ít người có tiền nhàn rỗi nhưng không muốn gửi vào ngân hàng hoặc nếu gửi thì
chỉ chọn các kỳ hạn ngắn.
- Dịch cúm gia cầm bùng phát và các dịch bệnh về gia súc, sâu bệnh hại lúa đã
làm cho một số hộ nông dân đã từng là khách hàng quen gửi tiền nhiều vào ngân hàng
nhưng do bị thua lỗ nên không còn gửi như trước nữa.
- Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng trên địa bàn ngày càng gay gắt. Đối với
những ngân hàng mới ra đời cách đây 2, 3 năm thì đến nay đã dần tạo được uy tín đối
với người dân nên thị phần vốn bị chia sẻ đáng kể.
KHOẢN MỤC
Năm So sánh
2004 2005 2006 2005/2004 2006/2005
Số tiền
Tỷ
trọng
(%)
Số tiền
Tỷ
trọng
(%)
Số tiền
Tỷ
trọng
(%)
Số tiền % Số tiền %
1. Vốn huy động 904.786 39,8 955.469 37,7 1.284.355 41,8 50.683 5,6 328.886 34,4
2. Vốn điều hoà 1.369.412 60,2 1.581.625 62,3 1.786.798 58,2 212.213 15,5 205.173 13,0
Tổng nguồn vốn 2.274.198 100,0 2.537.094 100,0 3.071.153 100,0 262.896 11,6 534.059 21,0
- Năm 2005, toàn hệ thống NHN
o
chưa có dịch vụ thẻ ATM nên đã không tranh

&PTNT Việt Nam quản lý, nguồn vốn này sẽ được điều từ nơi thừa vốn
sang nơi thiếu vốn theo cơ chế quản lý vốn của từng hệ thống ngân hàng. Nguồn vốn
điều hoà của NHN
o
Kiên Giang có xu hướng tăng giảm qua các năm. Năm 2004, nguồn
vốn này chiếm tỷ trọng là 60,2%, nhưng đến năm 2005 tỷ trọng này là 62,3%. Nguyên
nhân do năm 2005 ngân hàng tự huy động được vốn ít nên sử dụng vốn từ Trung Ương
nhiều hơn. Tương tự như vậy đến năm 2006 tỷ trọng của nguồn vốn này lại giảm xuống
còn 58,2% là do ngân hàng đã thực hiện tốt công tác tự huy động vốn của mình. Tuy tỷ
trọng có xu hướng tăng giảm nhưng về mặt số tuyệt đối thì nguồn vốn điều hoà tăng
liên tục qua các năm nhằm để phục vụ nhu cầu đầu tư và thanh toán của ngân hàng.
 Đánh giá tình hình huy động vốn theo tổng nguồn vốn:
Chỉ tiêu vốn huy động/tổng nguồn vốn được thể hiện ở cột phần trăm tỷ trọng
trong bảng số liệu. Chỉ tiêu này thể hiện khả năng tự đáp ứng nguồn vốn cho hoạt động
của ngân hàng. Qua số liệu ta thấy khả năng tự đáp ứng nguồn vốn của ngân hàng bình
quân hàng năm là 40%. Như vậy, NHN
o
&PTNT Kiên Giang luôn phụ thuộc vào nguồn
vốn điều hoà từ Trung Ương, bị động trong hoạt động tín dụng của mình. Vì thế một
mục tiêu được đặt ra là ngân hàng phải phấn đấu sao cho vốn huy động chiếm tỷ trọng
50% trong tổng nguồn vốn. Có như vậy thì ngân hàng mới chủ động được trong hoạt
động kinh doanh của mình và tiết kiệm được chi phí sử dụng vốn của ngân hàng cấp
trên.
Tóm lại, nguồn vốn huy động của ngân hàng qua 3 năm có chiều hướng tăng
trưởng tốt. Tuy nhiên với lợi thế của NHN
o
là một ngân hàng truyền thống, có nhiều chi
nhánh xuống tận các huyện, xã thì kết quả trên vẫn chưa là kết quả tốt nhất mà ngân
hàng có thể đạt được. Vì vậy ban lãnh đạo ngân hàng cần có nhiều chính sách phù hợp
hơn nữa để ngân hàng có thể phát huy hết lợi thế của mình, xứng đáng là một ngân

trọng
(%)
Số tiền
Tỷ
trọng
(%)
Số tiền % Số tiền %
I. Vốn KKH & CKH < 12 tháng 602.949 66,6 639.851 67,0 917.414 71,4 36.902 6,1 277.563 43,4
1. Vốn không kỳ hạn 431.763 47,7 440.597 46,1 502.568 39,1 8.834 2,0 61.971 14,1
- Tiền gửi các TCKT 406.520 44,9 413.396 43,3 472.102 36,7 6.876 1,7 58.706 14,2
- Tiết kiệm của dân cư 25.243 2,8 27.201 2,8 30.466 2,4 1.958 7,8 3.265 12,0
2. Vốn CKH < 12 tháng 171.186 18,9 199.254 20,9 414.846 32,3 28.068 16,4 215.592 108,2
- Tiền gửi các TCKT 48.948 5,4 52.103 5,5 130.747 10,2 3.155 6,4 78.644 150,9
- Tiết kiệm của dân cư 122.238 13,5 147.151 15,4 284.099 22,1 24.913 20,4 136.948 93,0
II. Vốn CKH > 12 tháng 301.837 33,4 315.618 33,0 366.941 28,6 13.781 4,6 51.323 16,3
- Tiết kiệm của dân cư 239.405 26,5 245.223 25,7 279.909 21,8 5.818 2,4 34.686 14,1
- Kỳ phiếu 22.076 2,4 28.338 2,9 40.396 3,2 6.262 28,4 12.058 42,5
- Tiền gửi khác 40.356 4,5 42.057 4,4 46.636 3,6 1.701 4,2 4.579 10,9
Tổng vốn huy động 904.786 100,0 955.469 100,0 1.284.355 100,0 50.683 5,6 328.886 34,4
Thành phần ưa thích loại hình huy động này đó là các tổ chức kinh tế thể hiện
trên số tiền gửi vào luôn chiếm tỷ trọng lớn, cụ thể: chiếm tỷ trọng trung bình là 41,6%
trong tổng vốn huy động và chiếm đến 94% trong tổng vốn không kỳ hạn. Sở dĩ các tổ
chức kinh tế ưa thích loại hình này là vì những tiện ích của nó: các tổ chức kinh tế sử
dụng số tiền nhàn rỗi trong quá trình sản xuất kinh doanh để gửi vào ngân hàng, đó có
thể là quỹ dự trữ tài chính, quỹ đầu tư, quỹ phúc lợi, khen thưởng…Khi có nhu cầu sử
dụng thì họ có thể chủ động rút ra để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình.
Ngoài ra, các tổ chức này còn được phép sử dụng tiền gửi để phục vụ cho công tác
thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng. Đó cũng là lý do làm cho loại tiền gửi
này có tốc độ tăng nhanh qua các năm.
Ngược lại, đối với người dân thì họ không thích gửi tiền của mình theo hình thức

dân (tỷ trọng trung bình là 24,7%). Điều này dễ hiểu bởi vì nguồn vốn này có mức lãi
suất cao nhất (từ 0,7% đến 0,76% trên 1 tháng). Tuy nhiên, tốc độ tăng của tiền gửi tiết
kiệm không đều qua các năm. Tốc độ tăng năm 2006 là 14,1% nhanh hơn nhiều so với
trong năm 2005 là 2,4%. Nguyên nhân như đã phân tích là do trong năm 2005 giá vàng
biến động đã ảnh hưởng đến tâm lý gửi tiền của người dân đó là họ không thích kỳ hạn
dài vì sợ tiền bị mất giá so với vàng. Nhưng sang năm 2006 với những chính sách tính
cực của ngân hàng thì số tiền tiết kiệm này đã được tăng lên đáng kể với số tuyệt đối là
34.686 triệu đồng.
Bên cạnh việc tiết kiệm, người dân cũng có thể mua kỳ phiếu của ngân hàng.
Tuy chiếm tỷ trọng ít (trung bình chỉ 2,8%) nhưng có tốc độ tăng rõ rệt qua các năm:
năm 2005 tốc độ tăng là 28,4% đến năm 2006 là 42,5%. Nguyên nhân là vào những
tháng cuối năm, ngân hàng thường phát hành những đợt kỳ phiếu với lãi suất hấp dẫn
đã góp phần đáng kể vào tổng vốn huy động của ngân hàng. Tỷ trọng của kỳ phiếu tăng
dần qua các năm là nguyên nhân dẫn đến tỷ trọng của tiền gửi tíết kiệm giảm.
Đối với tiền gửi khác: loại tiền gửi này chiếm tỷ trọng cũng không cao, trung
bình khoảng 4,2% và có tốc độ tăng đều qua các năm nhưng thấp hơn tốc độ tăng của
hai loại vốn còn lại nên tỷ trọng giảm dần.
 Đánh giá tình hình huy động vốn theo kỳ hạn:
Sau đây chúng ta sẽ xem xét các chỉ tiêu của từng loại vốn ứng với mỗi kỳ hạn
để đánh giá hiệu quả huy động vốn của ngân hàng.
- Chỉ tiêu vốn không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng/tổng vốn huy động: theo
kết quả trên ta thấy chỉ tiêu này luôn lớn và tăng qua các năm. Điều này chứng tỏ ngân
hàng đã huy động được nguồn vốn rẻ, dồi dào nhưng tính ổn định không cao, chỉ có thể
đáp ứng được nhu cầu vay vốn ngắn hạn.
- Chỉ tiêu vốn có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên/tổng vốn huy động: chỉ tiêu này thể
hiện tính ổn định của vốn huy động, nếu chỉ tiêu này cao thì ngân hàng có thể tự chủ
trong hoạt động cho vay của mình. Thực tế thì chỉ tiêu này chỉ ở mức trung bình và có
xu hướng giảm, tuy nhiên con số tuyệt đối vẫn tăng. Điều này chứng tỏ khả năng mở
rộng tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng còn hạn chế và ngân hàng chưa phát huy
được khả năng sử dụng vốn huy động vào hoạt động tín dụng của mình. Bởi vì theo

bám sát các mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương để tăng
trưởng tín dụng có hiệu quả. Trong đầu tư tín dụng ngân hàng luôn quán triệt nguyên
tắc “Tăng trưởng khối lượng tín dụng phải gắn liền với nâng cao chất lượng tín dụng”.
Nghiên cứu chính xác nhu cầu vốn hàng năm cho hoạt động sản xuất hàng hoá truyền
thống của nông dân (lúa,cá, tôm,…) từ đó xác định mức đầu tư hợp lý cho từng loại đối
tượng, phù hợp với tốc độ phát triển của sản xuất, tốc độ tăng trưởng của giá cả thị
trường. Bên cạnh đó, ngân hàng không ngừng mở rộng mối quan hệ với các doanh
nghiệp vừa và nhỏ, các hợp tác xã và các thành phần kinh tế hợp tác khác để đa dạng
hoá đối tượng đầu tư, khắc phục dần tính thời vụ, phân tán rủi ro.
Kết quả tín dụng nói chung được thể hiện qua doanh số cho vay, doanh số thu
nợ, dư nợ và nợ quá hạn. Doanh số cho vay càng lớn phản ánh quy mô càng được mở
rộng, doanh số thu nợ cao cho thấy kết quả thu hồi nợ tốt và dẫn đến tỷ lệ nợ xấu sẽ
thấp. Để biết được cụ thể, trước tiên chúng ta đi vào phân tích doanh số cho vay của
NHN
o
Kiên Giang qua 3 năm như sau:
3.2.2.1 Phân tích doanh số cho vay
Hoạt động cho vay của NHN
o
Kiên Giang rất đa dạng nhưng vẫn được chia
thành hai nhóm chính lớn đó là cho vay ngắn hạn và cho vay trung, dài hạn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status