Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Qua khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ em
trong việc định hướng đề tài, các vấn đề nghiên cứu cùng Các anh chị công tác tại Ngân
hàng thương mại cổ phần Á Châu Chi nhánh Đà Nẵng, đặc biệt là các anh chị công tác tại
Tổ pháp lý chứng từ đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Mặc đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện, tuy nhiên nội dung bài khóa luận này
chắc chắn sẽ không trành khỏi những thiếu sót, hạn chế. Vì vậy, em mong nhận được ý kiến
đóng góp của các thầy, cô giáo, các anh chị và các bạn để bài viết được tốt hơn. Em xin chân
cảm ơn.
LỜI CAM ĐOAN
SVTH: Đặng Thị Thanh Bình – Lớp 34K13
Khóa luận tốt nghiệp
Tác giả cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả.
Các số liệu, phân tích, lập luận và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Bất kỳ vi phạm nào của tác giả (nếu có) sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật, quy
chế của Đại học Đà Nẵng và quy chế của Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng.
Người viết
Đặng Thị Thanh Bình
SVTH: Đặng Thị Thanh Bình – Lớp 34K13
Khóa luận tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC KÝ HỆU TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu...........................................................................................Diễn giải
ACB.....................................................................................Ngân hàng Á Châu
BĐS...............................................................................................Bất động sản
BLDS ........................................................................................Bộ Luật dân sự
CNH-HĐH........................................................Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ĐKGDBĐ..............................................................Đăng ký giao dịch bảo đảm
GCNQSDĐ..............................................Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
LĐĐ................................................................................................Luật đất đai
TSBĐ TÀI SẢN BẢO ĐẢM..............................................................................................................................................3
QSDĐ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT......................................................................................................................................3
UBND ỦY BAN NHÂN DÂN...........................................................................................................................................3
...............................................................................................................................................................................................3
...............................................................................................................................................................................................3
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................................................................................1
SVTH: Đặng Thị Thanh Bình – Lớp 34K13
Khóa luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà Nước – “ đến năm 2020 đưa Việt
Nam từ một nước nông nghiệp trở thành một nước công nghiệp tiên tiến ”, trong những
năm qua, nước ta đã không ngừng đẩy mạnh cải cách kinh tế và thực hiện CNH-HĐH trên
cơ sở phát huy lợi thế so sánh của đất nước, gắn liền với nhu cầu thị trường trong ngoài
nước nhằm mục tiêu phát triển kinh tế xã hội nhanh, có hiệu quả và bền vững. Để thực
hiện được mục tiêu này thì vốn là một yếu tố quan trọng, vốn là tiền đề cho sự tăng trưởng
kinh tế, mức tăng trưởng kinh tế cao hay thấp phụ thuộc đáng kể vào quy mô và hiệu quả
của vốn đầu tư.
Với chức năng thu hút và phân bổ vốn trong nền kinh tế, NHTM đã thâm nhập vào
mọi hoạt động kinh tế - xã hội như là người mở đường, người tham gia, người quyết định
đối với mọi quá trình sản xuất kinh doanh. NHTM ngày càng đóng vai trò là trung tâm tiền
tệ, tín dụng và thanh toán của các thành phần kinh tế, là chế định tài chính quan trọng nhất
của nền kinh tế.
NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Trong số các
hoạt động kinh doanh của ngân hàng thì tín dụng là hoạt động quan trọng nhất, quan hệ tín
dụng là quan hệ xương sống, quyết định mọi hoạt động của nền kinh tế quốc doanh và nó
còn là nguồn sinh lợi chủ yếu, quyết định sự tồn tại phát triển của ngân hàng. Nhưng nó
cũng là nghiệp vụ chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Có vô số các rủi ro khác nhau khi cho vay,
xuất phát từ nhiều yếu tố và có thể dẫn đến việc không chi trả được nợ khi đến hạn làm
cho ngân hàng bị phá sản gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ nền kinh tế.
Chính vì vậy an toàn trong hoạt động tín dụng là một trong những vấn đề được quan
luận còn làm rõ những điểm mới, tiến bộ trong quy định của pháp luật ngân hàng liên quan
đến thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng của NHTM cũng như những hạn chế, thiếu
sót của những quy định đó.
Là công trình nghiên cứu luật học nên khóa luận của tác giả chỉ tiếp cận thế chấp tài
sản dưới góc độ là loại quan hệ xã hội chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Mặt khác, khóa
luận không nghiên cứu toàn bộ các vấn đề liên quan đến thế chấp tài sản với tư cách là một
biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự mà nghiên cứu nó ở tư cách là một biện pháp
đảm bảo thực hiện các hoạt động tín dụng của NHTM, đặc biệt là hoạt động cho vay.
• Phương pháp nghiên cứu
SVTH: Đặng Thị Thanh Bình – Lớp 34K13 Trang 2
Khóa luận tốt nghiệp
Để khóa luận mang tính khoa học, tác giả đã sử dụng kết hợp các phương pháp
nghiên cứu chủ yếu và phổ biến như: phương pháp luật học so sánh, phương pháp đối
chiếu, phương pháp phân tích kết hợp giải thích và tổng hợp, khái quát hóa.
• Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài là công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo cho những người làm công tác
pháp luật trong quá trình hoàn thiện những quy định của pháp luật ngân hàng về thế chấp
tài sản để đảm bảo thực hiện các hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại. Đồng
thời, có thể làm tài liệu học tập cho các bạn sinh viên có nhu cầu tìm hiểu.
• Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung khóa luận được chia làm ba chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về thế chấp tài sản bảo đảm các hoạt động tín
dụng của Ngân hàng Thương mại.
- Chương 2: Pháp luật về thế chấp bảo đảm thực hiện các hoạt động tín dụng của
Ngân hàng Thương mại ở Việt Nam.
- Chương 3:Thực trạng pháp luật Việt Nam về thế chấp tài sản bảo đảm thực hiện
các hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại - Kiến nghị hoàn thiện.
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN BẢO
ĐẢM THỰC HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG TÍNH DỤNG CỦA
thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong
các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
Còn pháp luật Ấn Độ thì có cái nhìn về NHTM như sau “ Ngân hàng thương mại là
cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư.”
Luật các Tổ chức tín dụng Việt Nam 2010 định nghĩa rằng “Ngân hàng thương mại
là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng
2
và các hoạt động
kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.”
3
Mặc dù có
nhiều quan điểm khác nhau về NHTM, nhưng tựu chung lại có thể hiểu tổng quát: Ngân
1
Võ Thị Thúy Anh & Lê Phương Dung (2009), Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, Nhà xuất bản
tài chính, Đà Nẵng, Tr.8
2
Khoản 12 Điều 4 Luật TCTD 2010 “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng
thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung
ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”.
3
Khoản 3 Điều 4 Luật TCTD 2010.
SVTH: Đặng Thị Thanh Bình – Lớp 34K13 Trang 4
Khóa luận tốt nghiệp
hàng thương mại là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh trên
lĩnh vực tiền tệ với hoạt động chính là huy động tiền gửi dưới các hình thức khác nhau của
khách hàng, trên cơ sở nguồn vốn huy động này và vốn chủ sở hữu của ngân hàng để thực
hiện các nghiệp vụ cho vay, đầu tư, chiết khấu đồng thời thực hiện các nghiệp vụ thanh
toán, môi giới, tư vấn và một số dịch vụ khác cho các chủ thể trong nền kinh tế.
Cũng là một tổ chức kinh tế nên giống như các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế,
NHTM cũng sử dụng các yếu tố sản xuất như lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động
quyền sở hữu chúng, đồng thời hoạt động của nó dựa vào thương hiệu và uy tín tạo ra với
khách hàng.
Thứ tư, hoạt động của NHTM là cầu nối giữa các nhà đầu tư, các doanh nghiệp,
những cá nhân có vốn nhàn rỗi và các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, các cá nhân có nhu
cầu vay vốn. Như vậy, các NHTM góp một phần lớn điều hòa vốn trong nền kinh tế, đảm
bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục, làm cho sản phẩm xã hội được tăng
lên, vốn đầu tư được mở rộng, từ đó góp phần túc đẩy sự phát triển kinh tế, cải thiện đời
sống nhân dân.
Thứ năm, NHTM là trung tâm biến đổi và tiếp nhận rủi ro trong nền kinh tế.
Thông qua kênh ký thác, ngân hàng nhận các nguồn tài chính từ những người cho vay đầu
tiền, rồi thông qua các kênh tín dụng, NHTM chuyển các luồng tài chính đến tay người đi
vay sau cùng, và cũng bằng hai cách này, NHTM chuyển đi hoặc nhận về các luồng tài
chính từ các định chế tài chính khác. Khi làm như vậy, NHTM đã vô tình tạo lập các kênh
rủi ro giữa các chủ thể kinh tế, các chế định tài chính với nhau. Hơn nữa, bản thân
khách hàng của ngân hàng là chủ thể luôn chứa đựng rủi ro nên khi họ tìm đến ngân hàng
mặc nhiên họ đã san sẻ rủi ro đo cho ngân hàng. Và như vậy, NHTM đã tổng hợp tất cả các
rủi ro của khách hàng về để gánh vác. Như vậy, với chức năng là trung gian tài chính- cầu
nối gắn kết giữa chủ thể thừa tiền muốn cho vay với chủ thể thiếu tiền muốn đi vay,
NHTM chính là tiếp nhận và trung chuyển các rủi ro trong nền kinh tế.
1.1.2 Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của một NHTM hiện đại tập trung chủ yếu
vào ba hoạt động cơ bản đó là: hoạt động huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn và hoạt
động trung gian. Ba hoạt động này có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ nhau cùng phát
triển, làm nên uy tín và thế mạnh cạnh tranh cho NHTM trong nền kinh tế.
Hoạt động huy động vốn:
Một đặc trưng trong hoạt động kinh doanh của các NHTM đó là đi vay để cho vay.
Do đó, khác với các doanh nghiệp khác kinh doanh trong lĩnh vực phi tài chính, huy động
vốn là hoạt động kinh doanh hết sức quan trọng đối với NHTM. Đây là nghiệp vụ đầu
tiên, là sự khởi tạo cho các hoạt động của ngân hàng. Bởi vậy, mới có câu nói huy động
các nguồn vốn khác nhau trong xã hội là lẽ sống quan trọng nhất của các NHTM. Trong
thực hiện thanh toán quốc tế;
-Các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.
Trong các hoạt động sử dụng vốn hiện có của NHTM thì hoạt động chủ yếu và đem
lại nguồn thu lớn nhất cho ngân hàng là hoạt động cho vay. Thông qua cho vay, NHTM sử
dụng nguồn vốn huy động được để thực hiện cho vay đầu tư, cung cấp vốn đáp ứng nhu
cầu vốn sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng,.. của các chủ thể kinh tế, góp phần đảm bảo sự
vận động liên tục của guồng máy kinh tế xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nền kinh tế
phát triển, nhu cầu về dịch vụ tiện ích của con người tăng cao, ngân hàng mở và cung cấp
các dịch vụ tiện ích đó để thu phí - một nguồn thu không nhỏ của các NHTM. Như vậy,
hoạt động sử dụng vốn - đặc biệt là cho vay là hoạt động quan trong bậc nhất đối với sự
4
Xem Khoản 1, 2 Điều 98, Điều 99 và Điều 100 Luật Các TCTD 2010.
5
Điều 24 Luật Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam 2010
6
Khoản 3, Điều 98 Luật các TCTD 2010
SVTH: Đặng Thị Thanh Bình – Lớp 34K13 Trang 7
Khóa luận tốt nghiệp
tồn tại và phát triển của mỗi NHTM, cũng như đem lại hiệu quả to lớn cho nền kinh tế xã
hội.
Hoạt động trung gian
Có huy động được vốn thì mới có nguồn vốn cho vay, cho vay có hiệu quả, phát triển
kinh tế thì mới có nguồn vốn để huy động vào; đồng thời muốn cho vay và huy động tốt thì
ngân hàng phải làm tốt nghiệp vụ môi giới trung gian của mình. Như vậy, hoạt động trung
gian hỗ trợ đáng kể cho nghiệp vụ khai thác nguồn vốn, mở rộng các nghiệp vụ đầu tư, cho
vay của ngân hàng, là hoạt động không thể thiếu tạo nên cái gọi là đặc trưng của NHTM đó
là đi vay để cho vay. Các hoạt động này bào gồm:
-Dịch vụ trong thanh toán như: thu chi hộ cho khách hàng - chuyển tiền, thu hộ séc,
dịch vụ cung cấp thẻ tín dụng, thẻ thanh toán..
- Dịch vụ tư vấn, môi giới như: mua bán hộ chứng khoán theo uỷ nhiệm của khách
ẩn nhiều nguy cơ rủi ro cao.
Sự an toàn của hệ thống ngân hàng có quan hệ mật thiết đến kinh tế xã hội của một
quốc gia. Những bằng chứng lịch sử cho thấy, nếu hệ thống ngân hàng – đặc biệt là các
NHTM xảy ra khủng hoảng sẽ tác động mạnh đến an sinh và trật tự xã hội cũng như làm
chậm quá trình phát triển kinh tế. Vì vậy, để đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng,
một trong những công cụ quan trọng để nhà nước thực hiện là thông qua việc ban hành và
thực hiện pháp luật đối với hoạt động của NHTM.
Thứ ba, để tạo cơ sở pháp lý giải quyết các tranh chấp có thể phát sinh trong qúa
trình thực hiện các hoạt động của NHTM. Những tranh chấp phát sinh trong các giao dịch
thương mại nói chung và giao dịch ngân hàng nói riêng thương đối phổ biến trong nền kinh
tế thị trường. Ví dụ: tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa NHTM là bên cho vay với khách
hàng vay, tranh chấp về dịch vụ thanh toán giữa bên thụ hưởng thư tín dụng và ngân hàng
phát hành thư tín dụng… Những tranh chấp này sẽ được các bên thương lượng, hòa giải
hoặc cơ quan có thẩm quyền ( tòa án hoặc trọng tài thương mại) giải quyết thông qua việc
vận dụng các quy định của pháp luật ngân hàng trong từng trường hợp cụ thể.
Ngoài ra, việc điều chỉnh bằng pháp luật các hoạt động của NHTM nói riêng và hoạt
động kinh doanh của các Tổ chức tín dụng nói chung giúp cho các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền có thể tiến hành các hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực ngân hàng như
cấp giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối…nhằm đảm bảo hoạt
động ngân hàng phát triển theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước, đáp ứng yêu cầu
xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc
tế tại Việt Nam.
1.2 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại.
SVTH: Đặng Thị Thanh Bình – Lớp 34K13 Trang 9
Khóa luận tốt nghiệp
1.2.1 Khái niệm và bản chất của tín dụng ngân hàng.
Mặc dù tín dụng ra đời từ rất lâu nhưng đến nay định nghĩa về tín dụng vẫn chưa
được thống nhất. Vì vậy, tùy thuộc vào góc độ tiếp cận mà tín dụng có thể được hiểu theo
nhiều nghĩa khác nhau.
Khái niệm “Tín dụng” có nguồn gốc từ thuật ngữ Latinh “Creditium” có nghĩa là sự
chính trung gian, Nhà xuất bản Phương Đông, Hồ Chí Minh, Tr. 378
SVTH: Đặng Thị Thanh Bình – Lớp 34K13 Trang 10
Khóa luận tốt nghiệp
Từ định nghĩa trên, bản chất tín dụng trong hoạt động của NHTM là một giao dịch về
tài sản trên cơ sở hoàn trả và có các đặc trưng sau:
Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng có thể dưới hình thái tiền tệ
hoặc hoặc dưới hình thái hiện vật như hàng hóa, máy móc, thiết bị, bất động sản.
Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người
đi vay sử dụng phải có cơ sở tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn. Đây là yếu tố hết sức
cơ bản trong hoạt động tín dụng của các NHTM và ảnh hưởng đến khả năng thu hồi các
khảo tín dụng.
Giá trị được hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác
người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc đã mượn trước đó.
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả
vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý cơ sở của việc hoàn trả vô điều kiện này chính là những
văn bản xác định quan hệ tín dụng như hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ, các giấy tờ có
giá khác…
1.2.2 Hoạt động tín dụng của ngân hàng.
1.2.2.1 Khái niệm
Hoạt động tín dụng được định nghĩa là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự
có, nguồn vốn huy động được để thỏa thuận cấp tín dụng cho khách hàng trên nguyên tắc
có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo
lãnh ngân hàng và một số nghiệp vụ khác.
8
Qua định nghĩa trên, có thể thấy hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng nói
chung và của NHTM nói riêng có các đặc trưng cơ bản sau:
Một là, chủ thể một bên giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao giờ cũng là
một tổ chức tín dụng có đủ điều kiện hoạt động tín dụng theo quy định của pháp luật, chủ
thể này tham gia giao dịch với tư cách người đầu tư (người cho vay) và có quyền đòi tiền
của người được đầu tư (người đi vay) khi hợp đồng đáo hạn.
chính theo quy định của pháp luật về cho thuê tài chính.
11
Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng
thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải
trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng
hoá, cung ứng dịch vụ
12
.
Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với
bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách
hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết;
khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận
13
.
Trong những năm 1960 trở về trước hoạt động tín dụng của NHTM chỉ có cho vay
bằng tiền. Nhưng từ những năm 1970 trở lại đây cho thuê vận hành và cho thuê tài chính
đã được các ngân hàng hoặc các định chế tài chính khác cung cấp cho khách hàng. Đây là
9
Khoản 16, Điều 4, Luật Các tổ chức tín dụng 2010
10
Khoản 19, Khỏa 4, Luật Các tổ chức tín dụng 2010
11
Khái niệm này được khái quát từ Điều 1, Nghị định 16/2001/NĐ-CP về tổ chức và hoạt
động của công ty thuê tài chính, ( được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 65/2005/NĐ-CP ngày
19/5/2005).
12
Khoản 17, Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng 2010
13
Khoản 18, Điều 4, Luật Các tổ chức tín dụng 2010
SVTH: Đặng Thị Thanh Bình – Lớp 34K13 Trang 12
hàng ngày. Tín dụng tiêu dùng có thể được cấp phát dưới hình thức bằng tiền hoặc dưới
hình thức bán chịu hàng hoá.
Phân loại theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
Theo căn cứ này, tín dụng được chia làm hai loại:
-Tín dụng có bảo đảm: là loại tín dụng được ngân hàng cung ứng nhưng phải có tài
sản thế chấp, cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của bên thứ ba.
14
Điều 8, Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 về quy chế cho vay của tổ
chức tín dụng đối với khách hàng.
SVTH: Đặng Thị Thanh Bình – Lớp 34K13 Trang 13
Khóa luận tốt nghiệp
-Tín dụng không bảo đảm: lào loại tín dụng chỉ dựa vào uy tín của khách hàng. Đối
với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính lành mạnh,
quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín bản thân khách hàng
mà không cần một nguồn thu nợ bổ sung.
1.2.2.3 Vai trò của hoạt động tín dụng trong nền kinh tế thị trường.
Nếu như huy động vốn là hoạt động tập trung vốn nhàn rỗi từ các chủ thể dư thừa
trong xã hội thì hoạt động tín dụng lại chuyển giao vốn cho những người có nhu cầu sử
dụng trong xã hội. Với vai trò trung gian, NHTM là kênh chuyển vốn từ những người thừa
vốn đến những người thiếu vốn một cách hiệu quả nhất. Chính vì vậy, hoạt động tín dụng
của các tổ chức tín dụng, đặc biệt là của các NHTM thực sự là đòn bẩy quan trọng để phát
triển nền kinh tế thị trường ngày nay. Vai trò của tín dụng ngân hàng được thể hiện cụ thể
các khía cạnh sau:
Thứ nhất, tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất, mở rộng nền
kinh tế.
Muốn đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh, tăng cường cơ sở vật chất kỹ
thuật, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường các nhà sản xuất kinh doanh cần phải có
vốn và không ai khác, ngân hàng chính là chủ thể tạo ra nguồn vốn đó thong qua hoạt động
tín dụng của mình. Nhờ vào nguồn vốn tín dụng mà các doanh nghiệp mới thường xuyên có
đủ vốn thực hiện liên tục quá trình sản xuất mở rộng, thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm xã hội,
2.1 Khái niệm và đặc trưng của các biện pháp bảo đảm hoạt động tín dụng.
Trong tất cả các hoạt động của NHTM và các định chế tài chính trung gian khác, có
thể khẳng định rằng, tín dụng là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho ngân hàng,
song đây cũng là hoạt động có thể mang lại nhiều rủi ro nhất. Có thể nói, tín dụng luôn đi
kèm với rủi ro và rủi ro là một đặc trưng cơ bản của hoạt động tín dụng. Rủi ro trong hoạt
động tín dụng là tình trạng người đi vay, người sử dụng vốn tín dụng không có khả năng
hoàn trả được hoặc là gốc hoặc lãi hoặc cả gốc và lãi đúng hạn, đầy đủ như đã thỏa thuận.
Rủi ro ngân hàng nói chung và rủi ro tín dụng nói riêng luôn ở dạng tiềm ẩn và có thể xảy
ra bất cứ lúc nào, có ảnh hường lớn thậm chí có khả năng làm đảo lộn kết quả hoạt động
kinh doanh của một ngân hàng. Vì vậy, việc nhận biết rủi ro, có biện pháp khắc phục và
ngăn chặn chúng ngay từ đầu là một cách làm khôn ngoan và chủ động mà các tổ chức
hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng thông nên thực hiện các biện pháp bảo đảm tín dụng
SVTH: Đặng Thị Thanh Bình – Lớp 34K13 Trang 15
Khóa luận tốt nghiệp
thông qua việc áp dụng các quy định pháp luật về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ dân sự.
Như vậy, trong hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng, biện pháp bảo đảm bằng tài
sản đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo khả năng thu hồi vốn. Cụ thể, nếu
trường hợp bên đi vay, bên sử dụng vốn không có khả năng trả nợ khi đến hạn thì tổ chức
tín dụng có thể xử lý tài sản để đảm bảo thu hồi nợ.
Vậy, bảo đảm tín dụng hay còn gọi là bảo đảm tiền vay bằng tằng sản là việc tổ chức
tín dụng và khách hàng vay thỏa thuận về việc dùng tài sản của khách hàng hoặc tài sản
của người thứ ba để đảm bảo cho khả năng trả nợ của khách hàng vay, theo đó nếu khách
hàng vay không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, tài sản bảo đảm sẽ
được xử lý để tổ chức tín dụng thu hồi nợ.
15
Như vậy, các biện pháp bảo đảm tín dụng sẽ nâng cao ý thức thực hiện nghĩa vụ đúng
và đầy đủ của bên có nghĩa vụ - bên vay vốn. Mặt khác, các biện pháp này cũng giúp cho
bên có quyền - các NHTM luôn ở thế chủ động trong việc bảo vệ lợi ích của mình trong
các giao dịch đã ký kết. Trong trường hợp có sự tranh chấp, đối kháng về lợi ích giữa bên
Đặc trưng này phải thể hiện được các mặt sau: tài sản phải thuộc sở hữu hợp pháp của
người đi vay hoặc người bảo lãnh và được pháp luật cho phép giao dịch, đồng thời phải có
đủ các cơ sở pháp lý để ngân hàng – chủ thể cho vay được quyền ưu tiên xử lý tài sản
nhằm thu nợ khi người đi vay không thanh toán đúng hạn.
2.2 Khái niệm và đặc điểm pháp lý, bản chất của biện pháp bảo đảm bằng thế chấp
tài sản trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại.
2.2.1 Khái niệm
Để đảm bảo thực hiện các hoạt động tín dụng, các biện pháp bảo đảm phổ biến hiện nay
được hầu hết các NHTM lựa chọn áp dụng bao gồm: cầm cố tài sản của bên vay, thế chấp tài
sản của bên vay và bảo lãnh bằng tài sản của bên thế ba. Trong đó, biện pháp bảo đảm tín
dụng được áp dụng nhiều nhất và tối ưu hơn cả là biệp pháp thế chấp tài sản bao gồm tài sản
của chính người đi vay và tài sản của bên bảo lãnh thứ ba.
Vậy, thế chấp là gì mà được tôn vinh là “nữ hoàng” của các biện biện pháp bảo đảm.
Điều 342, BLDS 2005 quy định: “ Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là
bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho
bên nhận thế chấp”. Khái niệm này cho thấy biện pháp thế chấp vừa bảo đảm lợi ích của
bên có quyền vừa duy trì được hoạt động sản xuất kinh doanh của bên có nghĩa vụ. Nếu
như trong biện pháp cầm cố tài sản
16
, bên có nghĩa vụ phải giao tài sản cho bên có quyền
16
Điều 326, BLDS 2005 quy định “ Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm
cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố)
SVTH: Đặng Thị Thanh Bình – Lớp 34K13 Trang 17
Khóa luận tốt nghiệp
thì trong quan hệ thế chấp bên bảo đảm chỉ dùng tài sản để bảo đảm mà không chuyển
giao tài sản đó cho bên có quyền. Dùng tài sản để đảm bảo mà không phải chuyển giao tài
sản mà lợi ích của các bên trong quan hệ vẫn đạt được là một cách giải quyết tuyệt vời,
hữu hiệu mà chỉ có ở biện pháp thế chấp. Điều đó giải thích tại sao thế chấp được lựa chọn
bảo đảm trong thời hạn thế chấp do vậy họ không phải chịu những chi phí về việc thuê kho
bến bãi, người trong coi hay các biện pháp bảo quản thích hợp cũng như không phải chịu
trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu như không may làm hỏng, mất mát tài sản thể chấp. Đối
với bên thế chấp: biện pháp thế chấp giúp bên thế chấp vẫn được tiếp tục sử dụng, khai thác
công dụng của tài sản thế chấp để tìm kiếm lợi nhuận, đồng thời vẫn được sử dụng tài sản
vay - vốn vay từ bên nhận thế chấp-các NHTM chuyển cho.
Tuy nhiên, xét một cách toàn diện biện pháp thế chấp vẫn chưa cân bằng được lợi ích
cho cả hai bên, cũng như so với cầm cố biện pháp thế chấp mang lại nhiều rủi ro hơncho
bên có quyền. Cụ thể, bên nhận thế chấp vẫn phải chịu rủi ro nhiều hơn so với bên thế
chấp. Thứ nhất, đó là việc xác định tính xác thực của giấy tờ thế chấp. Thực tế đã chứng
minh có nhiều vấn đề bất cập xoay quanh vấn đề giấy tờ thế chấp như trường hợp: Một tài
sản thế chấp nhưng lại được lập nhiều hồ sơ khác nhau để xin vay tiền của các ngân hàng
khác nhau. Với sự phát triển của khoa học kỷ thuật ngày nay thì việc làm giả các giấy tờ
như giấy đăng ký ô tô, xe máy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diễn ra ngày càng phổ
biến và tinh vi đến nổi không thẩm tra tài sản cụ thể trên thực tế thì bên nhận thế chấp rất
khó phát hiện ra. Thứ hai, việc giữ gìn giá trị tài sản thế chấp lại thuộc về bên có nghĩa vụ
và họ có quyền khai thác, sử dụng tài sản thế chấp nếu không có thỏa thuận khác. Như vậy,
rất dễ xảy ra hiện tượng bên thế chấp tìm cách bán tài sản thế chấp cho người khác trong
thời gian thế chấp mà bên nhận thế chấp không biết được hay bên thế chấp lạm quyền khai
thác tài sản thế chấp dẫn đến tài sản bị hư hỏng, giảm sút giá trị…Tất cả đều dẫn đến khả
năng không bảo đảm được quyền của bên nhận thế chấp.
Thứ ba, tài sản thế chấp thường có sự thay đổi trong thời hạn thế chấp và dẫn đến
việc xung đột về lợi ích giữa bên nhận thế chấp với những người khác có liên quan đến tài
sản thế chấp.
Sự thay đổi này có thể là sự thay đổi về chủ thể như: bên thế chấp cho thuê tài sản thế
chấp, bên thế chấp bán tài sản thế chấp là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất
kinh doanh, cũng có thể là sự thay đổi về giá trị như tài sản thế chấp được mua bảo hiểm
và sự kiện bảo hiểm đã xảy ra, hoặc là sự thay đổi về trạng thái như tài sản thế chấp là tài
sản được hình thành trong tương lai, tài sản thế chấp được đầu tư thêm để làm tăng thêm
giá trị.
định số tiền vay mà không có ý nghĩa định giá tài sản để xử lý nợ. Việc xử lý tài sản bảo
đảm được xác định trên cơ sở thỏa thuận tại thời điểm xử lý tài sản bảo đảm. Việc định giá
SVTH: Đặng Thị Thanh Bình – Lớp 34K13 Trang 20
Khóa luận tốt nghiệp
trên nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận tại thời điểm xử lý tài sản bảo đảm. Nếu các bên
không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu chủ thể thứ ba định giá.
Như vậy, bản chất của thế chấp tài sản bảo đảm thực hiện hoạt động tín dụng ngân
hàng là biện pháp có tính dự phòng để khấu trừ nghĩa vụ của bên vay trong quan hệ hợp
đồng tín dụng ngân hàng nếu bên vay không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ
trả nợ đã cam kết trong hợp đồng tín dụng.
2.3 Biện pháp bảo đảm thế chấp tài sản và các biện pháp bảo đảm khác trong hoạt
động tín dụng của NHTM.
Như đã đề cập ở trên, các hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại là những
hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro, vì vậy, nếu không có những thiết chế cơ bản để bảo đảm
các khoản tiền đi vay và cho vay hiệu quả, ngân hàng sẽ tự đặt mình trước những rủi ro
khó lường đối với một loại hàng hóa vốn dĩ đã chứa đựng rất nhiều rủi ro, đó là “tiền tệ”.
Lúc này, những thiết chế cơ bản về các biện pháp bảo đảm trong BLDS 2005 sẽ được ngân
hàng lựa chọn. Nhưng trong số 7 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự: cầm cố tài
sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, tín chấp thì các biện pháp: cầm
cố, thế chấp và bão lãnh được ngân hàng sử dụng nhiều hơn cả, đặc biệt phổ biến nhất là
biện pháp thế chấp tài sản của bên có nghĩa vụ.
Vậy tại sao ngân hàng hoặc khách hàng không sử dụng biện pháp đặt cọc, ký cược và ký
quỹ để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, cũng như tại sao cầm cố, bão lãnh không được lựa
chọn trở thành biện pháp đảm bảo chủ yếu cho các hoạt động tín dụng của NHTM như biện
pháp thế chấp.Vấn đề này có thể được lý giải do một số nguyên nhân
17
:
Đặt cọc: Điều 358, BLDS 2005 quy định:
“1. Ðặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý