CHƯƠNG 8
LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
1. Khái niệm Luật tố tụng dân sự
a, Đối tượng điều chỉnh của Luật tố tụng dân sự
Trong lĩnh vực tố tụng dân sự, khi giải quyết các vụ việc dân sự và thi hành
án dân sự theo thủ tục mà Luật tố tụng dân sự quy định thì sẽ xuất hiện những quan
hệ giữa tòa án, viện kiểm sát, cơ quan thi hành án với nhau, với các đương sự, với
những người tham gia tố tụng khác. Các quan hệ này được các chủ thể thực hiện
trong khuôn khổ mà Luật tố tụng dân sự xác định nhằm giải quyết các vụ việc dân
sự. Hành vi của mỗi một chủ thể tham gia vào các quan hệ đó đã được những quy
phạm pháp luật tố tụng dân sự điều chỉnh, buộc các chủ thể này thực hiện các
quyền và nghĩa vụ nhất định. Các quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án
dân sự và thi hành án dân sự chính là đối tượng điều chỉnh của Luật tố tụng dân sự.
Đối tượng điều chỉnh của Luật tố tụng dân sự là các quan hệ xã hội phát sinh
giữa tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án, đương sự và
những người tham gia tố tụng khác trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự và
thi hành án dân sự.
b, Phương pháp điều chỉnh của Luật tố tụng dân sự
Với các quy phạm pháp luật, Luật tố tụng dân sự đã tác động tới đối tượng
điều chỉnh bằng các phương pháp điều chỉnh sau đây:
Phương pháp quyền uy mệnh lệnh. Luật tố tụng dân sự điều chỉnh các quan
hệ phát sinh trong tố tụng bằng phương pháp quyền uy mệnh lệnh thể hiện ở chỗ
quy định địa vị pháp lý của Tòa án, viện kiểm sát, cơ quan thi hành án và các chủ
thể khác trong tố tụng không giống nhau; các chủ thể khác đều phải phục tùng Tòa
án, viện kiểm sát và cơ quan thi hành án. Các quyết định của Tòa án, viện kiểm sát
và cơ quan thi hành án có giá trị bắt buộc các chủ thể khác phải thực hiện, nếu
không sẽ bị cưỡng chế thực hiện. Quy định này xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ
của mình, các cơ quan trên phải có những quyền lực pháp lý nhất định đối với các
chủ thể khác. Do đó, ở các quan hệ do Luật tố tụng dân sự điều chỉnh không có sự
bình đẳng giữa Tòa án, viện kiểm sát và cơ quan thi hành án với các chủ thể khác.
Phương pháp "mềm dẻo - linh hoạt" dựa trên nguyên tắc đảm bảo quyền bình
chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên như tranh chấp hợp đồng mua bán nhà (giá
cả, không thực hiện hợp đồng), tranh chấp hợp đồng vay tài sản (kiện đòi nợ). Việc
dân sự là những trường hợp không có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ mà chỉ yêu
cầu Toà án giải quyết xác nhận những sự kiện pháp lý như yêu cầu tuyên bố một
người là đã chết, tuyên bố mất tích, yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật.
Mỗi vụ việc dân sự dù có tranh chấp hoặc không có tranh chấp giữa các chủ
thể thì khi phát sinh tại Tòa án đều có mục đích giải quyết chung là nhằm bảo vệ lợi
ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Theo
pháp luật hiện hành, tính chất "dân sự" được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các vụ
việc về dân sự, hôn nhân và gia đình, về kinh doanh, thương mại, về lao động và về
các loại việc khác theo quy định của pháp luật. Khi một vụ việc dân sự phát sinh tại
Tòa án thì dẫn đến trách nhiệm giải quyết vụ việc dân sự đó của Tòa án nhân dân
theo trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án và việc dân sự.
Đối với vụ án thì đương sự có đơn khởi kiện (Toà án thụ lý, yêu cầu cung
cấp chứng cứ, hoà giải và mở phiên toà xét xử nếu hoà giải không thành), còn việc
dân sự chủ thể có liên quan gửi đơn yêu cầu Toà án (Toà án thụ lý, yêu cầu cung
cấp chứng cứ, mở phiên họp giải quyết có sự tham gia của Viện kiểm sát, quyết
định giải quyết có hiệu lực pháp luật ngay).
Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là hai năm kể từ thời điểm quyền và lợi ích
hợp pháp bị xâm phạm (chẳng hạn A vay B 50 triệu đồng, thời hạn trả nợ là
25.8.2007 nhưng A không trả nợ được. Thời hiệu khởi kiện đòi nợ là hai năm tính
từ ngày 26.8.2007 đến hết ngày 25.8.2009), quá thời hạn trên Toà án có thẩm quyền
không thụ lý, giải quyết vụ án dân sự.
Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là một năm kể từ ngày phát sinh
quyền yêu cầu.
3. Chủ thể của pháp luật tố tụng dân sự
Chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là các cá nhân, tổ chức tham
gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, gồm có:
a, Cơ quan tiến hành tố tụng dân sự
Cơ quan tiến hành tố tụng dân sự là cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ,
báo cáo với Hội đồng xét xử danh sách những người được triệu tập đến phiên toà
đã có mặt, ghi chép diễn biến phiên toà,...
Viện trưởng Viện kiểm sát là người được bầu hoặc được bổ nhiệm theo quy
định của pháp luật, là thủ trưởng, là người lãnh đạo của cơ quan Viện kiểm sát; có
nhiệm vụ và quyền hạn trong việc thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong quá trình giải quyết và thi hành án dân sự của Viện kiểm sát.
Kiểm sát viên: là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm
nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ việc
dân sự và thi hành các bản án, quyết định dân sự của Tòa án.
c, Người tham gia tố tụng dân sự
Người tham gia tố tụng là người tham gia vào việc giải quyết vụ việc dân sự
để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác hoặc hỗ trợ Tòa án
trong việc giải quyết vụ việc dân sự, bao gồm:
Một là đương sự. Đương sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên
đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự; người
yêu cầu, người bị yêu cầu, người có liên quan trong vụ việc dân sự.
Nguyên đơn là người tham gia tố tụng khởi kiện vụ án dân sự hoặc được chủ
thể khác có quyền khởi kiện đã khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của họ.
Trường hợp (1) : Công ty X bán cho Công ty Y 5 tấn hàng trị giá 100 triệu
đồng/1 tấn. Đến thời hạn thanh toán, Công ty Y chỉ mời thanh toán cho Công ty X
200 triệu đồng nên Công ty X đã khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu Công ty Y thanh
toán số tiền còn nợ.
Trường hợp (2) : H kiện N để đòi lại một số vật nuôi và gia súc, biết vậy nên
C đã viết đơn để yêu cầu Tòa án xác định vật nuôi, gia súc đó là của C chứ không
phải của H hay của N.
Trường hợp (1) Công ty X là nguyên đơn, trường hợp (2) H là nguyên đơn.
Bị đơn là người bị cho rằng đã xâm hại hoặc tranh chấp đến quyền lợi của
nguyên đơn nên đã bị nguyên đơn hoặc chủ thể có quyền khởi kiện đã khởi kiện tại
Tòa án.
Người làm chứng là người tham gia tố tụng để làm rõ các tình tiết, sự kiện
của vụ việc dân sự do biết được các tình tiết, sự kiện đó.
Người giám đinh là người tham gia tố tụng sử dụng kiến thức, kinh nghiệm
chuyên môn để làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự.
Người phiên dịch là người tham gia tố tụng dịch ngôn ngữ khác ra tiếng Việt
và ngược lại.
4. Thủ tục giải quyết vụ việc dân sự
a, Thủ tục giải quyết vụ án dân sự
Khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự: Khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự là giai
đoạn đầu tiên của tố tụng dân sự, thông qua việc khởi kiện và thụ lý phát sinh vụ án
dân sự tại Tòa án.
Quyền khởi kiện vụ án dân sự thuộc về cá nhân, tổ chức có quyền lợi bị xâm
hại hoặc tranh chấp. Ngoài ra, theo quy định của pháp luật thì một số tổ chức xã hội
cũng có quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án để bảo vệ lợi ích chung. Người
khởi kiện phải làm đơn ghi rõ: họ tên, địa chỉ của mình và của bị đơn, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nội dung của sự việc; yêu cầu của mình và những lý
lẽ chứng minh cho yêu cầu đó.
Sau khi Tòa án xem xét đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo, nếu nhận
thấy đủ điều kiện thụ lý thông báo cho người khởi kiện nộp tiền tạm ứng án phí và
tiến hành thụ lý vụ án bằng việc ghi vào sổ thụ lý của Tòa án, từ đó phát sinh vụ án
dân sự tại Tòa án. Hòa giải và chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là giai đoạn tố
tụng, theo đó Tòa án lập hồ sơ vụ án trên cơ sở các chứng cứ do các đương sự cung
cấp, Tòa án chỉ thu thập các chứng cứ trong thời hạn luật định. Thời hạn chuẩn bị
xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, hôn nhân gia đình là bốn tháng kể từ khi thụ lý (nếu