1 số vấn đề về thanh toán không dùng tiền mặt và thực trạng ở Việt Nam - Pdf 63

LỜI MỞ ĐẦU
Quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa đã kéo theo các phương thức
thanh toán phát triển, phương thức sau kế thừa và phát triển các phương thức
trước đó. Để khắc phục những nhược điểm của phương thức thanh toán bằng
tiền mặt, thanh toán không dùng tiền mặt đã ra đời và phát huy được những
ưu việt của nó.
Hiện nay ở rất nhiều nước trên thế giới, việc thanh toán không dùng tiền
mặt đã trở nên quen thuộc với mỗi người dân, trong khi đó ở Việt Nam, khối
lượng thanh toán không dùng tiền mặt còn chiếm tỷ lệ rất hạn chế. Thanh
toán không dùng tiền mặt chưa được người dân chấp nhận rộng rãi. Có thể
nói chúng ta chưa phát huy được tính ưu việt của thanh toán không dùng tiền
mặt và vì vậy chưa tận dụng hết các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của
nền kinh tế.
Thời gian qua, Nhà nước ta đã không ngừng đưa ra các biện pháp, các văn
bản pháp quy nhằm phát huy tốt phương thức thanh toán không dùng tiền
mặt. Tuy nhiên, tình trạng thanh toán không dùng tiền mặt ở nước ta còn
nhiều hạn chế và gây nhiều phiền toái cho người sử dụng.
Vì vậy, hiện nay việc tìm hiểu để tìm ra hướng đi đúng cho sự phát triển
thanh toán không dùng tiền mặt là rất cần thiết. Nó đòi hỏi phải có sự quan
tâm, nghiên cứu một cách đầy đủ, phải có cái nhìn sâu hơn, rộng hơn.
Với mong muốn được tìm hiểu sâu hơn về phương thức thanh toán này,
em đã chọn đề tài: “Một số vấn đề về thanh toán không dùng tiền mặt và
thực trạng ở Việt Nam”
1
CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ THANH TOÁN
KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT
I. LƯU THÔNG TIỀN TỆ
1. Khái niệm và vai trò của lưu thông tiền tệ
_ Lưu thông tiền tệ là sự vận động của tiền tệ trong nền kinh tế để thực
hiện các quan hệ thương mại, hàng hóa, phân phối thu nhập, hình thành

+ Tăng cường khả năng kiểm soát của nhà nước, của ngân hàng.
+ Tạo ra sự văn minh lịch sự trong thanh toán.
II. THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT.
1. Nguồn gốc thanh toán không dùng tiền mặt.
Trong xã hội loài người, nếu còn sản xuất hàng hóa và lưu thông hàng
hóa, thì sự tồn tại của mối quan hệ T_H là một tất yếu khách quan. Đó là
mối quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau.
Theo tiến trình lịch sử hình thành tiền tệ, đồng tiền đã có những bước
phát triển từ thấp đến cao. Trong nền kinh tế tự nhiên khép kín, do nhu cầu
còn rất đơn giản con người tự sản xuất được những gì mình cần và do đó họ
không nhu cầu trao đổi. Khi xã hội phát triển và mở rộng hơn, họ thấy rằng
mình không thể tự sản xuất thứ mà mình cần do nhiều lý do,lúc này nhu cầu
trao đổi xuất hiện và vấn đề là trao đổi như thế nào. Vấn đề trùng lắp nhu
cầu xuất hiện. Nhưng không phải lúc nào và ở đâu cũng có sự trùng lắp nhu
cầu. Muốn trao đổi được hàng hóa người ta nghĩ tới một hàng hóa mà nhiều
người cùng cần, đó là vật đứng ra làm vật ngang giá chung_hình thức đầu
tiên của tiền tệ. Lúc đầu vật ngang giá chung rất đơn giản, nó có thể là vỏ sò
vỏ hến hay con bò, miếng đồng…Do yêu cầu thuận tiện trong trao đổi người
ta thấy rằng cần phải có vật ngang giá chung thế nào đó dễ vận chuyển, dễ
chia nhỏ, không hao mòn và có thể tích trữ dùng cho sau này. Con người đã
chọn vàng.
Sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển, hàng hóa đưa vào lưu thông càng
nhiều, đòi hỏi phải có thêm lượng tiền đưa vào thêm đáp ứng nhu cầu của
hàng hóa đưa vào lưu thông. Hơn thế nữa người ta thấy rằng trong mua bán
chịu, tờ giấy ghi nợ cũng có gía trị như tiền vậy. Tiền giấy ra đời và nó đã
giúp cho việc trao đổi hàng hóa diễn ra thuận lợi hơn rất nhiều.
Nhưng sản xuất không ngừng phát triển, khối lượng tiền đưa vào lưu
thông ngày một lớn, đặc biệt là khi có lạm phát. Tiền giấy bộc lộ những hạn
chế nhất định như: chi phí in ấn,bảo quản,tiền giả,kiểm đếm…Hơn nữa
trong nền kinh tế phát triển như ngày nay khối lượng tiền trong một giao

+ Thanh toán không dùng tiền mặt giúp cho ngân hàng tập trung được
các nguồn vốn trong dân cư.
+ Giúp cho ngân hàng có được khoản thu từ phí cung cấp dịch vụ thanh
toán ổn định và an toàn.
+ Tạo điều kiện cho ngân hàng Nhà Nước kiểm soát và điều tiết lượng
tiền đi vào lưu thông, từ đó có các chính sách phù hợp tác động vào nền kinh
tế.
+ Với vai trò là các trung gian tài chính việc thanh toán qua ngân hàng
giúp cho việc thu thập các nguồn thông tin về doanh nghiêp và sự chuyển
dịch vốn trong nền kinh tế. Tạo điều kiện cho việc thẩm định các dự án đầu
tư được tốt hơn.
_ Đối với xã hội:
+ Tạo môi trường thanh toán văn minh, lịch sự, thuận tiện và nhanh
chóng.
+ Giúp cho người dân có thói quen thanh toán qua ngân hàng và sử
dụng các dịch vụ ngân hàng.
+ Hạn chế nạn tiền giả, rửa tiền, thành lập các quỹ đen…
3. Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt
Theo quyết định 22/QD-NH ngày 21/01/1994 do Thống đốc ngân hàng
Nhà Nước ban hành, các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt được áp
dụng trong hệ thống ngân hàng bao gồm: séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu,
4
thư tín dụng, ngân phiếu thanh toán, thẻ thanh toán. Tuy nhiên, một số
chuyên gia cho rằng ngân phiếu không phải là TTKDTM mà chỉ là một loại
tiền mệnh giá lớn.
3.1. Thanh toán bằng séc
_ Séc là phương tiện thanh toán do người kí phát lập dưới hình thức
chứng từ theo mẫu in sẵn lệnh cho người thực hiện thanh toán trả không điều
kiện một số tiền nhất định cho người thụ hưởng có tên trên séc hoặc người
cầm séc

Nếu người chủ tài khoản vi phạm phát hành séc đến tờ thứ hai, NHNN sẽ
thông báo đến tất cả các ngân hàng, khách hàng phát hành séc quá số dư sẽ
5
bị đình chỉ việc sử dụng loại séc đó, thời gian đình chỉ tối thiểu là 3 tháng.
Trong trường hợp việc vi phạm nguyên tắc phát hành séc dẫn tới hậu quả
nghiêm trọng thì người phát hành sec sẽ bị truy tố theo quy định của pháp
luật.
_ Các loại séc:
+ Séc chuyển khoản:
Séc chuyển khoản- séc thông thường là loại séc do chủ tài khoản ký phát
và trực tiếp giao cho người thụ hưởng để thực hiện nghĩa vụ thanh toán của
mình
Như vậy, khi nhận séc, người thụ hưởng không biết chắc chắn khả năng
thanh toán của người ký phát đối với tờ séc đó. Do đó séc chuyển thường
dùng trong trường hợp 2 bên tín nhiệm nhau trong thanh toán
Cơ chế sử dụng séc chuyển khoản hiện nay quy định: thời hạn hiệu lực
của séc là 10 ngày và séc chuyển khoản chỉ áp dụng thanh toán giữa các
khách hàng có tài khoản ở một chi nhánh ngân hàng hoặc khác chi nhánh
ngân hàng có tham gia thanh toán bù trừ và giao nhận chứng từ trực tiếp
hàng ngày.
+ Séc bảo chi:
Séc bảo chi là séc đã được tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán xác nhận
khả năng thanh toán trước khi người chi trả trao séc cho người thụ hưởng để
nhận hàng hóa và dịch vụ.
Như vậy, séc bảo chi là tờ séc đã được đảm bảo khả năng chi trả, do đó
nó được dùng trong trường hợp 2 bên mua bán không tín nhiệm nhau về
thanh toán
Trước khi muốn phát hành séc bảo chi cho người thụ hưởng, người ký
phát phải đến tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phục vụ mình để làm thủ
tục bảo chi cho tờ séc. Sau khi tờ séc được đóng dấu bảo chi, ghi ký hiệu

người thụ hưởng thì chuyển trả vào tài khoản thanh toán của người thụ
hưởng(nếu người thụ hưởng có tài khoản tại tổ chức cung ứng dịch vụ tiền
phải trả” (nếu người thụ hưởng không có tài khoản tại tổ chức cung ứng dịch
vụ thanh toán nhận chuyển tiền)
Chủ tài khoản cũng có thể dùng lệnh chi hoặc ủy nhiệm chi để chuyển
tiền bằng cách đề nghị tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phục vụ mình
phát hành séc chuyển tiền cầm tay. Trường hợp này chỉ sử dụng để chuyển
tiền giữa hai tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán cùng hệ thống.
Thời hạn thực hiện lệnh chi hay UNC do tổ chức cung ứng dịch vụ thanh
toán thỏa thuận với người sử dụng dịch vụ thanh toán. Khi kiểm soát, hạch
toán lệnh chi, các bên phải thực hiện đúng thời hạn đã quy định để đảm bảo
thanh toán nhanh lệnh chi.
Thực tế, UNT chiếm ưu thế tuyệt đối trong thanh toán không dùng tiền mặt
vì nó thuận tiện, dễ dàng và các lý do khách quan.
3.3. Thanh toán bằng ủy nhiệm thu(UNT)
Nhờ thu hoặc ủy nhiệm thu được áp dụng trong giao dịch thanh toán giữa
những người sử dụng dịch vụ thanh toán có mở tài khoản trong nội bộ tổ
chức cung ứng dịch vụ thanh toán hoặc giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ
thanh toán, trên cơ sở có thỏa thuận hoặc hợp đồng về điều kiện thu hộ giữa
bên trả tiền và bên thụ hưởng.
Thực chất của nhờ thu hay ủy nhiệm thu là giấy tờ thanh toán do người
ban lập để ủy thác cho tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thu hộ một số
tiền ở người mua tương ứng với giá trị hàng hóa dịch vụ đã cung ứng.
7
Tuy nhiên, việc tự động lập ủy nhiệm thu này có thể dẫn tới người bán
lập ủy nhiệm thu hoặc nhờ thu để thu khống, thu thừa tiền của người mua,
do đó nhờ thu hay UNT chỉ được sử dụng để thanh toán những hàng hóa,
dịch vụ có dụng cụ có ghi đo chính xác như điện, điện thoại, nước…
Thời hạn thực hiện nhờ thu hay ủy nhiệm thu do tổ chức cung ứng dịch
vụ thanh toán thỏa thuận với người sử dụng dịch vụ thanh toán.

ký kết giữa người mua và người bán mở tài khoản ở hai ngân hàng cùng hệ
thống. Trường hợp thanh toán ra khác hệ thống thì tại địa bàn của ngân hàng
phục vụ người bán phải có một ngân hàng cùng hệ thống với ngân hàng
phục vụ người mua tham gia thanh toán bù trừ.
8
*Điều kiện thanh toán:
_ Thư tín dụng chỉ thanh toán một lần và cho một người bán. Trường hợp
thanh toán không hết thì phải hoàn lại số tiền mở thư tín dụng cho người
mua.
_ Thời hạn hiệu lực: 3 tháng kể từ ngày ngân hàng phục vụ người mua mở
thư tín dụng đến ngày người bán nộp chứng từ thanh toán vào ngân hàng.
_ Thanh toán thư tín dụng nội địa đòi hỏi người mua phải lưu ký 100% giá
trị thư tín dụng tại ngân hàng.
3.5. Thanh toán bằng thẻ ngân hàng
3.5.1. Khái niệm thẻ:
Thẻ ngân hàng là một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt do
ngân hàng phát hành cho khách hàng, theo đó người sử dụng thẻ có thể dùng
để thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ tại các ĐVCNT hay rút tiền mặt tại các
ngân hàng đại lý thanh toán thẻ hoặc tại các máy rút tiền tự động ATM.
Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán hiện đại vì nó gắn liền với
kỹ thuật tin học ứng dụng trong ngân hàng. Thẻ thanh toán do ngân hàng
phát hành và bán cho khách hàng của mình( các doanh nghiệp, cá nhân) để
thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, thanh toán nợ và lĩnh tiền mặt. Ở một số
nước, các hãng, các công ty lớn cũng phát hành thẻ thanh toán để thu tiền
bán hàng của hãng mình.
3.5.2. Đặc điểm cấu tạo của thẻ:
_ Mặt trước bao gồm:
+ Nhãn hiệu thương mại của thẻ
+ Tên và logo của ngân hàng phát hành thẻ
+ Số thẻ, tên chủ thẻ dược in nổi

tài khoản tiền gửi của chủ sở hữu thẻ tại ngân hàng và hạn mức thanh toán
tối đa của thẻ do ngân hàng quy định.
Trong các hình thức thẻ ghi nợ, thẻ ATM là hình thức phát triển đầu tiên,
nó cho phép chủ thẻ tiếp cận trực tiếp với tài khoản của mình tại ngân hàng
từ máy rút tiền tự động. Chủ thẻ có thể thực hiện nhiều giao dịch khác nhau
tại máy rút tiền tự đông ATM, bao gồm: xem số dư tài khoản, chuyển khoản,
rút tiền, in sao kê, xem các thông tin quảng cáo…Hệ thống máy ATM hiện
đại còn cho phép chủ thẻ gửi tiền vào tài khoản của mình ngay tại các máy
ATM. Tuy nhiên, sử dụng thẻ ATM, chủ thẻ chỉ có thể tiếp cận với tài
khoản của mình từ những máy rút tiền tự động. Đây là một hạn chế bởi tài
khoản cá nhân chưa được tận dụng triệt để trong thanh toán dịch vụ, hàng
hóa tại các ĐVCNT.
Sự tiện lợi là đặc điểm quan trọng nhất của thẻ ATM. Bằng cách nhập mã
số cá nhân PIN, chủ thẻ có thể tiếp cận tài khoản cá nhân của mình tại các
máy rút tiền tự động 24/24h một ngày và 7 ngày trong tuần. Điều này có
nghĩa là nhiều giao dịch được thực hiện ngoài giờ làm việc của ngân hàng và
các ngày nghỉ.
_ Thẻ trả trước(Prepaid Card)- thẻ loại B: là loại thẻ mới được phát triển
trên thế giới, khách hàng không cần phải thực hiện các thủ tục phát hành thẻ
theo yêu cầu của ngân hàng như điền vào yêu cầu phát thẻ, chứng minh tài
chính…, họ chỉ cần trả cho ngân hàng một số tiền sẽ được ngân hàng bán
cho một tấm thẻ với mệnh giá tương đương. Đặc tính của loại thẻ này giống
như mọi thẻ bình thường khác, chỉ cóđiều thẻ này chỉ được giới hạn trongộc
số tiền có trong thẻ và chi tiêu trong một khoảng thời gian nhất định tùy
thuộc vào quy định của mỗi ngân hàng, tức là hạn mức thẻ không có tính
chất tuần hoàn.
10
_ Thẻ tín dụng (Credit Card)- thẻ loại C: là loại thẻ được sử dụng phổ biến
nhất, theo đó người chủ thẻ được sử dụng một hạn mức tín dụng quy định
không trả lãi (nếu chủ thẻ hoàn trả số tiền đã sử dụng đúng thời hạn) để mua

việc phát hành thẻ tín dụng. Trong trường hợp nay, ngân hàng phát hành tận
dụng được ưu thế của bên thứ ba về kinh nghiệm, khả năng thâm nhập thị
trường và những ưu việt về vị trí địa lý; tuy nhiên cũng phải chịu rủi ro về
tài chính bởi bên thứ ba lúc này hoạt động dưới danh nghĩa là ngân hàng
phát hành. Bên thứ ba khi ký kết hợp đồng đại lý với ngân hàng phát hành
được gọi là ngân hàng phát hành đại lý (ngân hàng đại lý). Các ngân hàng
này không tham gia toàn bộ vào quá trình phát hành thẻ mà chủ yếu có
11
nhiệm vụ phân phát các tờ rơi tại hệ thống chi nhánh của mình và nhận
những đơn xin phát hành thẻ của khách hàng và trong một số trường hợp
tham gia vào quá trình thẩm định khả năng tài chính của khách hàng dựa
trên kinh nghiệm và mối quan hệ sẵn có. Ngân hàng phát hành là tổ chức
thực hiện các công việc còn lại như quyết định hạn mức tín dụng cho khách
hàng, ký kết hợp đồng và in thẻ
Để phục vụ việc phát hành thẻ, các ngân hàng phải đầu tư lơn vào trang
thiết bị bởi công tác phát hành đòi hỏi những công nghệ hiện đại. Trong đó
ngân hàng phát hành phải trang bị hệ thống in thẻ, hệ thống quản lý và cập
nhật dữ liệu liên quan đến chủ thẻ và tình hình chi tiêu của chủ thẻ…Chính
vì vậy thông thường, để trở thành ngân hàng phát hành thẻ, ngoài uy tín,
những ngân hàng và tổ chức tín dụng nói chung phải đáp ứng được những
yêu cầu nhất định về khả năng tài chính, đầu tư công nghệ và chất xám.
_ Chủ thẻ:
Chủ thẻ là những cá nhân hoặc người được ủy quyền (nếu là thẻ do công
ty ủy quyền sử dụng) được ngân hàng phát hành thẻ có tên in nổi trên thẻ và
sử dụng thẻ theo điều khoản trong hợp đồng đã ký kết với ngân hàng phát
hành
Theo thông lệ, mỗi chủ thẻ chính thường có thể phát hành thêm một thẻ
phụ. Như vậy, phát sinh hai khái niệm thẻ chính và thẻ phụ. Tuy nhiên chủ
thẻ chính và chủ thẻ phụ cùng chi tiêu một tài khoản. Chủ thẻ phụ cũng có
trách nhiệm thanh toán các khoản phát sinh trong kỳ nhưng chủ thẻ chính là

hàng thanh toán thẻ.
_ Đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT):
Các đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ
như một phương tiện thanh toán được gọi là đơn vị chấp nhận thẻ(ĐVCNT).
Các ngành kinh doanh của các ĐVCNT trải rộng từ những cửa hiệu bán lẻ,
những nhà hàng ăn uống, đến khách sạn, sân bay…Tại nhiều nước trên thế
giới, khi thẻ ngân hàng đã trở thành một phương tiện thanh toán thông dụng,
chúng ta có thể nhìn thấy những biểu trưng của thẻ thường tại các cửa hàng.
Ở Việt Nam, các ĐVCNT tập trung chủ yếu tại các ngành hàng, dịch vụ có
thu hút nhiều khách nước ngoài như những cửa hàng bán đồ thủ công mỹ
nghệ, lưu niệm tại các trung tâm thương mại, những nhà hàng, khách sạn
lớn, các đại lý bán vé máy bay…
Để trở thành ĐVCNT đối với một loại thẻ ngân hàng nào đó, nhất thiết là
đơn vị này phải có tình hình tài chính tốt và có năng lực kinh doanh. Cũng
như việc ngân hàng phát hành thẩm định khách hàng trước khi phát hành thẻ
cho họ, các ngân hàng thanh toán cũng sẽ chỉ quyết định ký kết hợp đồng
chấp nhận thẻ với những đơn vị kinh doanh hiệu quả, có khả năng thu hút
nhiều giao dịch sử dụng thẻ.
Mặc dù phải trả cho ngân hàng thanh toán một tỷ lệ phí chiết khấu theo
số tiền trong mỗi giao dịch, các ĐVCNT vẫn có được lợi thế cạnh tranh bởi
việc chấp nhận thanh toán bằng thẻ ngân hàng sẽ giúp các đơn vị này thu hút
được một lượng khách hàng lớn, nâng cao số lượng các giao dịch thực hiện,
giảm chi phí quản lý tiền mặt, góp phần tăng hiệu quả kinh doanh.
4. Các phương thức thanh toán
4.1. Phương thức thanh toán liên chi nhánh ngân hàng
Thanh toán giữa hai khách hàng có tài khoản tại hai đơn vị ngân
hàng/chi nhánh ngân hàng thuộc cùng địa bàn tỉnh, thành phố, hoặc
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status