LỜI MỞ ĐẦU
Trong mọi nền sản xuất xã hội , con người luôn là động lực chính là
trung tâm của sự phát triển kinh tế xã hội. Muốn tồn tại và phát triển con
người cần phải có ăn, mặc, ở , đi lại …. Và để thoả mãn những nhu cầu này
thì họ phải lao động. Tuy nhiên không ai có thể lao động trong suốt cả cuộc
đời. Chắc chắn ít nhiều trong cuộc sống bận rộn thường ngày ai cũng có một
lần ốm đau, bệnh tật cần đến sự quan tâm chăm sóc của mọi người ,của y tế ,
Theo quy luật ai cũng có lúc già yếu không còn thu nhập từ lao động để đảm
bảo cuộc sống . Rồi những rủi ro không may xảy ra trong lúc người lao động
đang làm việc đó là tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp nó có thể làm họ
mất khả năng lao động tạm thời hoặc vĩnh viễn. Những người phụ nữ trong
thời kì thai sản không những không thể lao động được mà sức khoẻ còn bị
giảm đáng kể cần được nghỉ ngơi chăm sóc. Và người lao động sẽ bị mất
hoàn toàn thu nhập khi họ bị thất nghiệp ….Trong những lúc khó khăn này
họ cần có sự đùm bọc, che chở và giúp đỡ của người thân và toàn xã hội.
Vậy chúng ta phải làm gì để giúp đỡ họ? Mỗi người có thể trích một phần rất
nhỏ trong thu nhập của mình để ủng hộ họ, xong vấn đề đặt ra đó là bằng
cách nào để chuyển tới tận tay họ?
Để giải quyết vấn đề này nhiều nước đã xây dựng hệ thống bảo hiểm
xã hội (BHXH) với mục đích đảm bảo cuộc sống cho người lao động , qua
đó đạt mục đích an toàn xã hội .Tại sao khi tham gia BHXH mọi người lại
có thể giúp đỡ nhau? Rất đơn giản vì dưới giác độ tài chính BHXH là quá
trình san sẻ rủi ro và san sẻ tài chính giữa những người tham gia BHXH theo
quy định của pháp luật. Hệ thống BHXH được hình thành trên nguyên tắc
đóng góp của ba trụ cột chính là người lao động , giới chủ và Nhà Nước. Hệ
thống BHXH là công cụ của chính sách xã hội , do Nhà Nước thực hiện dựa
trên nguyên tắc đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm. BHXH là một
trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của mỗi quốc gia , thể hiện trình
độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế cũng như khả năng quản lý của
quốc gia đó. BHXH ra đời khá sớm ,và được coi là “lưới” đầu tiên trong hệ
trình hành động khác nhau, áp dụng các cơ chế khác nhau để đạt đươc hiệu
quả cao nhất trong các chương trình của ASXH.
2. Bảo hiểm xã hội
Khái niệm
Là sự đảm bảo cuộc sống cho người lao động(NLĐ)và gia đình họ khi xảy
ra tình trạng mất ,giảm thu nhập do mất ,giảm khả năng lao động hoặc sức
lao đoọng không được sử dụng và bao gồm cả việc chăm sóc sức y tế và trợ
cấp gia đình đông con.
Phạm vi
Bao gồm tất cả các rủi ro dẫn đến mất giảm khả năng lao động tạm thời cúng
như vĩnh viễn,các biến cố dẫn đến khả năng lao động không được sử
dụng.Quy mô gia đình lớn. từ đó dẫn đến giảm thu nhập và giảm thu nhập
bình quân theo đầu người.
Đối tượng của bảo hiểm xã hội
Đối tượng :thu nhập của NLĐ
Người tham gia BH :NLĐ và NSDLD
Người được BH :NLĐ
Người được thụ hưởng BH:NLĐ và thân nhân NLĐ đủ điều
kiện theo luật định
3
Hệ thống chế độ BHXH
Chế độ BHXH là sự cụ thể hóa chính sách xã hội,quy định cụ thể về việc
thực hiện BHXH. Thực chất đây là một hệ thống các quy định được thể chế
hóa thành luật về đối tượng BHXH và quyền lợi cũng như quyền lợi của
họ.Nó được thể chế hóa thành một hệ thống được quy định theo công ước
quốc tế.
Theo công ước số 102 quy định,chế độ bảo hiểm bao gồm 9 chế độ
1. Chế độ trợ cấp y tế
2. Chế độ trợ cấp ốm đau
3. Chế độ trợ cấp thất nghiệp
hội.
a, Tác dụng của bảo hiểm y tế
Giúp cho những người tham gia bảo hiểm y tế khắc phục khó khăn về
kinh tế khi rủi ro ốm đau xảy ra.
Góp phần giảm “ gánh nặng” cho ngân sách Nhà Nước .
Góp phần nâng cao chất lượng và công bằng xã hội trong khám và chữa
bệnh.
b.Nội dung:
Chăm sóc y tế bảo đảm việc cung cấp những sự hỗ trợ giúp cho người
được bảo vệ khi tình trạng của họ cần đến sự chăm sóc y tế nhằm mục đích
chữa bệnh hoặc có tính chất phòng bệnh,nghĩa là khi họ bị đau ốm,thai
nghén,sinh đẻ và các hậu quả tiếp theo.Mục đích của chế độ này là cung cấp
dịch vụ chăm sóc y tế để duy trì,khôi phục và cải thiện sức khỏe và khả năng
làm việc cũng như nhu cầu cá nhân của họ,hoặc thanh toán các chi phí khám
chữa bệnh
c, Đối tượng.
Phù hợp với mục đích , đối tượng bảo hiểm y tế nói chung ở các nước
đều xác định là mọi thành viên của xã hội từ 16 đến 65 tuổi đều có nhu cầu
Tuy nhiên thời kì đầu mới hình thành , thông thường chỉ áp dụng đối với
công nhân viên chức Nhà Nước , dần dần mở rộng cho các thành viên khác
có nhu cầu
Bảo hiểm y tế Việt Nam được thành lập theo nghị định 299/HĐBT ngày
15/8/1992 của hội đồng bộ trưởng . Bảo hiểm y tế Việt Nam bước đầu chỉ
mới tiến hành bảo hiểm cho các đối tượng cán bộ công nhân viên chức đang
làm việc , nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động trong các đơn vị hành chính sự
nghiệp , các tổ chức Đảng và đoàn thể có hưởng
lương từ ngân sách , trong các doanh nghiệp quốc doanh , doanh nghiệp
ngoài quốc doanh có thuê từ 10 lao động trở lên , các tổ chức quốc tế tại
Việt Nam có thuê lao động Việt Nam.
d, Hình thức tổ chức bảo hiểm y tế(BHYT).
3.Cơ quan quản lí Cơ quan BHYTdo nhà
nước quản lí
Các công ty bảo hiểm
kinh doanh của Nhà
Nước , tư nhân , công ty
cổ phần
4.Tính chất bảo hiểm Tính nhân đạo, tính
cộng đồng
Hạch toán kinh tế, cân
đối thu chi và làm nghĩa
vụ đối với Nhà Nước
5.Nguồn quỹ BHYT Người sử dụng lao
động, người lao động
đóng góp theo tỉ lệ
%quỹ lương và tiền
lương có sự hỗ trợ của
ngân sách
Người tham gia bảo
hiểm nộp phí bảo hiểm
theo các mức thoả thuận
6.Phương thức và mức
thanh toán tiền BHYT
Chủ yếu chuyển thẳng
cho cơ sở y tế đảm nhận
khám và chữa bệnh theo
quy định của cơ quan
BHYT . Mức thanh
toán theo quy định của
những bệnh thông
thường
BHYT Người đóng BHYT
(đóng tiền) + người lao động
+ người sử dụng lao động
(Quản lý quỹ và + nhà tài trợ
Tài trợ)
Cơ sở khám chữa bệnh
( Cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh)
Hiểu theo nghĩa hẹp , hệ thống BHYT chỉ gồm các bộ phận và các quan
hệ trong nội bộ BHYT
Nguồn quỹ được hình thành do người sử dụng và người lao động
đóng góp
-Cán bộ nhân viên hành chính …. mức đóng 10%tổng quỹ lương, trong
đó cơ quan đóng 2/3, cán bộ công nhân viên đóng 1/3.
7
-Cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp quốc doanh, ngoài quốc
doanh, các tổ chức quốc tế , mức đóng 3% tổng thu nhập của người lao động
, trong đó doanh nghiệp đóng 2/3 quỹ lương.
- Đối với người nghỉ hưu, mất sức, cơ quan bảo hiểaox hội đóng 10%
lương hưu và trợ cấp mất sức
Nguyên tắc sử dụng quỹ BHYT.
Theo điều lệ các đối tượng bắt buộc nộp vào quỹ BHYT tỉnh, thành
phố, các đối tượng tự nguyện nộp vào các đại lý BHYT xã, phường, các đại
lý được trích lại 20% trong đó 15% dung mua thuốc và trang bị y tế, 5% phụ
cấp cho người làm BHYT , 80% tập trung về quỹ BHYT tỉnh, thành phố
Quỹ BHYT tỉnh, thành phố hình thành do 2 nguồn :
-Các đối tượng bắt buộc nộp
-80% từ các đại lý BHYT tự nguyện
Quỹ BHYT tỉnh, thành phố được sử dụng:
-90% cho khám và chữa bệnh
- 8% cho quản lý hành chính