THẺ VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THẺ NGÂN HÀNG
1.1.1.Lịch sử hình thành và phát triển thẻ
Lịch sử hình thành phương thức thanh toán bằng thẻ nói chung được ghi
nhận vào năm 1914. Khi đó một công ty của Mỹ là Western Union đã cung cấp
một dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của khách hàng, công ty phát hành một
tấm thẻ bằng kim loại với một số thông tin được in nổi lên trên để đảm bảo hai
chức năng cơ bản: nhận dạng khách hàng, lưu giữ các thông tin được in nổi trên
tấm kim loại.
Đến năm 1958, công ty American Express đã phát hành các thẻ nhựa, trong
đó tập trung vào các lĩnh vực giải trí và du lịch, một lĩnh vực có tốc độ phát
triển nhanh chóng tại Mỹ và Châu Âu trong thời kỳ sau chiến tranh thế giới.
Năm 1966, Bank of America chính thức trao quyền phát hành thẻ
BankAmericard của mình cho các ngân hàng thông qua việc ký các hợp đồng
đại lý, chính thức bắt đầu giai đoạn tăng tốc trong phát triển. Thẻ tín dụng lúc
này không chỉ mặc định dành cho những người giàu có và nổi tiếng mà dần trở
thành một phương tiện thanh toán thông dụng. Thương hiệu BankAmericard với
một loạt sản phẩm có màu xanh, trắng, vàng đặc trưng ngày càng trở nên quen
thuộc với người tiêu dùng. Tới năm 1977, thẻ của Bank of America thật sự được
chấp nhận trên toàn cầu và thay vì tên BankAmericard, tên thẻ VISA ra đời với
màu sắc đặc trưng vẫn là xanh lam, trắng và vàng.
Cũng vào năm 1966, ba nhóm ngân hàng lớn nhất phía đông nước Mỹ
quyết định hợp tác thành lập tập đoàn kinh doanh tín dụng riêng có tên là
Interbank Card Association (ICA). Sau này tên ICA được chuyển đổi thành
MasterCard. Sau đó ICA liên kết với một số ngân hàng ở ngoài nước. Năm
1979, ICA trở thành tổ chức thẻ quốc tế lớn khác với thẻ Master Card.
Thẻ ngày nay được sử dụng rộng rãi, các công ty và các ngân hàng liên kết
với nhau để khai thác lĩnh vực thu hút nhiều lợi nhuận này. Thẻ dần dần được
xem như một phương tiện văn minh, thuận lợi trong các giao dịch mua bán. Bên
cạnh các loại thẻ Master Card, Visa, thẻ Amex ra đời năm 1958, JCB xuất phát
- Thẻ tín dụng (Credit Card): là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, theo
đó người chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín dụng không phải trả lãi để
mua sắm hàng hoá, dịch vụ tại những cơ sở kinh doanh, khách sạn, sân bay ...
chấp nhận loại thẻ này.
Gọi đây là thẻ tín dụng vì chủ thẻ được ứng trước một hạn mức tiêu dùng
mà không phải trả tiền ngay, chỉ thanh toán sau một kỳ hạn nhất định. Cũng từ
đặc điểm trên mà người ta còn gọi thẻ tín dụng là thẻ ghi nợ hoãn hiệu (delayed
debit card) hay chậm trả.
- Thẻ ghi nợ (Debit card): đây là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền
với tài khoản tiền gửi. Loại thẻ này khi đợc sử dụng để mua hàng hoá hay dịch
vụ, giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ
thẻ thông qua những thiết bị điện tử đặt tại cửa hàng, khách sạn ... đồng thời
chuyển ngân ngay lập tức vào tài khoản của cửa hàng, khách sạn... Thẻ ghi nợ
còn hay được sử dụng để rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động.
Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuôc vào số dư hiện hữu
trên tài khoản của chủ thẻ.
Có hai loại thẻ ghi nợ cơ bản:
- Thẻ online: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ ngay lập
tức vào tài khoản chủ thẻ.
- Thẻ offline: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch đợc khấu trừ vào tài
khoản chủ thẻ sau đó vài ngày.
- Thẻ rút tiền mặt (Cash card): là loại thẻ rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự
động hoặc ở ngân hàng. Với chức năng chuyên biệt chỉ dùng để rút tiền, yêu cầu
đặt ra đối với loại thẻ này là chủ thẻ phải ký quỹ tiền gởi vào tài khoản ngân
hàng hoặc chủ thẻ được cấp tín dụng thấu chi mới sử dụng được.
Thẻ rút tiền mặt có hai loại:
Loại 1: chỉ rút tiền tại những máy tự động của Ngân hàng phát hành.
Loại 2: được sử dụng để rút tiền không chỉ ở Ngân hàng phát hành mà còn
được sử dụng để rút tiền ở các Ngân hàng cùng tham gia tổ chức thanh toán với
Ngân hàng phát hành thẻ.
suốt thời gian hoạt động, quản lý và xử lý những giao dịch có thể sử dụng thẻ tại
những đơn vị này.
Thông thường ngân hàng thanh toán thu từ các đơn vị cung ứng hàng hoá
dịch vụ có ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ một mức phí chiết khấu cho việc xử
lý các giao dịch có thể sử dụng thẻ tại đây.
1.1.3.3. Tổ chức thẻ quốc tế
Tổ chức thẻ quốc tế là hiệp hội các tổ chức tài chính, tín dụng lớn tham gia
phát hành và thanh toán thẻ quốc tế. Tổ chức thẻ quốc tế là đơn vị đứng đầu,
quản lý mọi hoạt động phát hành và thanh toán thẻ, có mạng lưới rộng khắp và
có các thương hiệu nổi tiếng khắp thế giới với các sản phẩm thẻ đa dạng, ví dụ
tổ chức thẻ Visa, tổ chức thẻ Master, công ty thẻ American Express, công ty thẻ
JCB, công ty thẻ Dinners Club…
Tổ chức thẻ quốc tế đóng vai trò trung gian giữa các tổ chức và các công ty
thành viên trong việc điều chỉnh và cân đối các lượng tiền thanh toán giữa các
công ty thành viên, cung cấp một mạng lưới viễn thông toàn cầu phục vụ cho
quy trình thanh toán, cấp phép cho ngân hàng thành viên một cách nhanh chóng.
1.1.3.4. Chủ thẻ
Là người có tên ghi trên thẻ được dùng thẻ để chi trả thanh toán tiền mua
hàng hoá, dịch vụ. Chỉ có chủ thẻ mới có thể sử dụng thẻ của mình . Mỗi khi
thanh toán cho các cơ sở chấp nhận thẻ vể hàng hoá dịch vụ hoặc trả nợ, chủ thẻ
phải xuất trình thẻ để nơi đây kiểm tra theo qui trình và lập biên lai thanh toán.
Chủ thẻ chính: Là người có tên trên thẻ, đã đứng ra xin được ngân hàng
cấp phát thẻ để sử dụng.
Chủ thẻ phụ: Là người được chủ thẻ chính đề nghị ngân hàng cấp thẻ để
dùng chung một tài khoản với chủ thẻ chính.
Chủ thẻ chính có trách nhiệm khai báo thông tin đầy đủ, chính xác với
ngân hàng phát hành khi đăng ký làm thẻ. Chủ thẻ chính cũng chịu trách nhiệm
thanh toán mọi giao dịch của cả chủ thẻ chính và phụ. Các giao dịch của chủ thẻ
chính và chủ thẻ phụ có cùng bản sao kê và được gửi về ngân hàng thanh toán
sau mỗi giao dịch. Dù dùng thẻ chính hay thẻ phụ, khách hàng cũng chỉ được
hiểm,… nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Chính điều này đã
giúp cho Ngân hàng vừa thu hút được những khách hàng tiềm năng vừa giữ
được những khách hàng truyền thống.
Hiện đại hóa công nghệ Ngân hàng, tăng cường các mối quan hệ trong
hoạt động kinh doanh Ngân hàng
Để có thể áp dụng nghiệp vụ thanh toán thẻ, đòi hỏi mỗi Ngân hàng phải
không ngừng nâng cao trình độ, trang bị thêm các loại hình máy móc thiết bị kỹ
thuật mang tính công nghệ cao,…nhằm cung cấp cho khách hàng những điều
kiện tốt nhất trong thanh toán, đảm bảo uy tín, an toàn và tăng khả năng cạnh
tranh.
Với việc tham gia vào các tổ chức thẻ quốc tế như Visa hay Master Card
hay trở thành thành viên của các tổ chức thẻ quốc tế,… Ngân hàng có mối quan
hệ làm ăn với nhiều Ngân hàng và nhiều tổ chức tài chính trong và ngoài nước.
Nhờ các mối quan hệ này, một Ngân hàng dù lớn hay nhỏ nhất thế giới cũng có
thể cho khách hàng một phương tiện thanh toán quốc tế có chất lượng như bất kì
đối thủ cạnh tranh nào. Điều này tạo điều kiện cho Ngân hàng tăng cường hoạt
động kinh doanh, tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, hội nhập với cộng đồng
quốc tế.
Tăng nguồn vốn cho Ngân hàng
Nhờ thẻ thanh toán, số lượng tiền gửi của khách hàng tại Ngân hàng nhằm
mục đích thanh toán thẻ và số lượng tài khoản của các ĐVCNT ngày càng tăng
lên. Các tài khoản này tạo cho Ngân hàng một lượng vốn nhàn rỗi đáng kể, có
thể coi là một nguồn sinh lợi lớn cho Ngân hàng.
b.Đối với chủ thẻ
Nhanh chóng, thuận tiện
Với việc sử dụng thẻ thanh toán, người sử dụng có thể cảm nhận được sự
tiện lợi của nó hơn hẳn các phương tiện thanh toán khác.
Trước hết, thẻ có kích thước nhỏ gọn, do đó người sử dụng thẻ có thể dễ
dàng mang theo khi đi du lịch hay công tác xa. Với việc sử dụng thẻ, khách
hàng tránh được tình trạng phải mang theo khối lượng lớn tiền mặt, cồng kềnh
và lãi phải trả cho mỗi khoản giao dịch.
c. Đối với đơn vị chấp nhận thẻ
Tăng doanh số bán hàng hóa dịch vụ và thu hút khách hàng
Khi đời sống của người dân ngày càng được nâng cao thì nhu cầu cho đời
sống ngày càng tăng. Cùng với quá trình hội nhập, đầu tư nước ngoài, duc lịch
quốc tế cũng ngày càng tăng. Với phương châm “khách hàng là thượng đế”, các
điểm bán hàng phải đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, có như vậy mới
mong có khả năng thu hút và giữ chân được khách hàng. Chấp nhận thanh toán
thẻ là một hoạt động trong chiến lược đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng.
Chấp nhận thanh toán thẻ là cung cấp cho khách hàng, đặc biệt là khách du lịch
hay nhà đầu tư nước ngoài một phương tiện thanh toán đơn giản, tiện lợi. Do
đó, khả năng thu hút khách hàng sẽ tăng lên dẫn tới khối lượng hàng hóa dịch
vụ cung ứng cũng tăng lên. Thanh toán thẻ tạo cho các ĐVCNT khả năng cạnh
tranh lớn hơn các đối thủ khác do môi trường văn minh, hiện đại trong mua bán
giao dịch khi chấp nhận thanh toán thẻ.
An toàn, đảm bảo và giảm chi phí bán hàng
Trong giao dịch được thanh toán bằng thẻ, số tiền trong giao dịch được trả
ngay vào tài khoản của ĐVCNT. Hơn nữa thẻ có tính bảo mật rất cao nên cho
dù chưa được thanh toán ngay thì thanh toán thẻ cũng có ít nguy cơ bị mất cắp
hơn so với sử dụng séc hay tiền mặt. Cùng một lượng tiền trong giao dịch, nếu
là tiền mặt hay séc, luôn là mục tiêu của các đối tượng trộm cắp hay những nhân
viên không trung thực; nhưng nếu là trong hóa đơn thẻ thì nó hoàn toàn an toàn
vì nó chỉ có ý nghĩa duy nhất với ĐVCNT. Chính vì vậy, sử dụng thẻ trong
thanh toán là rất hữu ích vì tính an toàn của nó.
Cùng với việc chấp nhận thanh toán thẻ, các ĐVCNT sẽ giảm được một
lượng đáng kể các chi phí cho việc kiểm kê, vận chuyển và bảo quản tiền,…do
vậy giảm được chi phí bán hàng.
Thu hồi và quay vòng vốn nhanh chóng
Việc chấp nhận thanh toán thẻ giúp các cơ sở đa dạng hóa các phương thức
thanh toán, giảm tình trạng trả chậm của khách hàng. Khi dữ liệu về giao dịch
thẻ, người lấy được thẻ biết được số PIN, họ có thể thực hiện việc rút tiền qua
ATM. Trong trường hợp này, chủ thẻ phải chịu toàn bộ rủi ro về số tiền bị mất.
Rủi ro do sử dụng vượt hạn mức
Khi chủ thẻ cố tình thực hiện các giao dịch dưới mức phải xin cấp phép
giao dịch và kết quả là dẫn tới tổng số dư sử dụng lớn hơn rất nhiều so với hạn
mức được cấp Khi Ngân hàng phát hiện ra thì khả năng thanh toán quá hạn mức
của thẻ đã ở mức cao, khó kiểm soát và Ngân hàng phải chịu toàn bộ tổn thất do
chủ thẻ mất khả năng thanh toán.