LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI.
Trong cơ chế thị trường như hiện nay, làn sóng cách kinh tế đã lan toả khắp
thế giới. Đi đôi với nó là việc tự do hoá thương mại và phát triển mậu dịch quốc tế.
Hầu hết các nước thực hiện Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá hướng về thị trường
thế giới hiện nay được đặc trưng hoá bằng hai tính chất cơ bản là "cạnh tranh
quyết liệt trên phạm vi toàn cầu và tiến bộ không ngừng về kỷ thuật và công
nghiệp". Do đó các nước đều xác định cho mình những kế hoạch và phương hướng
phù hợp để phát triển kinh tế. Tuy thế giới đang tiến hành nhanh quá trình khu vực
hoá, toàn cầu hoá , tăng cường giao lưu buôn bán nhưng đều sử dụng triệt để các
chính sách, các biện pháp bảo vệ thị trường trong nước và mở rộng thị trường ra
nước ngoài để đảm bảo cho lợi ích của mình. Muốn giữ vững và mở rộng thị
trường trong nước và quốc tế thì nhà nước và doanh nghiệp phải tiến hành nhiều
hoạt động và biện pháp khác nhau như: Nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới
công nghiệp, xúc tiến thương mại, thay đổi kiểu dáng.... Trong đó xúc tiến thương
mại đóng vai trò vô cùng quan trọng. Nó tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệp, giúp
người tiêu dùng tiếp cận sản phẩm dễ dàng và có sự lựa chọn đúng cho nhu cầu
của mình.
Đối với nước ta thuật ngữ xúc tiến thương mại còn khá mới mẻ. Do đó để
hiểu rõ hơn về xúc tiến thương mại cũng như nội dung của đề tài này thì chúng
ta cần phải nắm được khái niệm của một số thuật ngữ.
1.Một số khái niệm về xúc tiến thương mại.
Khi đưa ra nghiên cứu bất kỳ một vấn đề nào đó dù nó liên quan đến chính
trị, kinh tế, xã hội thì cùng đều có rất nhiều quan điểm khác nhau lý giải cho vấn
đề đó. Xúc tiến thương mại cũng vậy, tuỳ theo từng ngành nghề, lĩnh vực khác
nhau mà các nhà nghiên cứu đưa ra những khái niệm và lý luận riêng về xúc tiến
thương mại cho ngành nghề và lĩnh vực đó cho phù hợp nội dung và tính chất của
nó.
Trước tiên ta sẽ tìm hiểu về thuật ngữ xúc tiến. Kể từ khi xuất hiện cho
đến nay có rất nhiều khái niệm khác nhau và các khái niệm đó qua từng thời
kỳ đã được nâng cao và ngày càng hoàn thiện hơn.
xuất khẩu”.
- Phát triển thương mại: Được chia thành phát triển ngoại thương và
phát triển nội thương. Phát triển ngoại thương gồm phát triển xuất khẩu và
nhập khẩu.
- Hoạt động xúc tiến xuất khẩu là việc hộ trợ, tìm kiếm thị trường cho
hàng hoá xuất khẩu.
Nếu đứng trên góc độ hoạt động thương mại ở các doanh nghiệp thì "xúc
tiến thương mại là hoạt động có chủ đích trong hoạt động Marketing của các
doanh nghiệp nhằm tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ
thương mại”. Xúc tiến thương mại ở các doanh nghiệp bao gồm các hoạt động
chính như: Quảng cáo, khuyến mãi, hội chợ, triển lãm bán hàng trực tiếp, quan
hệ công chúng và các hoạt động khuyếch trương khác.
Tuy nhiên đề tài này nghiên cứu hoạt động xúc tiến thương mại của các tổ
chức xúc tiến thương mại mà cụ thể là phòng thương mại và công nghiệp Việt
Nam nên khái niệm xúc tiến thương mại ở đây phải hiểu theo nghĩa rộng vừa
mang tầm vĩ mô và vi mô đã được nêu ở trên theo luật thương mại do quốc hội
nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua.
2.Vai trò của các tổ chức xúc tiến thương mại.
Căn cứ vào mức độ nhìn nhận (tầm vĩ mô hay vi mô) người ta xác định
khái niệm, nội dung của công tác xúc tiến thương mại. Dù là một doanh nghiệp
(tham gia thương mại hàng hoá , hoặc thương mại dịch vụ) hay một xã,
phường, tỉnh, một bộ,một ngành, một hiệp hội ngành nghề, một quốc gia, một
khối liên kết kinh tế... dù là nền kinh tế phát triển hay đang phát triển thì trong
lĩnh vực thương mại đều thấy sự hiện diện của xúc tiến thương mại.
Cùng với sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật đặc biệt là sự phát triển "vũ bảo"
của kỹ thuật công nghiệp thông tin và ngành điện tử thương mại thế giới đã đi
theo một chiều hướng mới không thể đảo ngược. Đó là xu hướng quốc tế hoá,
toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại. Sự phát triển của quốc tế hoá, toàn cầu
hoá và tự do hoá thương mại là sản phẩm của quá trình cạnh tranh và hợp tác
giữa do con người tạo ra nhưng đồng thời chính con người ở tất cả quốc gia
qua đã phá vỡ nhiều tư duy cổ truyền thương mại ngày nay không chỉ bó hẹp
vào các hình thức truyền thống mà chẳng bao lâu nữa vào thế kỷ 21, kỹ thuật
thương mại sẽ có sự thay đổi lớn với sự sử dụng rộng rãi các phương tiện
thông tin như: Internet, hệ kết nối, hệ kết nối mạng máy tính điện tử...
Chính trong môi trường như vậy, phần lớn các cộng đồng doanh nghiệp ở
những nước đang phát triển với nhiều lý do khác nhau trong đó chủ yếu là do
mức độ phát triển kinh tế của từng quốc gia đã không thể tự mình tăng được
khối lượng xuất khẩu. Chính phủ phải bằng nhiều cách cung cấp cho các cộng
đồng này những trợ giúp về nghiệp vụ và thúc đẩy hoạt động hổ trợ xúc tiến
cho các doanh nghiệp.
Nếu xét về hình thức và nội dung hoạt động của từng cơ quan xúc tiến
thương mại nhiều khi ta thấy các hoạt động giống nhau hoặc trùng lặp. Song
nếu dùng tổng thể ta thấy được sự khác biệt về bản chất giữa các cơ quan xúc
tiến thương mại của chính phủ và phi chính phủ (đặc biệt là Phòng Thương
mại và Công nghiệp Việt Nam ). Các phòng thương mại là các tổ chức tự
nguyện, các hoạt động không thể dựa vào ngân sách và dựa vào phí hội viên
mà các dịch vụ phòng thương maị và công nghệ Việt Nam đại diện cho quyền
lợi của từng doanh nghiệp. Chiến lược phát triển của nó không bị ràng buộc
bởi chiến lược kinh tế nói chung. Như vậy không phải khi nào các hoạt của
VCCI cũng phù hợp xúc tiến thương mại của quốc gia. Các cơ quan này hoạt
động theo pháp luật và không có cơ quan chủ quản. Như vậy để thực hiện mục
tiêu quốc gia các nước và cộng đồng quốc tế đã thành lập cơ quan xúc tiến
thương mại quốc tế và quốc gia. Khi nền kinh tế phát triển, các cơ quan xúc
tiến thương mại có vai trò như những công cụ để thực hiện mục tiêu chiến
lược. Các cơ quan xúc tiến thương mại chính phủ như xương sống của hệ
thống xúc tiến thương mại, có vai trò chủ đạo trước cơ quan phi chính phủ và
chính phủ nhỏ hơn. Điều này khẳng định vai trò quản lý và điều tiết của nhà
nước trong cơ chế thị trường.
3. Chức năng của các tổ chức xúc tiến thương mại.
Các hoạt đỗng xúc tiến thương mại có thể được thực hiện bởi nhiều tổ
liệu thương mại.
- Tổ chức hướng dẫn và hỗ trợ doanh nghiệp: Tổ chức, hướng dẫn và hỗ trợ
các doanh nghiệp tham gia triển lãm, hội chợ quảng cáo, khuyến mãi trong nước
và quốc tế tạc điều kiện thuận lợi cho các nhà sản xuất, các công ty thương mại
giới thiệu một cách có hiệu quả sản phẩm của họ ra thị trường trong và ngoài
nước dưới nhiều hình thức như tổ chức các trung tâm giới thiệu sản phẩm, tuần
lề giao dịch thương mại, toạ đàm và giao lưu thương mại, giới thiệu sản phẩm
qua mạng...
- Tổ chức các trung tâm thương mại ở nước ngoài: Giúp đỡ hướng dẫn
doanh nghiệp trong nước thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh hoặc thành
lập công ty Việt Nam ở nước ngoài hoặc cửa hàng giới thiệu sản phẩm.
- Nghiên cứu, tổ chức thực hiện và giới thiệu: Nghiên cứu, tổ chức thực
hiện và giới thiệu các hình thức thương mại mới như thương mại điện tử hoặc
đặt hàng qua bưu điện nhằm từng bước hiện đại hoá nền thương mại trong
nước theo kịp với tiến bộ kỷ thuật thương mại thế giới.
- Điều tra, thu nhập ý kiến, nguyện vọng của các doanh nghiệp trong nước
và doanh nghiệp nước ngoài, từ đó đề xuất kiến nghị với cơ quan hữu quan
của chính phủ về các chính sách quản lý kinh tế thương mại nhằm khai thác tối
đa tiềm năng của các doanh nghiệp, đảm bảo cho thị trường luôn sôi động,
động thời cơ quan xúc tiến thương mại cũng là một trong những công cụ của
nhà nước để chuyển tải và quán triệt đường lối, chính sách quản lý kinh tế
thương mại cho cộng đồng doanh nghiệp.
- Huấn luyện và đào tạo: Tổ chức các chương trình tập huấn ngắn ngày
cho doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế theo hướng hiện đại hoá kỷ
thuật thương mại và cập nhật thông tin mới về thị trường, kỹ năng quản lý,...
nhằm từng bước xây dựng đội ngũ doanh nhân Việt Nam có bản lĩnh kinh
nghiệm và kiến thức đáp ứng được những đòi hỏi cấp bách hiện nay đối với
các doanh nghiệp trong nước trước trào lưu quốc tế hoá và cạnh tranh quốc tế
ngày càng mạnh và gay gắt.
- Tham gia các hoạt động chung: Tham gia các hoạt động chung về xúc tiến
chuyện trao đổi đối với người tiêu dùng, các đại lý, các chuyên gia và các đối thủ
cạnh tranh.
+ Đánh giá và lựa chọn phương án thông tin: Người đăng quảng cáo cần
đánh giá thông tin trên cơ sở các phương án thông tin có thể có để chọn ra
thông điệp có hiệu quả nhất.
+ Thực hiện thông tin: Mức độ tác động của thông tin không chỉ phụ
thuộc vào nội dung truyền đạt mà còn phụ thuộc vào cách truyền đạt. Người