Lý thuyết chung về marketing và hoạt động tiêu thụ sản phẩm - Pdf 64

Lý thuyết chung về marketing và hoạt động tiêu thụ sản phẩm
I. MARKETING, BẢN CHẤT VÀ NỘI DUNG CỦA MARKETING TRONG HOẠT
ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH.
1. Một số quan niệm về marketing hiện đại.
1.1. Khái niệm cơ bản về marketing hiện đại:
Marketing đã từng được hiểu là "tiếp thị", "bán ra thị trường", "phát triển
thị trường", "làm thị trường"..., nhưng ngày nay marketing hiện đại không còn
chỉ được hiểu một cách đơn giản như vậy mà người ta đều thống nhất rằng
marketing như là một khoa học nghiên cứu về thị trường nhằm mục đích chỉ
ra cho các công ty, xí nghiệp thậm chí cả các tổ chức phi lợi nhuận đạt được
hiệu quả cao nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Tuy vậy
đứng dưới những góc độ khác nhau các nhà kinh tế, các nhà kinh doanh có
những tiếp cận khác nhau về marketing.
Theo Hiệp hội Marketing của Mỹ AMA (American Marketing Association):
Marketing là thực hiện các hoạt động kinh doanh nhằm hướng vào dòng
chuyển vận hàng hóa và dịch vụ từ người sản xuất tới người tiêu thụ hoặc
người sử dụng.
Định nghĩa của J. Landrevie, D. Lindon, R. Laufer:
Marketing là toàn bộ những phương tiện mà các doanh nghiệp sử dụng
để xây dựng, bảo vệ và phát triển thị trường của họ.
Định nghĩa J. J Lambin:
Marketing, đó là quảng cáo, là kích động, là bán hàng bằng gây sức ép tức
là toàn bộ những phương tiện bán hàng đôi khi mang tính chất tấn công được
sử dụng để chiếm thị trường hiện có. Marketing cũng là toàn bộ những công cụ
phân tích, phương pháp dự toán và nghiên cứu thị trường được sử dụng nhằm
phát triển cách tiếp cận những nhu cầu và yêu cầu.
Định nghĩa của D. Lerue và A. Caillat:
Marketing là toàn bộ những hoạt động trong nền kinh tế thị trường nhằm
khuyến khích, khêu gợi, làm nảy sinh những nhu cầu của người tiêu dùng về
một loại sản phẩm và dịch vụ nào đó; thực hiện sự thích ứng liên tục của bộ
máy sản xuất và bộ máy thương mại của một doanh nghiệp đối với những nhu

một trong 4 cách để người ta có được sản phẩm:
1/ Cách thứ nhất là sự sản xuất. Trong trường hợp này không có thị
trường và cũng không có marketing.
2/ Cách thứ hai là cưỡng đoạt: trộm, cắp, cướp giật ... Cách này bị luật
pháp nghiêm cấm.
3/ Cách thứ ba là đi xin.
4/ Cách thứ tư là trao đổi: trao đổi là quá trình, chỉ xảy ra khi có
các điều kiện:
- Ít nhất phải có hai bên.
- Mỗi bên phải có một thứ gì đó có thể có giá trị đối với bên kia.
- Mỗi bên đều có khả năng giao dịch và chuyển giao hàng hóa hoặc một
thứ gì đó của mình.
- Mỗi bên đều mong muốn trao đổi và có quyền tự do chấp nhận hay
khước từ đề nghị của bên kia.
- Hai bên thỏa thuận được những điều kiện trao đổi.
* Giao dịch (Transactions). Nếu trao đổi là quan niệm cốt lõi của tiếp thị,
thì giao dịch là đơn vị đo lường của tiếp thị. Giao dịch bao hàm một cuộc trao
đổi đi, lấy lại các giá trị giữa hai bên tham gia.
Một cuộc giao dịch có liên quan đến ít nhất 2 vật có giá trị, những điều
kiện được thỏa thuận, một thời điểm phù hợp, một thời điểm phù hợp. Thường
là có một hệ thống pháp lý phát sinh để hỗ trợ và ràng buộc các bên giao dịch
phải làm đúng theo.
* Thị trường (Markets):
+ Thị trường là tập hợp tất cả các người mua thực sự hay người mua
tiềm tàng đối với một sản phẩm.
+ Hoặc thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm năng cùng chia
sẻ một mong muốn hay nhu cầu đặc biệt nào đó, họ có thể sẵn lòng và có khả
năng cam kết trao đổi để thỏa mãn cái mong muốn hay nhu cầu đó.
Về nguồn gốc thì thuật ngữ thị trường (chợ) để chỉ nơi mà ở đó người
mua và người bán tụ họp để trao đổi hàng hóa. Các nhà kinh tế dùng thuật

từng bước được ứng dụng trong các ngành kinh tế, quản trị doanh nghiệp,
quản trị kinh doanh thương mại, ngoại thương, du lịch, ngân hàng, bảo hiểm ...
Marketing ngày càng trở thành một lĩnh vực, hoạt động quan trọng không
ngừng được mở rộng không những trong các ngành kinh tế mà lan nhanh
sang một số lĩnh vực xã hội ở Việt Nam.
Tuy vậy, hoạt động marketing ở Việt Nam mới dừng lại ở một số hoạt
động riêng lẻ chưa mang tính chất hệ thống, chưa được coi như một chiến
lược với mục tiêu cụ thể với những phương thức áp dụng hữu hiệu trong
sản xuất kinh doanh.
1.2.2. Vai trò, chức năng của marketing trong quản lý kinh tế:
Ngày nay, quản trị marketing là chủ đề cho việc tăng trưởng về lợi ích ở
mọi tầm cỡ và trong mọi loại tổ chức ở bên trong, bên ngoài khu vực kinh
doanh và trong mọi loại quốc gia.
Trong lĩnh vực kinh doanh, marketing đã đi vào ý thức của các công ty
vào những thời điểm khác nhau.
Marketing cũng có vai trò đặc biệt quan trọng với quản lý kinh tế vĩ mô.
Song marketing có vai trò to lớn đối với quản lý kinh tế vi mô. Thị trường là
đối tượng và là căn cứ quan trọng của quản lý vĩ mô. Thông qua thị trường để
Nhà nước điều tiết sản xuất. Muốn hiểu thị trường phải nghiên cứu nó qua lý
luận của marketing. Marketing là một trong những môn học quan trọng để
thực hiện yêu cầu của chúng đối với quá trình tái sản xuất hàng hóa là năng
suất, chất lượng và hiệu quả.
Ngày nay, các công ty không thể tồn tại đơn giản chỉ bằng việc làm tốt
công việc của mình mà còn thực hiện marketing như là chức năng của công
ty bao gồm việc xác định các mục tiêu về khách hàng và cách tốt nhất để
thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của họ một cách có tính cạnh tranh và có
khả năng sinh lợi nhuận.
Chức năng của marketing là những tác động vốn có bắt nguồn từ bản
chất khách quan của marketing đối với quá trình tái sản xuất hàng hóa bao
gồm: chức năng làm thích ứng sản phẩm với nhu cầu thị trường. Marketing có

trí cao nhất trong chiến lược của công ty. Lý do thật đơn giản: muốn tồn tại và
phát triển doanh nghiệp phải bán được hàng.
* Chỉ sản xuất và kinh doanh cái thị trường cần chứ không sản xuất kinh
doanh cái mình sẵn có, hay nói cách khác sản xuất kinh doanh phải đáp ứng
nhu cầu đánh đúng tâm lý của người tiêu dùng. Coi "khách hàng là Thượng
đế". Cần tuân thủ 2 nguyên lý: "1 - Trong mọi trường hợp khách hàng luôn
luôn đúng; 2 - Nếu sai hãy xem lại điều 1". Chân lý thật dễ hiểu: "Mồi câu
phải phù hợp với khẩu vị của cá chứ không phải phù hợp khẩu vị của người đi
câu".
* Muốn biết thị trường cần cái gì, người tiêu dùng cần cái gì thì phải tổ
chức nghiên cứu tỷ mỉ và phải có những phản ứng linh hoạt.
* Marketing đi liền với tổ chức và quản lý, marketing đòi hỏi phải đưa ra
nhanh tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất và kinh doanh của doanh
nghiệp.
1.2.4. Marketing trong kinh doanh và marketing xã hội:
Marketing ngày nay đã phát triển ở trình độ cao, nó không dừng ở lĩnh
vực thương mại mà đã đi sâu ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống.
Có thể chia các lĩnh vực của marketing thành 2 nhóm:
a/ Marketing thuộc lĩnh vực kinh doanh (Business Marketing).
Là lĩnh vực marketing liên quan đến sản xuất hàng hóa và dịch vụ nhằm
thu lợi nhuận, bao gồm rất nhiều lĩnh vực: marketing công nghiệp; marketing
thương mại; marketing nội địa; marketing xuất khẩu; marketing quốc tế;
marketing dịch vụ (du lịch, khách sạn, nhà hàng); marketing theo từng loại
hàng hóa; chính sách sản phẩm của doanh nghiệp; marketing trong phân phối,
chính sách giá cả, chính sách khuyến mại; nghiên cứu, đào tạo về công nghệ
quảng cáo ...
Ngoài ra còn chia ra marketing hàng tiêu dùng, marketing thiết bị máy
móc, marketing nông nghiệp, ... marketing không chỉ dừng lại ở một môn học
mà đã phát triển thành một ngành hoặc chuyên ngành đào tạo.
Theo thời gian và theo mức độ hoàn hiện của marketing còn có marketing

Marketing - Mix (Marketing hỗn hợp) là sự phối hợp hay sắp xếp các
thành phần của marketing sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế sản xuất
kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Nếu sự sắp xếp, phối hợp này tốt thì sự làm
ăn của doanh nghiệp sẽ thành đạt và phát triển. Marketing - Mix là tập hợp các
công cụ về marketing mà một công ty sử dụng để theo đuổi các mục tiêu của
nó về marketing trên thị trường có mục tiêu.
Có hàng hoạt các công cụ của marketing - mix, Mc Canthy đã phổ biến 4
yếu tố để phân loại các công cụ này gọi là 4P (hình I-1): Sản phẩm (Product),
Giá cả (Price), Phân phối (Place), Xúc tiến bán hàng (Promotion).
Nội dung chủ yếu của các chính sách này là:
* Chính sách sản phẩm: đó là việc xác định các đặc tính của từng hàng
hóa, bao gồm hàng hóa và dịch vụ (chủng loại, kiểu dáng, tính năng, tác dụng;
các chỉ tiêu chất lượng; màu sắc, thành phần; nhãn hiệu; bao bì; chu kỳ sống
của sản phẩm; sản phẩm mới).
* Chính sách giá (giá cả, giá bán): là việc quy định vùng hoặc biên độ
của giá từng hàng hóa, như: lựa chọn chính sách giá và định giá; nghiên cứu
chi phí sản xuất kinh doanh làm cơ sở cho việc định giá; nghiên cứu giá cả
hàng hóa cùng loại trên thị trường; nghiên cứu cung - cầu và thị hiếu khách
hàng để có quyết định về giá hợp lý; chính sách bù lỗ; bán phá giá; điều
chỉnh giá và giảm giá.
* Chính sách phân phối: là việc lựa chọn chu trình và các kênh phân phối
nhằm đưa sản phẩm đến tay người tiêu người tiêu dùng, gồm: kênh phân phối
hàng hóa; mạng lưới phân phối; vận chuyển và dự trữ hàng hóa; tổ chức hoạt
động bán hàng; các dịch vụ sau khi bán hàng (lắp đặt, bảo hành, cung cấp phụ
tùng ...); trả lương cho nhân viên bán hàng; trưng bày và giới thiệu hàng hóa.
* Xúc tiến bán hàng: là việc lựa chọn các phương tiện chủ yếu thông tin để
gây ảnh hưởng đến khách hàng. Đặc biệt là việc quy định ngân sách giao tiếp
và khuếch trương, lựa chọn các phương tiện thông tin và yểm trợ, quảng cáo,
lựa chọn các trục và chủ đề quảng cáo.
Những chính sách này không phải được xác định biệt lập với nhau. Để các

Xác định
nhu cầu cho DN
Thị trường
Chính sách sản phẩm của DN
Đưa ra thị trường
Giá
Xúc tiến bán
Phân phối
Sản xuất
Hình I-2: Quá trình marketing
Mục tiêu của quản trị marketing: (3C)
- Thỏa mãn các nhu cầu và mong muốn của khách hàng (Customer - C1).
Làm cho khách hàng hài lòng; làm cho khách hàng trung thành; thu hút
thêm khách hàng mới.
- Giành thắng lợi trong cạnh tranh (Competition - C2) - Hấp dẫn khách hàng
bằng cái mà các đối thủ cạnh tranh không có; theo dõi chặt chẽ các đối thủ cạnh
tranh; đánh bại các đối thủ cạnh tranh trong các lĩnh vực có tính chất quyết định
nhất.
- Đạt được lợi nhuận cao về lâu dài cho công ty (Company - C3) - Đạt
được lợi nhuận cao; bảo đảm duy trì được mức lợi nhuận về lâu dài chứ không
coi trọng lợi nhuận ngắn hạn, trước mắt.
2.3. Các mục tiêu của hoạt động marketing.
Chúng ta biết rằng marketing ảnh hưởng tới mọi người trên thế giới. Mỗi
người mua, bán và dân chúng nói chung có các yêu cầu, đòi hỏi khác nhau đối
với hệ thống marketing của các doanh nghiệp.
+ Mong muốn của người mua: người mua mong muốn các nhà sản xuất
kinh doanh cung cấp các sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao với giá cả hợp
lý tại các địa điểm bán hàng thuận tiện nhất. Đa dạng về hàng hóa và kiểu
dáng, nhân viên bán hàng chu đáo và trung thực v.v...
+ Mong muốn của người sản xuất và kinh doanh: người sản xuất và kinh

khi nào bán với giá bao nhiêu, địa điểm bảo hành, các dịch vụ bán hàng ?
Sự ra đời của các hoạt động marketing là nhằm làm cho Cung hiểu được
Cầu và làm cho Cung và Cầu ăn khớp với nhau, làm giảm bớt những cách ly về
không gian, về thời gian và về thông tin.
3.1. Nhu cầu của người tiêu dùng:
Người tiêu dùng đặt ở vị trí trung tâm của hoạt động marketing. Một
trong những quy tắc quan trọng của sản xuất kinh doanh là phải đáp ứng nhu
cầu của người tiêu dùng. Vì vậy nghiên cứu về người tiêu dùng sẽ góp phần
vào sự thành công trong kinh doanh của doanh nghiệp.
Như trên đã chỉ ra: nhu cầu (Needs) là một cảnh giác về sự thiếu hụt
một cái gì đó mà con người cảm nhận được. Nhu cầu này không phải do xã
hội hay người làm marketing tạo ra. Chúng tồn tại như một bộ phận cấu
thành của con người.
Abraham Maslow đã xây dựng hình - tháp nhu cầu, theo thứ tự chân pháp
là nhu cầu đầu tiên, nhu cầu tối thiểu của con người, đó là nhu cầu về ăn, uống,
mặc ... Đỉnh tháp là những nhu cầu cao nhất.
NC
nhóm 5
Nhu cầu
nhóm 4
Nhu cầu nhóm 3
Nhu cầu nhóm 2
Nhu cầu nhóm 1
Hình: I-3: Tháp nhu cầu của A - Maslow
Động cơ thúc đẩy tiêu dùng. Động cơ là một trạng thái căng thẳng thúc
đẩy cá nhân làm một cái gì đó để giảm bớt cảm giác thiếu thốn, tức là có thể
làm thỏa mãn một nhu cầu. Động cơ tích cực sẽ thúc đẩy tiêu dùng còn động cơ
tiêu cực sẽ là một phanh hãm. H. Joannis phân chia 3 loại động cơ tích cực:
 Động cơ hưởng thụ;
 Động cơ dâng hiến;

một nhiệm vụ vô cùng quan trọng đối với những người làm marketing.
Hành vi mua của người tiêu dùng bao gồm:
 Lựa chọn loại hàng hóa; lựa chọn kiểu dáng, nhãn hiệu, màu sắc; kích
thước, tính năng - tác dụng, chất lượng, bao bì ...
 Lựa chọn nơi mua hàng hóa;
 Lựa chọn số lượng mua;
 Lựa chọn thời gian;
 Lựa chọn người bán ...
Hành vi mua của người tiêu dùng chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố:
 Nhóm các yếu tố kích thích của marketing: chất lượng sản phẩm và
dịch vụ, giá cả, địa điểm bán hàng (mạng lưới phân phối), quảng cáo và
khuyến mại, các dịch vụ sau khi bán hàng (vận chuyển, thanh toán, bảo hành,
lắp đặt, bảo trì, cung cấp phụ tùng ...);
 Nhóm các nhân tố kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hóa, xã hội;
 Nhóm các nhân tố về bản thân người mua và gia đình của người mua
(giới tính, tuổi, thu nhập, trình độ học vấn, nghề nghiệp, quan hệ trong gia đình...);
 Nhóm các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình đi tới quyết định mua: hoàn
cảnh, điều kiện, quan hệ bạn bè ...
Quá trình mua bắt đầu người mua ý thức được vấn đề hay nhu cầu. Nhu
cầu có thể bắt nguồn từ những kích thích nội tại và kích thích từ bên ngoài.
Phản ứng sau khi mua hàng của người tiêu dùng:
Sau khi mua hàng người tiêu dùng có thể hài lòng hoặc không hài lòng về
chúng. Nếu hài lòng, người tiêu dùng sẽ mua nữa khi có dịp. Ngoài ra người
tiêu dùng hài lòng thích chia sẻ những ý kiến nhận xét tốt đẹp về hàng hóa đó
với những người khác. Đúng như các chuyên gia về marketing đã nói: "Khách
hàng hài lòng là cách quảng cáo tốt nhất của chúng ta".
Người tiêu dùng không hài lòng sẽ phản ứng khác. Một số người thì im
lặng không nói gì. Nhiều người sẽ không sử dụng hàng hóa, trả lại người bán,
đòi bồi thường, gửi đơn khiếu nại đến công ty hoặc kiện đòi bồi thường ...
4. Phân đoạn thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu.

chú ý thị trường phải gắn với một loạt hàng hóa cụ thể nào đó.
Các chức năng của thị trường:
Thị trường có 4 chức năng chủ yếu:
a/ Chức năng thừa nhận: Thị trường thừa nhận chính là người mua chấp
nhận mua hàng hóa và do đó hàng hóa bán được.
b/ Chức năng thực hiện: Thị trường là nơi thực hiện trao đổi hàng hóa,
thực hiện cân bằng cung cầu, thực hiện giá trị của hàng hóa thông qua giá cả.
c/ Chức năng điều tiết và kích thích: Thị trường thông qua các quy luật
kinh tế sẽ điều tiết sản xuất, thu hút vốn đầu tư vào các ngành sản xuất kinh
doanh có lợi nhuận cao, điều tiết quá trình lưu thông hàng hóa, điều tiết giá
cả; kích thích các nhà sản xuất kinh doanh tiết kiệm chi phí, nâng cao chất
lượng hàng hóa và dịch vụ.
d/ Chức năng thông tin: Trên thị trường có rất nhiều mối quan hệ về kinh tế
- chính trị - văn hóa - xã hội. Thị trường cho ta biết nhiều thông tin phục vụ cho
hoạt động và xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh như thông tin về số lượng
cung cầu, giá cả từng loại hàng hóa, hướng vận động của từng loại hàng hóa, các
đối thủ cạnh tranh, yêu cầu về số lượng và chất lượng hàng hóa, thị hiếu tiêu
dùng ...
4.2. Phân đoạn thị trường:
Phân đoạn thị trường còn gọi là phân khúc hoặc cắt lát thị trường.
Phân đoạn thị trường là tiến hành phân chia thị trường thành những bộ
phận người tiêu dùng theo một số tiêu chuẩn nào đó trên cơ sở những quan
điểm khác biệt về nhu cầu, ví dụ phân chia theo lứa tuổi, theo giới tính, theo
thu nhập, theo nghề nghiệp, theo nơi cư trú ...
Đoạn thị trường (hoặc khúc thị trường) là một nhóm người tiêu dùng có
phản ứng như nhau đối với cùng một tập hợp những kích thích của marketing.
Thực chất của phân đoạn thị trường là tiến hành phân chia thị trường
thành một số đơn vị nhỏ (đoạn hay khúc) khác biệt nhau. Mỗi đoạn thị trường
có tính chất đồng nhất. Qua phân đoạn thị trường các doanh nghiệp mới có thể
xây dựng chiến lược marketing của mình một cách đúng đắn.

3* Các loại hoạt động marketing có hiệu quả hơn ở mỗi đoạn thị trường đã được
nghiên cứu sâu sắc;
Các doanh nghiệp có thể đồng thời kết hợp nhiều tiêu chuẩn để tiến hành
phân đoạn thị trường.
4.3. Lựa chọn thị trường mục tiêu:
Thị trường mục tiêu bao gồm một nhóm khách hàng (cá nhân và tổ chức)
mà chương trình marketing của người bán hàng hóa nhằm vào. Một công ty
có thể có một hay nhiều thị trường mục tiêu.
Việc lựa chọn các đoạn thị trường mục tiêu cần tính đến các yếu tố sau
đây:
 Khả năng tài chính của công ty: Nếu khả năng tài chính có hạn thì
hợp lý nhất là tập trung vào một đoạn thị trường nào đó (chính lược
marketing tập trung);
 Đặc điểm về sản phẩm: Công ty có thể chiếm lĩnh tất cả các đoạn thị
trường (chiến lược marketing không phân biệt) với những sản phẩm đơn điệu
như trái bưởi hay thép. Đối với những mặt hàng có thể khác nhau về kết cấu,
như máy ảnh, ôtô, xe máy ... thì chiến lược marketing tập trung (hay còn gọi là
chiến lược marketing có phân biệt) là phù hợp hơn.
 Chu kỳ của sản phẩm: Khi công ty đưa một sản phẩm mới ra thị trường
thì chỉ nên chào bán một phương án sản phẩm mới. Có thể sử dụng chiến lược
marketing không phân biệt hay marketing tập trung.
 Mức độ đồng nhất của thị trường: Nếu người mua đều có thị hiếu như
nhau thì họ sẽ mua cùng số lượng hàng hóa trong cùng một khoảng thời gian
và phản ứng như nhau đối với những kích thích về marketing thì nên sử dụng
chiến lược marketing không phân biệt.
 Những chiến lược marketing của các đối thủ cạnh tranh: Nếu các đối
thủ cạnh tranh tiến hành phân đoạn thị trường và có chiến lược marketing
phân biệt cho mỗi đoạn thị trường thì việc sử dụng chiến lược marketing
không phân biệt có thể dẫn đến chỗ tai nạn. Ngược lại nếu đối thủ cạnh tranh
sử dụng chiến lược marketing không phân biệt thì công ty có thể sử dụng chiến

Sản phẩm cụ thể
Lợi ích cơ bản của sản phẩm
Giao hàng
Kiểu dáng
Sản phẩm cốt lõi
Chất lượng
Bảo hành
Hình I-4: Ba mức độ của sản phẩm
Khi tạo ra sản phẩm các doanh nghiệp cần nhận thức đầy đủ về 3 mức độ
của nó nhằm thỏa mãn những mong đợi của người tiêu dùng (Hình I - 4).
Mức 1: Sản phẩm cốt lõi. Đây là phần cơ bản của sản phẩm, gồm những
lợi ích chủ yếu mà người mua nhận được.
Mức 2: Sản phẩm cụ thể. Sản phẩm cụ thể bao gồm 5 yếu tố: những thuộc
tính, kiểu dáng, chất lượng, nhãn hiệu, bao bì.
Mức 3: Sản phẩm phụ gia, đó là những công việc, dịch vụ hoàn chỉnh thêm
để đáp ứng những nhu cầu mong đợi của người tiêu dùng: giao hàng, vận
chuyển hàng tới nhà, lắp đặt, các doanh nghiệp sau khi bán hàng, bảo hành,
thanh toán...
5.1.2. Chu kỳ sống của sản phẩm:
Sản phẩm của doanh nghiệp cũng như con người nó ra đời, phát triển,
trưởng thành và rồi lại bị suy thoái. Không có loại sản phẩm nào tồn tại mãi
mãi, đó là qui luật tất yếu. Quá trình ra đời, phát triển, trưởng thành và suy
thoái của một sản phẩm cho ta hình ảnh về chu kỳ sống của nó.
Trong chu kỳ này thể hiện rõ 4 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Ra đời. Bắt đầu xuất hiện sản phẩm mới trên thị trường. Mức
tiêu thụ tăng chậm. Chi phí sản xuất kinh doanh lớn, lợi nhuận có giá trị âm.
Giai đoạn 2: Phát triển. Hàng hóa được thị trường chấp nhận nhanh
chóng, mức tiêu thụ tăng nhanh, sản xuất kinh doanh bắt đầu có lãi.
Giai đoạn 3: Trưởng thành. Số lượng tiêu thụ đạt tối đa, lợi nhuận cũng
đạt tối đa và bắt đầu giảm. Nhịp độ tiêu thụ chậm dần và bắt đầu giảm do

nào muốn tham gia vào thị trường buôn bán quốc tế đều phải có mã số, mã
vạch.
5.1.4. Bao bì sản phẩm:
Bao bì hàng hóa là một yếu tố không thể thiếu trong tiêu thụ hàng hóa.
Một số loại hàng hóa bao bì lại đóng vai trò quyết định trong việc tiêu thụ và
đồng thời nó cũng thể hiện chất lượng của hàng hóa.
Bao bì hàng hóa có vai trò sau:
 Để bảo vệ, bảo quản, duy trì chất lượng của hàng hóa tránh những tác
động xấu của môi trường;
 Bao bì còn tạo điều kiện cho việc bán hàng theo kiểu tự phục vụ ở các siêu
thị;
 Bao bì hàng hóa tạo điều kiện thuận lợi để vận chuyển hàng hóa;
 Bao bì hàng hóa đẹp có vai trò nâng cao giá trị của hàng hóa, hấp dẫn
người mua, góp phần đầy mạnh tiêu thụ;
 Những người sản xuất bao bì ngày nay cần tính tới vai trò hạn chế ô
nhiễm môi trường và giảm bớt các gánh nặng về rác thải cho các thành phố;
 Bao bì hàng hóa còn phải tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng;
 Bao bì còn là phương tiện để quảng cáo giới thiệu về sản phẩm, hướng
dẫn sử dụng.
5.2. Chính sách giá cả.
5.2.1. Khái niệm và mục tiêu của chính sách giá cả:
Chính sách giá đối với mỗi sản phẩm của các doanh nghiệp kinh doanh là
việc quy định mức giá bán hoặc trong một số trường hợp là những mức giá
bán (khi doanh nghiệp quyết định thay đổi giá cả sản phẩm này theo loại
khách hàng, theo các thời kỳ trong năm, theo số lượng mua ...). Mức giá cần
quy định có thể là mức giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng hoặc cho các
khâu trung gian.
Việc xác định giá cả cho các sản phẩm và dịch vụ là một khâu hết sức
quan trọng trong hoạt động marketing. Theo thông lệ từ xưa thì người mua và
người bán xác định giá trong quá trình thương lượng với nhau. Xưa nay, giá

mức tối đa. Mức sản lượng này thường được xác định bằng quy tắc: tổng

Trích đoạn Một số phương pháp định giá: Vai trò và chức năng của phân phối hàng hóa: Khái niệm và nội dung xúc tiến bán hàng: Nội dung của hoạt động xúc tiến bán hàng trong doanh nghiệp:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status