THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI CHI NHÁNH NHNN VÀ PTNT LÁNG HẠ - Pdf 64

THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI CHI NHÁNH NHNN VÀ
PTNT LÁNG HẠ
2.1 TỔNG QUAN VỀ NHNN&PTNT CHI NHÁNH LÁNG HẠ
2.1.1 Khái quát chung về NHNN&PTNT .
Năm 1988, Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam ra đời theo Nghị định số
53/HĐBT của Hội đồng bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ). Hệ thống
Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển mới, cùng với
các Ngân hàng Thương mại quốc doanh, hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp đã
góp phần không nhỏ đáp ứng yêu cầu cung cấp vốn cho các thành phần kinh tế
trên mọi miền đất nước mà đặc biệt là trong lĩnh vực Nông nghiệp, nông thôn
và nông dân.
Quyết định số 280/QĐ-NHNN ngày 15/11/1996 của thống đốc Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền đôỉ tên Ngân
hàng Nông nghiệp Việt Nam thành Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông
thôn Việt Nam hoạt động theo mô hình tổng công ty 90.
Ngoài chức năng của một Ngân hàng Thương mại, Ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam được xác định thêm nhiệm vụ: Đầu tư
phát triển đối với khu vực nông thôn thông qua việc mở rộng đầu tư vốn trung,
dàI hạn phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn.
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam là Ngân hàng
Thương mại duy nhất có hệ thống mạng lưới rộng khắp tại tất cả các đô thị và
vùng nông thôn.Với công nghệ ngày càng tiên tiến bao gồm hơn 25.000 nhân
viên được đào tạo, hệ thống làm việc ở hơn 1300 Sở giao dịch, Chi nhánh tỉnh,
thành phố, huyện, xã. Kể từ năm 1993 đến nay, Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Việt Nam là Ngân hàng Việt Nam đầu tiên liên tục được kiểm
toán quốc tế do công ty kiểm toán úc Cooper and Lybrand thực hiện và xác
nhận: “Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam là tổ chức
Ngân hàng lành mạnh đáng tin cậy”.
2.1.2 Ngân hàng Nông nghiệp & phát triển nông thôn chi nhánh Láng Hạ
2.1.2.1 Lịch sử hình thành
Ra đời ngày 1/8/1996 theo quyết định số 334/QĐ-NHNN-02 của tổng

Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát
triển nông thôn Láng hạ
( Thời điểm tháng 9/2004)
BAN GIÁM ĐỐC
GIÁM ĐỐC
P, GIÁM ĐỐC Phụ trách kế toán - Ngân quỹ
P, GIÁM ĐỐC
Phòng Kế hoạch
Phòng Thẩm định Phòng Tổ chức cán bộ
Phòng Hành chính nhân sự
Phòng Thanh toán quốc tế
Phòng Kế toán ngân quỹPhòng Kiểm soát nội bộPhòng Tín dụng
2.1.2.3 Những hoạt động chủ yếu của chi nhánh NHNN&PTNT Láng Hạ.
* Hoạt động huy động vốn.
Huy động vốn là một trong những hoạt động quan trọng nhất của hệ
thống Ngân hàng thương maị nói chung và của chi nhánh NHNN&PTNT Láng
Hạ nói riêng. Bởi nguồn vốn kinh doanh chủ yếu của Ngân hàng là nguồn huy
động dưới các hình thức: tiền gửi, tiền vay…do đó hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng phụ thuộc phần lớn vào kết quả của công tác huy động vốn: khả
năng, quy mô vốn huy động, có nghĩa là kết quả huy động vốn quyết định đến
đầu tư, sử dụng vốn .
Trong những năm gần đây, công tác huy động vốn đã được Ngân hàng rất chú
trọng quan tâm, trước đây vốn huy động chủ yếu dùng trong hoạt động tín dụng, thì
nay, nguồn vốn huy động có thể dùng để tiến hành kinh doanh trực tiếp, lợi nhuận của
Ngân hàng không chỉ thu được từ hoạt động đầu tư, cấp tín dụng mà còn thu được từ
hoạt động điều chuyển vốn giữa các Ngân hàng theo quyết định của tổng giám đốc
Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam với mức phí quy định là 0,65%. Có thể nói, chi
nhánh NHNN&PTNT Láng Hạ đã rất quan tâm đến công tác huy động vốn thông
qua việc Ngân hàng đã sử dụng rất nhiều các hình thức huy động, đa dạng về kỳ hạn
và lãi suất… nhằm chủ động thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và tranh thủ

mới phong cách phục vụ, đưa các dịch vụ thu chi đến tận đơn vị (doanh
nghiệp) và đến tận nhà (dân cư).
Trong những năm gần đây, hoạt động tín dụng của Ngân hàng đã có những
bước tăng trưởng cụ thể:
Bảng 2: Dư nợ tín dụng của Ngân hàng.
Đơn vị : Triệu
đồng
Năm
Chỉ tiêu
2002 2003 2004
Tổng dư nợ tín dụng
1.465.840 1.515.047 2.200.112
Tốc độ tăng trưởng định gốc
100% 3.3% 50.1%
Tốc độ tăng trưởng liên hoàn
100% 3.3% 45.2%
( Báo cáo kết quả hoạt động tín dụng năm 2002, 2003,
2004 )
Nhìn vào bảng số liệu, ta thấy hoạt động tín dụng của Ngân hàng trong
2 năm gần đây (2003, 2004) có mức tăng trưởng cao hơn so với năm 2002,
năm 2003 dư nợ tín dụng là 1.515.047 triệu đồng, tăng 3.3% so với năm 2002,
năm 2004 dư nợ là 2.200.112 triệu đồng, tăng 50,1% so với năm 2002 và tăng
45.2% so với năm 2003, đây là một thành công trong hoạt động tín dụng của
Ngân hàng Láng Hạ, dư nợ tín dụng của Ngân hàng tăng trưởng cả về quy mô
lẫn tỷ trọng. Ngoài nguyên nhân chủ quan từ phía Ngân hàng (mở rộng hoạt
động tín dụng, có chính sách lãi suất hợp lý, đa dạng các hình thức cho vay,
hiện đại hoá công nghệ…) còn có sự tác động tích cực của nền kinh tế: hoạt
động sản xuất kinh doanh trên địa bàn có sự tăng trưởng mạnh, nhiều dự án
đầu tư và người dân có sự chuyển hướng trong trồng trọt, sản xuất kinh
doanh, do đó nhu cầu vay vốn trên địa bàn tăng lên, là một chi nhánh tiếp cận

gay gắt giữa các Ngân hàng trên thị trường, hay giữa các Ngân hàng với các
tổ chức tín dụng khác đã buộc các Ngân hàng Thương mại nói chung và chi
nhánh NHNN&PTNT Láng Hạ nói riêng cần phải xây dựng đường lối, chính
sách, phương hướng hoạt động hợp lý từ đó mở rộng và nâng cao hiệu quả
của công tác huy động vốn.
2.2.1. Quy mô nguồn vốn huy động.
Chúng ta hãy xem quy mô nguồn vốn huy động của Ngân hàng nông
nghiệp qua các năm trong bảng dưới đây:
Bảng 3: Tổng vốn huy động của Ngân hàng .
Đơn vị : Triệu đồng
Thời điểm
Nguồn
2002 2003 2004 Kế hoạch 2005
Tổng nguồn vốn h/động 3.811.757 4.029.998 4.469.947 5.450.159
Biến động nguồn vốn h/động 0 218.241 43.949 980.212
% biến động 0 5.7 10.9 21.9
( Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2002, 2003, 2004 ).
Qua bảng trên ta thấy: từ năm 2002-2004 tổng nguồn vốn huy động của
Ngân hàng đã tăng về cả quy mô lẫn tỷ trọng, tuy nhiên sự biến động này là
chưa cao. Năm 2003 tổng nguồn vốn huy động đạt 4.029.998 triệu đồng, tăng
5.7% so với năm 2002. Năm 2004 tổng nguồn vốn đạt 4.469.947, tăng 10.9%
so với năm 2003. Do có chính sách và biện pháp huy động cùng với lãi suất huy
động hợp lý, nên trong 2004 nguồn vốn huy động của Ngân hàng đã tăng lên.
Dự kiến đến năm 2005 Ngân hàng quyết tâm nâng cao hiệu quả công tác huy
động vốn nhằm đạt 5.450.159 triệu đồng tổng nguồn vốn huy động tăng 21.9%
so với năm 2004, để góp phần đáp ứng cho sự phát triển chung của toàn bộ
nền kinh tế.
2.2.2 Cơ cấu nguồn vốn huy động .
Qua số liệu của các năm ta thấy vốn kinh doanh của chi nhánh NHNN&PTNT
Láng Hạ hoàn toàn bằng nguồn vốn huy động.

vốn huy động của Ngân hàng ngày một tăng. Tỷ trọng nguồn vốn huy động từ
các tầng lớp dân cư và từ các tổ chức kinh tế ngày càng tăng, với mức tăng
nhanh và tương đối ổn định.
Xét nguồn vốn huy động từ các tầng lớp dân cư: nếu năm 2002 vốn huy
động đạt 857.645 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 22,5% tổng nguồn vốn huy động;
năm 2003 vốn huy động từ tầng lớp dân cư đạt 1.047.799 triệu đồng, chiếm tỷ
trọng 26% tổng nguồn vốn. Năm 2004 vốn huy động từ dân cư đạt: 1.582.361
triệu đồng chiếm 35,4% tổng nguồn vốn; tăng 724.716 triệu đồng (84.5%) so
với năm 2002; tăng 534.562 triệu đồng (51%) so với năm 2003.
Từ các số liệu trên cho thấy, tốc độ tăng trưởng về quy mô nguồn vốn
huy động từ các tầng lớp dân cư là cao và chiếm tỷ trọng trong tổng nguồn
vốn ngày càng lớn; năm 2002 (22,5%) , năm 2003 (26%), đến năm
2004(35,4%). Với kết quả trên đã chứng minh rằng trong chiến lược huy động
vốn của Ngân hàng, việc tăng cường nguồn vốn huy động từ dân cư có vai trò
quan trọng, bởi trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng, tính ổn định của
nguồn vốn được đánh giá rất cao. Môi trường kinh doanh luôn biến động, sự
ổn định trong nguồn vốn kinh doanh giúp Ngân hàng có thể đề ra các chiến
lược sử dụng vốn hợp lý, hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng
hiệu quả kinh doanh và tăng lợi nhuận.
Ngoài ra, sự gia tăng nguồn vốn huy động từ tầng lớp dân cư cũng đồng
nghĩa với thu nhập của người dân tăng lên và hoạt động chi nhánh
NHNN&PTNT Láng Hạ ngày càng chiếm lòng tin của dân chúng vì nếu người
dân không tin tưởng vào hoạt động của Ngân hàng thì cho dù lãi suất huy
động có cao, công tác huy động vốn cũng không đạt hiệu quả cao.
Ngoài sự tăng trưởng của nguồn vốn huy động từ dân cư thì nguồn vốn
huy động của các tổ chức kinh tế cũng có sự tăng trưởng nhanh. Năm 2002
nguồn vốn huy động từ các tổ chức kinh tế đạt 628.940 triệu đồng, tỷ trọng
16,5% trong tổng nguồn vốn huy động thì đến năm 2003 đạt 737.490 triệu
đồng, tỷ trọng 18,3%; tăng 108.550 triệu đồng (17.2%) so với năm 2002. Năm
2004 huy động từ các TCKT là 1.010.208 triệu đồng, tỷ trọng 22,6%; tăng

cao hiệu quả kinh doanh.
Không chỉ có tỷ trọng nguồn vốn huy động từ các TCTD có xu hướng
giảm mà vốn huy động từ kho bạc Nhà nước cũng giảm .
Năm 2002, vốn huy động từ kho bạc là 647.999 triệu đồng, chiếm 17%
tổng nguồn vốn huy động; năm 2003, đạt 552.110 triệu đồng, tỷ trọng 13,7%;
đến năm 2004 quy mô vốn huy động từ kho bạc Nhà nước là 509.574 triệu
đồng, chiếm tỷ trọng là 11,4%.
Vốn vay của kho bạc Nhà nước là khoản vốn có chi phí tương đối thấp,
có tính ổn định, chủ yếu huy động dưới hình thức hợp đồng tiền gửi, phát hành
kỳ phiếu, tài khoản tiền gửi của kho bạc. Nguồn vốn này có tác động tốt đối với
hoạt động của Ngân hàng, bổ sung vốn cho hoạt động ngân quỹ, bổ sung nguồn
vốn khả dụng cho Ngân hàng và giúp Ngân hàng thực hiện một số hoạt động
kinh doanh khác. Do đó, chi nhánh NHNN&PTNT Láng Hạ cần có biện pháp để
tăng cường vốn huy động từ nguồn này.
Như vậy, về cơ cấu nguồn vốn huy động của chi nhánh NHNN&PTNT
Láng Hạ là tương đối hợp lý, tính ổn định của nguồn vốn tăng dần, Ngân hàng
đã chú trọng quan tâm huy động vốn từ dân cư và các TCKT, tuy nhiên cũng
phải khẳng định nguồn vốn huy động từ các TCTD của Ngân hàng còn chiếm tỷ
trọng cao, vốn huy động từ kho bạc Nhà nước đang có xu hướng giảm, đây
chính là thử thách cho Ngân hàng trong công tác huy động vốn. Chi nhánh
NHNN&PTNT cần có chiến lược huy động vốn đúng đắn, hợp lý nhằm tăng
nguồn vốn huy động trong dân cư, của các TCKT, của kho bạc Nhà nước và
giảm dần nguồn vốn huy động từ các TCTD, nhằm nâng cao hiệu quả huy động
vốn, hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng .
2.2.3 Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng .
Hình thức huy động vốn có lẽ được coi là một chỉ tiêu quan trọng nhất
để đánh giá hiệu quả huy động vốn của một Ngân hàng, đa dạng, phong phú
trong hình thức huy động chính là điều kiện và là yếu tố quan trọng đầu tiên
tác động đến công tác huy động vốn. Hình thức huy động càng đa dạng thì hiệu
quả huy động càng cao, nguồn vốn huy động càng lớn vì không chỉ hoạt động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status