Những biện pháp nhằm điều chỉnh cán cân thanh
toán quốc tế của Việt Nam giai đoạn hiện nay
3.1 Phương hướng điều chỉnh cán cân thanh toán
Các mục tiêu cơ bản của các chính sách kinh tế của một quốc gia là duy trì
được cân đối bên trong và cân đối bên ngoài. Từ trước đến nay các quốc gia
duy trì cân bằng bên trong và coi đó là khởi nguồn để đưa ra các chính sách
kinh tế.
Cân đối bên trong được hiểu là một nền kinh tế đầy đủ việc làm đồng thời
không có lạm phát hay thực tế hơn là một mức lạm phát hợp lý.
Một quốc gia được coi là cân bằng bên ngoài khi nó đảm bảo được cân
bằng cán cân thanh toán. Trong thực tế, các nhà xây dựng chính sách thường
xem xét cân bằng bên ngoài dưới hình thức cán cân bộ phận của cán cân
thanh toán, như cán cân vãng lai. Trong phạm vi này, một quốc gia đảm bảo
cân bằng bên ngoài khi cán cân vãng lai không thâm hụt lớn đến mức mà họ
không có khả năng trả các khoản nợ nước ngoài của họ trong tương lai.
Mặc dù các quốc gia thường duy trì cân bằng bên trong như một ưu tiên
cao nhất, nhưng đôi khi họ vẫn buộc phải thay đổi các ưu tiên khi đối mặt với
những mất cân bằng bên ngoài.
Do khu vực bên trong nền kinh tế gắn bó chặt chẽ với khu vực bên ngoài,
nên các quốc gia không thể lựa chọn các chính sách kinh tế chỉ vì mục tiêu cân
đối bên trong hay chỉ vì mục tiêu cân đối bên ngoài. Những tác động của chính
sách kinh tế được xem xét trong mối quan hệ giữa cân đối bên trong và cân đối
bên ngoài của một nền kinh tế. Chính vì vậy, nhiệm vụ của các biện pháp điều
chỉnh cán cân thanh toán còn phải đảm bảo mục tiêu cân đối bên trong.
Trong nên kinh tế Việt Nam hiện nay, mặc dù không rơi vào tình trạng
khủng hoảng tài chính như một số nước trong khu vực, nhưng nền kinh tế Việt
Nam đang rơi vào giai đoạn trì trệ, tốc độ tăng trưởng kinh tê giảm, đầu tư
giảm, thất nghiệp tăng cao, giá cả có xu hướng giảm...
Bên cạnh đó, cán cân thanh toán của Việt Nam luôn thâm hụt do tài khoản
vãng lai thâm hụt và tài khoản vốn và tài chính không đủ thặng dư để tài trợ
cho thâm hụt của tài khoản vãng lai. Việt Nam đã phải sử dụng những biện
Kinh nghiệm quốc tế được rút ra từ các cuộc khủng hoảng đầu những năm
1980 và trong những năm 1990 đã chỉ ra rằng: "khả năng mất cân đối tài
khoản vãng lai dẫn đến cuộc khủng hoảng bên ngoài phụ thuộc phần lớn vào
đặc điểm kinh tế vĩ mô của nền kinh tế nói chung là, mức tiết kiệm và đầu tư,
mức độ mở cửa, mức độ linh hoạt của tỷ giá, và sự lành mạnh của hệ thống tài
chính".
Tóm lại, mục tiêu cần đạt đến là duy trì cán cân thanh toán lành mạnh tạo
điều kiện cho nền kinh tế hội nhập có hiệu quả vào nền kinh tế thế giới và khu
vực. Điều này cần đòi hỏi phải thực hiện một loạt các giải pháp dài hạn liên
quan đến toàn bộ hệ thống quản lí và điều hành kinh tế vĩ mô .
3.2 Những biện pháp nhằm điều chỉnh cán cân thanh toán Quốc tế của
Việt Nam
Trong hoàn cảnh kinh tế hiện nay, để cải thiện được cán cân thanh toán và
duy trì được khả năng chịu đựng của tài khoản vãng lai đồng thời vẫn đảm
bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm, một mặt chính phủ nên
sử dụng các biện pháp kiểm soát trực tiếp như hạn chế nhập khẩu, khuyến
khích xuất khẩu, thu hút chuyển tiền của người Việt Nam định cư ở nước
ngoài, thu hútcác luồng vốn FDI và ODA..., mặt khác cần sử dụng các biện pháp
vĩ mô như điều chỉnh tỷ giá, tăng tiết kiệm tư nhân, các chính sách tiền tệ và
tài khoá.
Các biện pháp trên khi được phối hợp sử dụng không những đảm bảo cân
đối bên ngoài mà còn đảm bảo cả cân đối bên trong của nền kinh tế trong giai
đoạn hiện nay.
3.2.1 Những biện pháp khuyến khích xuất khẩu
Xuất khẩu giữ vai trò quan trọng trong việc cải thiện sự mất cân đối của
cán cân thanh toán quốc tế. Hơn nữa việc đẩy mạnh xuất khẩu còn làm tăng
khả năng chịu đựng của cán cân vãng lai. Trong giai đoạn hiện nay nhà nước
đã đưa ra định hướng: “Đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là hướng ưu tiên
và là trọng điểm của kinh tế đối ngoại, tạo thêm các mặt hàng xuất khẩu chủ
lực. Nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu trên thị trường. Giảm
năng trung gian làm đại lý dịch vụ cho những nước khác. Nghĩa là Việt Nam
trước mắt chỉ nên phát triển công nghiệp lắp giáp, sửa chữa, dịch vụ tiêu thụ
là chính, không nên đầu tư quá nhiều vào công nghiệp chế tạo vì nó đòi hỏi vốn
lớn và dễ bị lạc hậu. Ngoài ra chúng ta cần chú trọng vào các thị trường dịch
vụ như ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, du lịch, quảng cáo,... vì những ngành
này hỗ trợ đắc lực cho các ngành sản xuất và bản thân nó cũng mang lại thu
nhập cao cho nền kinh tế quốc dân.
B. Huy động và tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tham gia
vào hoạt động xuất khẩu
Trước đây, chỉ có những doanh nghiệp nhà nước mới được quyền hoạt
động xuất khẩu trực tiếp. Cho đến nay, nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi
hơn cho lĩnh vực tư nhân vì đây là lĩnh vực rất nhiều tiềm năng (cụ thể: tỷ
trọng xuất khẩu của khu vực tư nhân năm 1997 tăng 4% đến năm 1999 tăng
14%). Điều này thể hiện: đối với những mặt hàng tác động đến môi trường
sinh thái, hệ sinh thái do Nhà nước công bố danh mục, doanh nghiệp muốn
xuất khẩu phải có giấy phép xuất khẩu. Phần lớn các mặt hàng còn lại của
doanh nghiệp đã đăng kí kinh doanh mặc nhiên được phép xuất khẩu và chỉ
làm thủ tục hải quan. Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có tư
cách pháp nhân hợp lệ đều được tham gia xuất khẩu trực tiếp mà không phân
biệt loại hình doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhà nước phải có sự điều chỉnh đồng
bộ, thực hiện thể chế hoá quan điểm phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần của Đảng, tạo điều kiện hình thành các doanh nghiệp có khả năng cạnh
tranh mạnh trên thị trường quốc tế. Đây cũng là đòi hỏi của việc quản lí
nghiệp vụ kinh doanh, những vấn đề còn lại của cơ chế kinh tế cũ.
C. Thực hiện các biện pháp nhằm xây dựng phát triển thị trường
xuất khẩu cho hàng hoá Việt Nam .
Một chiến lược hướng về xuất khẩu bao giờ cững phải đảm bảo bằng khả
năng thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường. Dưới góc độ quản lý vĩ mô việc mở
rộng quan hệ nước ngoài được thực hiện bằng các biện pháp sau:
- Đàm phán, ký kết các hợp đồng thương mại với các nước bạn hàng, đặc
- Đối với những mặt hàng có hạn ngạch, cam kết số lượng với nước ngoài
bằng các hiệp định như xuất khẩu gạo, hàng dệt may, nhà nước nên tổ chức
đấu giá các hạn ngạch nhằm tránh tình trạng những doanh nghiệp có tiềm
năng xuất khẩu thì không có hoặc có ít hạn ngạch trong khi những doanh
nghiệp không có khả năng thì lại nhận được nhiều hạn ngạch. Nhà nước nên
cho phép chuyển nhượng hạn ngạch để đảm bảo kế hoạch xuất khẩu.
- Huỷ bỏ chế độ chuyên ngành:
Mỗi doanh nghiệp được quyền xuất nhập khẩu đều có quyền kinh doanh các
mặt hàng xuất khẩu (trừ những mặt hàng cấm nhập, cấm xuất).
Những kiến nghị trên tựu trung lại nhằm chuyển hẳn quản lý hành chính
sang quản lý nhà nước bằng công cụ kinh tế và pháp luật. Ngoài ra, để đẩy
mạnh xuất khẩu, nhà nước và các doanh nghiệp cần phải chú trọng đến nâng
cao chất lượng và hình thức sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam, quan tâm đến
đào tạo cán bộ chuyên ngành cũng như ổn định môi trường pháp lý và cải cách
thủ tục hành chính.
3.2.2 Những biện pháp nhằm điều tiết nhập khẩu
Hiện nay, nền kinh tế thế giới đang chịu sự tác động của quá trình toàn cầu
hoá, khu vực hoá. Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập vào xu thế phát
triển chung này nên việc hạn chế nhập khẩu chỉ là một giải pháp ngắn hạn,
mang tính tình thế và khó thực hiện, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam sắp
tham gia vào khu vực mậu dịch tự do AFTA vào năm 2003. Hơn nữa, sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang được tiến hành ở nước ta khiến nhu cầu
nhập khẩu máy móc thiết bị tiên tiến hiện đại, nguyên vật liệu phục vụ cho sản
xuất tăng lên. Trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, nhập siêu là một
tất yếu. Vì vậy, tất cả các biện pháp nhập khẩu là nhằm đạt được một cán cân
thanh toán lành mạnh hơn, hạn chế nhập khẩu những hàng hoá không cần
thiết hoặc có ảnh hưởng xấu đến thị trường nội địa .
A. Điều chỉnh cơ cấu nhập khẩu
Cơ cấu nhập khẩu là tỷ lệ tương quan giữa các nhóm hàng trong toàn bộ
kim ngạch nhập khẩu. Cơ cấu hàng nhập khẩu của nước ta gồm hai nhóm lớn:
ngoài và các dự án ODA. Đối với các dự án FDI việc kiểm tra nhằm tránh tình
trạng nhập khẩu gian lận (chẳng hạn không đúng mặt hàng, chủng loại ghi
trong hợp đồng, hoặc nhập khẩu thiết bị máy móc kém phẩm chất...). Với các
dự án ODA giải pháp này nhằm cho các nguồn vốn vay có thể tái tạo nguồn
ngoại tệ đảm bảo khả năng thanh toán trong tương lai. Những dự án ODA
thường tập trung vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng nên không trực tiếp tạo ra nguồn
hàng xuất khẩu và vì vậy không thể có những ràng buộc như đối với các dự án
FDI. Tuy nhiên cần có những giải pháp quản lý chặt chẽ để thu hồi được vốn
cũng như hướng vào việc đầu tư cho những hạng mục có tác động đến hiệu
quả chung của nền kinh tế .
C. áp dụng các phương pháp đánh thuế và hạn ngạch nhập khẩu.
Đây là một biện được áp dụng rất phổ biến và rất có hiểu quả đối với Việt
Nam. Ngày nay, trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế thế giới, chuẩn bị gia
nhập AFTA... biện pháp này không còn phát huy hiệu lực trong việc hạn chế
nhập khẩu. Tuy nhiên, đối với những mặt hàng cần được bảo hộ, nhà nước cần
quy định thêm một loạt các khoản thu bổ sung có chức năng như một biện
pháp phụ nhằm hạn chế nhập khẩu mà vẫn không trái với những cam kết giảm
thuế suất theo hiệp định thương mại mà nước ta đã ký kết.
3.2.3 Biện pháp thu hút chuyển tiền nước ngoài.
Qua bảng chuyển giao vãng lai của Việt Nam giai đoạn 1990-1999 ta thấy
vai trò quan trọng của lượng kiều hối, đặc biệt ở khu vực tư nhân, trong việc
bù dắp thâm hụt cán cân thanh toán. Việc thu hút kiếu hồi từ những người Việt
Nam sống ở nước ngoài là một yêu cầu cụ thể và cần được thực hiện bằng
cách :
- Nhà nước cần có chính sách về tỷ giá giúp đỡ thân nhân của họ trong việc
đầu tư sản xuất kinh doanh để hướng việc chuyển kiều hồi về nước bằng con
đường chính thức cũng như loại bỏ những thủ tục phiền hà trong việc chuyển
và tiếp nhận kiếu hồi .
- Hướng việc chuyển kiếu hồi vào đầu tư tăng trưởng bằng các chính sách
ưu đãi đầu tư. Khuyến khích tiết kiệm tiêu dùng, gửi tiền tiết kiệm mua cổ
Domar cho rằng quan hệ thuận giữa tốc độ tăng trưởng tiền tiết kiệm (s) và
tăng trưởng sản lượng (g) qua phương trình g=s/k, trong đó k là tỷ lệ giữa
vốn và sản lượng quốc dân. Nếu tốc độ tăng trưởng sản lượng quốc dân mong
muốn (g) được đặt ở mức 7% và tỷ lệ vốn/sản lượng là 3, thì tỷ lệ tiết kiệm
cần có là 21%. Nếu chỉ có thể huy động tiền tiết kiệm trong nước được chẳng
hạn là 16%, thì một khoảng thiếu hụt tiết kiệm bằng 5%. Để đạt được tốc độ
tăng trưởng kinh tế như mục tiêu đã đề ra thì quốc gia này cần phải thu hút
nguồn lực tài chính nước ngoài. Như vậy, một đóng góp quan trọng của đầu tư
nước ngoài đối với phát triển quốc gia (về mặt tốc độ tăng trưởng GDP) là vai
trò của nó trong việc bù đắp khoảng thiếu hụt nguồn lực giữa đầu tư đạt mục
tiêu và tiền tiết kiệm huy động trong nước.
Đóng góp thứ hai của vốn đầu tư nước ngoài là sự đóng góp của nó vào việc
bù đắp sự thiếu hụt giữa nhu cầu ngoại hối cần có và các khoảnthu từ xuất
khẩu cộng với khoản viện trợ nước ngoài thực có. Đây là cái được gọi là thiếu
hụt mậu dịch hay ngoại hối. Dòng vào của đầu tư trực tiếp nước ngoài không
những có thể xóa bỏ một phần hay toàn bộ thiếu hụt theo thời gian nếu đâù tư
trực tiếp nước ngoài tạo ra nguồn thu nhập ngoại tệ thực. Nhưng đáng tiếc,
trong trường hợp đầu tư trựctiếp nước ngoài nhằm sản xuất thay thế hàng
nhập khẩu, tác động toàn bộ của việc cho phép thành lập các xí nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài đằng sau bức tường thuế quan và hạn ngạch bảo hộ
thường làm tồi tệ hơn cả số dư tài khoản vãng lai lẫn tài khoản vốn. Những
thiếu hụt đó thường gây ra bởi cả việc nhập khẩu thiết bị sản xuất và sản
phẩm trung gian và việc chuyển ngoại tệ ra nước ngoài dưới hình thức chuyển
lợi nhuận, phí quản lý, thanh toán tiền bản quyền sáng chế và tiền gốc và lãi
đối với các khoản vay tư nhân.
Khoản thiếu hụt thứ ba được bù đắp bởi đầu tư nước ngoài là khoảng
trống giữa thu nhập từ thuế theo dự định và số thuế thu được trong nước.
Bằng việc đánh thuế đối với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chính phủ
có nhiều khả năng hơn trong việc huy động nguồn tài chính cho các dự án phát
triển.
1146
3897
875
1567
641
1600
600
Nguồn: vneconomy.com.vn
Sau đây là những giải pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài :
1.Cải thiện môi trường đầu tư
Việc cải thiện môi trường đầu tư đang đặt ra cho nhà nước nhiều vấn đề
cần nghiên cứu, để chúng ta tranh thủ nhiều vốn đầu tư hơn, nâng cao hơn
nữa chất lượng và hiệu quả đầu tư.
Trước hết, để cải thiện môi trường đầu tư, cần phải ổn định các nhân tố
kinh tế vĩ mô nhằm tạo nền tảng thuận lợi cho đầu tư. Đó là tăng trưởng kinh
tế cao và bền vững. Điều này đạt được khi :
+ Khống chế lạm phát ở mức độ lành mạnh. Lý luận và thực tiễn cho thấy
duy trì lạm phát ở mức một con số sẽ có tác dụng lành mạnh hoá các hoạt