THỰC TRẠNG CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC
TẾ CỦA VIỆT NAM.
Chương này sẽ đề cập đến thực trạng của vấn đề thiết lập, điều chỉnh cán cân
thanh toán và tình hình cán cân thanh toán của Việt Nam trong giai đoạn từ 1990
đến nay. Đồng thời phân tích mối quan hệ giữa chênh lệch tiết kiệm- đầu tư và
thiếu hụt cán cân vãng lai ở Việt Nam.
2.1 Vấn đề thiết lập cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam
Việt Nam mới bắt đầu thiết lập cán cân thanh toán cách đây 10 năm, trong khi
các nước phát triển như Anh, Pháp và Mỹ,... đã thiết lập cán cân thanh toán từ sau
chiến tranh thế giới chiến tranh lần thứ II (cách đây hơn 50 năm). Nhìn chung, cán
cân thanh toán quốc tế của Việt Nam được thiết lập theo đúng hướng dẫn của IMF,
được nêu ra trong cuốn “sổ tay cán cân thanh toán” xuất bản lần thứ 4. Nhưng do
đặc điểm thực tế của nền kinh tế Việt Nam và tình hình thu thập số liệu gặp nhiều
khó khăn, nên việc thiết lập cán cân thanh toán của Việt Nam có một số điểm khác
với các nước.
2.1.1 Cơ sở pháp lý của việc thiết lập cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam
Việc phân tích, thiết lập và điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế là việc làm
còn rất mới mẻ đối với Việt Nam. Vấn đề thiết lập cán cân thanh toán quốc tế của
Việt Nam chính thức đưa ra vào năm 1990 (từ khi có pháp lệnh của ngân hàng). Để
nâng cao chất lượng của bảng cán cân thanh toán, chính phủ đã ban hành nghị định
số 164/1999/NĐ-CP về quản lý cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam ngày
16/11/1999. Nghị định này quy định về việc lập, theo dõi và phân tích cán cân
thanh toán quốc tế của Việt Nam, nó chính là cơ sở pháp lý trong việc phối hợp
chặt chẽ giữa các bộ, ngành liên quan đến việc cung cấp số liệu. Theo nghị định
164, việc lập, theo dõi và phân tích cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam được
giao cho ngân hàng nhà nước Việt Nam chủ trù phối hợp cùng với bộ kế hoạch và
đầu tư, bộ tài chính, bộ thương mại, tổng cục thống kê, tổng cục hải quan.
Trên cơ sở nghị định 164/1999/NĐ-CP, ngân hàng nhà nước Việt Nam đã đưa ra
thông tư 05/20000TT-NHNN ngày 28/3/2000 hướng dẫn thi hành một số điểm về
lập cán cân thanh toán quốc tế. Đồng thời, ngân hàng nhà nước cũng ban hành các
mẫu biểu báo cáo cho các bộ, ngành có liên quan nhằm thu thập được các thông tin
a. Cán cân vãng lai: Tổng hợp toán bộ chi tiêu về giao dịch kinh tế giữa người
cư trú và người không cư trú về hàng hoá, dịch vụ, thu nhập của người lao động,
thu nhập từ đầu tư trực tiếp,thu nhập từ đầu tư vào giấy tờ có giá, lãi vay và lãi tiền
gửi nứơc ngoài, chuyển giao vãng lai một chiều và các giao dịch khác theo quy
định của pháp luật.
Cán cân vãng lai gồm 4 khoản mục: Cán cân thương mại, cán cân dịch vụ, cán
cân thu nhập, chuyển tiền đơn phương không bồi hoàn. Nội dung và phương pháp
tính toán của bốn khoản mục trên tương tự như của nước khác trên thế giới. Chỉ có
chú ý nhỏ là: giá trị các khoản nhập khẩu hàng hoả Việt Nam thường được thống
kê theo giá CIF tức là giá cả hàng hoá, chi phí bảo hiểm và chi phí vận chuyển. Vì
vậy, khi đưa số liệu vào cán cân thanh toán cần bóc tách chi phí bảo hiểm ra khỏi
tổng giá trị hàng nhập khẩu.
b. Cán cân vốn và tài chính: Tổng hợp toàn bộ chi tiêu về giao dịch kinh tế
giữa người cư trú và người không cư trú về chuyển vốn từ nước ngoài vào Việt
Nam và chuyển vốn từ Việt Nam ra nước ngoài trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp, đầu
tư vào giấy tờ có giá, vay và trả nợ nước ngoài, cho vay và thu hồi nợ nước ngoài,
chuyển giao vốn một chiều, các hình thức đầu tư khác và các giao dịch khác theo
quy định của pháp luật Việt Nam làm tăng hoặc làm giảm tài sản có hoặc tài sản
nợ của Việt Nam.
c. Cán cân tổng thể: Là tổng hợp của cán cân vãng lai và cán cân vốn và tài
chính.
d. Sai sót thống kê: Phản ánh phần chênh lệch so sai sót thống kê của tất cả các
khoản mục trong cán cân thanh toán Quốc tế.
e. Phần bù đắp: Các tài khoản do ngân hàng trung ương quản lý để điều hoà và
tài trợ do sự mất cân đối trong cán cân thanh toán.
Các tài sản này bao gồm dự trữ vàng, vị thế dự trữ tại IMF (đồng SDR) và các
thay đổi các khoản nợ quá hạn. Nguồn bù đắp có một phần quan trọng là những
biến động của dự trữ vàng và ngoại tệ. Ngân hàng Trung ương thường giữ một số
vàng và ngoại tệ để có thể can thiệp vào thị trường hối đoái nhằm ổn định tỷ giá
đồng tiền trong nước. Dự trữ vàng và ngoại tệ bị giảm đi hay tăng thêm bao nhiêu
tháng và hàng quý cho NHNN qua mạng vi tính của hệ thống ngân hàng (nếu tổ
chức tín dụng nào chưa nối mạng qua hệ thống thì có thể thực hiện báo cáo bằng
văn bản).
Bên cạnh các số liệu thu thập từ hệ thống báo cáo trên, NHNN còn thu thập các
số liệu liên quan đến cán cân thanh toán từ các bộ, ngành khác như bộ tài chính, bộ
thương mại, tổng cục hải quan, tổng cục thống kê, bộ kế hoạch và đầu tư.
Từ năm 1993 đến nay nhờ những cố gắng của NHNN trong việc cải tiến
phương pháp thu thập số liệu và do có sự phối hợp tốt với các bộ, ngành, cùng với
sự biến đổi về chất trong nguồn số liệu thu thập, nên bảng cán cân thanh toán quốc
tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao về mặt chất lượng. Hiện nay, NHNN lập
cán cân thanh toán của Việt Nâm theo quý, năm dựa trên cách phân loại và các
nguồn thông tin số liệu đáng tin cậy sau .
A Thu thập cán cân vãng lai
• Xuất khẩu hàng hoá: NHNN sử dụng số liệu do tổng cục hải quan cung cấp,
đây là số liệu ban đầu để lập cán cân thương mại. Nguồn số liệu này thu thập
qua các cửa khẩu của Việt Nam, phản ánh đầy đủ các luồng hàng hoá ra (xuất
khẩu), vào (nhập khẩu) Việt Nam. Hàng tháng, dưới sự chủ trì của bộ kế hoạch
và đầu tư, với sự tham gai của tổng cục thống kê, tổng cục hải quan, bộ thương
mại và NHNN đã tiến hành họp giao ban định kỳ để thống nhất số liệu xuất
nhập khẩu hàng hoá trong kỳ ước lượng số liệu cho kỳ tới để báo cáo chính
phủ.
• Số liệu thu chi dịch vụ: Đây là mảng số liệu khá phức tạp và khó có thể thu
thập được một cách chi tiết theo yêu cầu của các hạng mục tiêu chuẩn như quy
định của IMF. Hiện nay, NHNN đã thu thập số liệu của tất cả các ngành kinh
doanh dịch vụ: du lịch, bảo hiểm, vận tải, bưu điện, hàng không, hàng hải,...
qua hệ thống do NHTM được phép kinh doanh đối ngoại. Nguồn số liệu này có
thể tin cậy được nếu chúng ta xây dựng được một hệ thống mẫu biểu tốt, vì tất
cả các hoạt động giao dịch về dịch vụ giữa người cư trú và người không cư trú
về nguyên tắc đều phải thanh toán qua hệ thống ngân. Hiện nay, NHNN đang
trong quá trình hoàn thiện hệ thống mẫu biểu.
các giao dịch mà không thông qua thị trường, xác định thời điểm khi nào thực hiện
các bút toán cần thiết trong cán cân thanh toán.
Ngoài ra, Việt Nam còn gặp một số khó khăn do nền kinh tế đang chuyển đổi từ
nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường. Do các số liệu thu
thập trong thời kỳ kế hoạch hoá không phù hợp với mục đích của lập cán cân thanh
toán nên trong giai đoạn chuyển đổi các nguồn số liệu phải theo tiêu chuẩn quốc tế
như thống kê thương maị quốc tế (ITS), hệ thống báo cáo giao dịch quốc tế, bản
điều tra doanh nghiệp, thu thập từ các hộ gia đình. Trên thực tế hiện nay Việt Nam
chưa có đủ các số liệu thống kê để phục vụ cho lập cán cân thanh toán. Việt Nam
đã ra nghị định 164/1999 về quản lý cán cân thanh toán, đây sẽ là một cơ sở để
Việt Nam tiến tới xây dựng được một cán cân thanh toán có chất lượng tốt.
A. Xác định cư trú
Về mặt lý thuyết, cán cân thanh toán được định nghĩa như là một bản ghi chép
có hệ thống tất cả giao dịch giữa người cư trú của nước lập báo cáo và những
người nước ngoài. Trên thực tế vẫn có những bất đồng về việc phân biệt người cư
trú và người không cư trú.
B. Thu thập số liệu
Về nguyên tắc, cán cân thanh toán đòi hỏi phải ghi tất cả các giao dịch kinh tế
quốc tế. Trong thực tế, nhiều giao dịch quốc tế rất khó xác định thông qua bất kỳ
phương pháp thu thập số liệu nào. Do đó chúng ta không được báo cáo.
Ví dụ, hãy xem xét hướng thương mại hàng hoá, khoản này thường dựa trên các
khai báo hải quan. Thông thường có nhiều lý do tại sao những khai báo đó không
bao trùm tất cả các giao dịch về thương mại hàng hoá. Thứ nhất, khi buôn bán qua
biên giới không đảm bảo đối phó được với khối lượng thương mại bất chính (như
trường hợp xuất khẩu qua biên giới), một giao dịch quan trọng đã bị bỏ sót trong
thống kê. Thêm nữa, những khoản mục nào đó coi như hàng hoá (như hàng hoá gửi
bưu điện, tàu thủy và máy bay; cá và các sản phẩm kiếm được ở biển khác đồng
thời bán trực tiếp ở các cảng nước ngoài) thường sót trong các khai báo hải quan.
Đối với hầu hết các khoản mục dịch vụ không có những báo cáo toàn diện về
các giao dịch cá nhân như đối với xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá hữu hình. Do
Trong giai đoạn từ 1990 đến nay, cán cân vãng lai của Việt Nam luôn thiếu hụt
và cán cân vốn và tài chính không đủ để bù đắp cho thiếu hụt cán cân vãng lai và
kết quả là Việt Nam đã phải sư dụng đến các biện pháp tài trợ như xin hoàn nợ và
giảm nợ, điều này đã làm giảm uy tín của Việt Nam trên thị thường tài chính quốc
tế.
Để tìm hiểu nguyên nhân tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán ta cần đi sâu
xem xét từng khoản mục trong cán cân thanh toán với những số liệu cụ thể. Từ đó
có các biện pháp điều chỉnh thích hợp đảm bảo sự phát triển cân đối cả bên trong
lẫn bên ngoài của nền kinh tế.
Bảng 1: Cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam 1993-2000
Đơn vị:Triệu USD
1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000
I-Cán cân vãng lai
1. Cán cân thương mại
-Xuất khẩu
-Nhập khẩu
2. Cán cân dịch vụ
-Các khoản thu
-Các khoản chi
3. Thu nhập đầu tư (ròng)
-Các khoản thu
-Các khoản chi
Trong đó:
-Lãi đến hạn trả
-Thực trả
4. Chuyển giao một chiều
-Khu vực tư nhân
-Khu vực chính phủ
II-Cán cân vốn và tài chính
-1302
1476
-2641
-3155
5198
8353
159
2409
2250
-272
96
368
225
183
627
474
153
2326
-2426
-3143
7337
10480
-61
2709
2700
-442
140
562
373
257
1200
246
1122
950
172
216
-1977
-1500
10000
11500
-705
2781
3486
-1020
133
1153
451
250
1248
950
298
1953
-1577
-892
14308
15200
-641
2895
3536
-1127
128
117
-210
-1056
1056
438
-156
-39
1056
0
883
477
1627
1033
-276
272
547
166
124
-111
-546
546
-19
-282
175
-117
0
0
-194
2276
1287
0
- 439
2074
1002
357
1007
632
394
-612
-3
1
-1
-318
-11
-54
-409
54
0
-264
800
240
432
1121
690
349
-644
372
-519
519
-14
70
768
-768
-1284
-130
-32
637
113
0
548
Nguồn: Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Trang worldbank.com.vn; Tạp chí
ngân hàng số 10/2000, Tạp chí thị trường tài chính tiền tệ số 12/2001; Trang Vitranet.com.vn
2.2.1. Cán cân tài khoản vãng lai.
Trong giai đoạn 1990-1999, do cải cách kinh tế các giao dịch kinh tế đối ngoại
của Việt Nam đã thay đổi một cách nhanh chóng. Thiếu hụt cán cân vãng lai giảm
mạnh từ năm 1990 và 1992 vì các nguồn tài trợ truyền thống từ Liên Xô cũ cạn
kiệt trong khi nguồn tài trợ mới chưa có. Từ năm 1993, Việt Nam có những nguồn
tài trợ từ các quốc gia khác để hỗ trợ cho thiếu hụt cán cân vãng lai. Từ năm đó đến
năm 1996 thâm hụt cán cân vãng lai tăng lên. Trong những năm 1997-1998, thiếu
hụt cán cân vãng lai liên tục giảm do hạn chế nhập khẩu và ảnh hưởng khủng
hoảng châu, đối với Việt Nam. Nhưng từ năm 1999 đến năm 2000 con số này tăng
lên từ 1% đến 5,3%.
Bảng 2: thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai của Việt Nam 1990-2000
Đơn vị: %GDP
Năm 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Mức thâm
hụt
theo % GDP
-0,04 -0,0 0,0 -10,9 8,9 -9,3 -10,4 -6,8 -4,4 -1 -5,3
Nguồn : Niêm giám thống kê 1998-Nhà xuất bản thống kê Hà Nội, 1999 và thời báo kinh tế Sài
(triệu
USD)
Tăng,
giảm
(%)
Nhập
siêu
(Triệu
USD)
Tỷ lệ
nhập
siêu
(%)
Thâm hụt
thương
mại trên
GDP
1990 2404,0 23,5 2752,4 7,3 348,4 14,5 -0,60
1991 2078,1 -13,2 2338,1 -15,1 251,0 12,0 -0,70
1992 2580,7 23,7 2540,7 8,7 -40,0 - -0,60
1993 2985,2 15,7 3924,0 54,4 938,8 31,4 -0,90