LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ VÀ KIỂM TOÁN CHU TRÌNH
BÁN HÀNG VÀ THU TIỀN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ
1.Bản chất của kiểm toán nội bộ.
Hoạt động kiểm toán trên thế giới đã có trên 100 năm nay và ngày càng
phát triển mạnh mẽ, thâm nhập vào mọi ngành, mọi lĩnh vực kinh tế. Kiểm
toán là một hoạt động mới xuất hiện ở nước ta khoảng 10 năm nhưng đã có
bước phát triển lớn mà ngày càng khẳng định rõ vai trò của mình trong việc
xác minh và bày tỏ ý kiến, tạo niềm tin cho những người quan tâm, củng cố nề
nếp hoạt động tài chính và góp phần nâng cao hiệu qủa, năng lực quản lý.
Kiểm toán là quá trình mà theo đó các cá nhân độc lập, có thẩm quyền
thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin số lượng có liên quan đến
một tổ chức kinh tế cụ thể nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp
giữa các thông tin số lượng đó với các chuẩn mực đã được xây dựng. Ngày nay
trên thế giới xuất hiện nhiều loại hình kiểm toán khác nhau, nếu phân loại theo
chủ thể kiểm toán có kiểm toán Nhà nước, kiểm toán độc lập và kiểm toán nội
bộ.
Cùng với sự ra đời và phát triển của các tổ chức kiểm toán độc lập, tổ
chức kiểm toán Nhà nước, hoạt động kiểm toán nội bộ cũng phát triển rộng
khắp và đem lại những trợ giúp tích cực, góp phần đáp ứng nhu cầu bảo vệ,
tồn tại của doanh nghiệp nói riêng, của chính phủ cũng như xã hội nói chung
đồng thời củng cố nền nếp hoạt động tài chính kế toán, nâng cao hiệu quả hoạt
động kinh doanh cho các doanh nghiệp.
Cho đến nay kiểm toán nội bộ có nhiều cách hiểu khác nhau:
Theo liên đoàn kế toán quốc tế ( IFAC): “ Kiểm toán nội bộ là một hoạt
động đánh giá được lập ra cho một doanh nghiệp như là một loại dịch vụ cho
doanh nghiệp đó có chức năng kiểm tra, đánh giá và giám sát thích hợp và
hiệu quả của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ”.
Theo Các Chuẩn mực hành nghề Kiểm Toán Nội Bộ ban hành
tháng 5 năm 1978: “Kiểm toấn nội bộ là một chức năng thẩm định độc lập
được thiết lập bên trong một tổ chức để xem xét và đánh giá các hoạt động
Kiểm toán nội bộ có 3 chức năng:
- Kiểm tra
- Xác nhận
- Đánh giá
Nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm toán nội bộ:
Theo Điều 6 Quy chế Kiểm toán nội bộ (áp dụng đối với doanh nghiệp
Nhà nước) Kiểm toán nội bộ có các nhiệm vụ sau:
- Kiểm tra tính phù hợp, hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ.
- Kiểm tra và xác nhận chất lượng, độ tin cậy của thông tin kinh tế, tài chính của
Báo cáo tài chính, Báo cáo kế toán quản trị trước khi trình ký duyệt.
- Kiểm tra sự tuân thủ các nguyên tắc hoạt động, quản lý kinh doanh, đặc biệt sự
tuân thủ luật pháp, chính sách, chế độ tài chính, kế toán, chính sách, nghị quyết,
quyết định của Hội đồng quản trị, của Ban Giám đốc doanh nghiệp.
- Phát hiện những sơ hở, yếu kém, gian lận trong quản lý, trong bảo vệ
tài sản của doanh nghiệp; đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến, hoàn thiện hệ
thống quản lý, điều hành kinh doanh của doanh nghiệp.
Bộ phận kiểm toán nội bộ chỉ phát huy tác dụng nếu thoả mãn 2 điều
kiện:
Về tổ chức: Kiểm toán nội bộ phải trực thuộc một cấp cao đủ để không
giới hạn phạm vi hoạt động của nó, đồng thời phải được giao một quyền hạn
tương đối rộng rãi và hoạt động tương đối độc lập với phòng kế toán và các bộ
phận hoạt động được kiểm tra.
Về nhân sự: Kiểm toán nội bộ phải tuyển chọn những nhân viên có năng
lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp phù hợp với các quy định hiện hành.
3.Loại hình hoạt động của kiểm toán nội bộ
Kiểm toán nội bộ có ba loại hình hoạt động:
Kiểm toán hoạt động:
Là việc kiểm tra, xác nhận và đưa ra đánh giá về hoạt động, tính hiệu
quả của các hoạt động từ đó đưa ra kiến nghị nhằm cải tiến, và hoàn thiện
hoạt động của mỗi đơn vị.
TÀI CHÍNH
1. Nội dung kiểm toán bán hàng- thu tiền
1.1. Chức năng của chu trình bán hàng- thu tiền :
Bán hàng- thu tiền là quá trình chuyển giao quyền sở hữu của hàng hoá
qua quá trình trao đổi hàng- tiền. Nó bắt đầu từ yêu cầu mua hàng của khách
hàng và kết thúc bằng việc chuyển đổi hàng hoá thành tiền. Các chức năng cơ
bản của chu trình bán hàng- thu tiền gồm:
Xử lý đặt hàng của người mua:
Đặt hàng của người mua có thể là đơn đặt hàng, là phiếu yêu cầu mua
hàng, là yêu cầu qua thư, fax, điện thoại và sau đó là hợp đồng về mua- bán
hàng hoá, dịch vụ… Về pháp lý, đó là việc bày tỏ sự sẵn sàng mua hàng hoá
theo những điều kiện xác định. Do đó, có thể xem đây là điểm bắt đầu của toàn
bộ chu trình. Trên cơ sở pháp lý này, người bán có thể xem xét để đưa ra quyết
định bán qua phiếu tiêu thụ và lập hoá đơn bán hàng.
Xét duyệt bán chịu:
Do bán hàng gắn liền với thu tiền trong cùng một khái niệm tiêu thụ nên
ngay từ thoả thuận ban đầu, sau khi quyết định bán cần xem xét và quyết định
bán chịu một phần hoặc toàn bộ lô hàng. Quyết định này có thể đồng thời thể
hiện trên hợp đồng kinh tế như một điều kiện đã được thỏa thuận trong quan
hệ buôn bán trong hợp đồng. Tuy nhiên, ở nhiều công ty trước khi vận chuyển
hàng hoá do một người am hiểu về tài chính và về khách hàng xét duyệt. Việc
xét duyệt có thể được tính toán cụ thể trên lợi ích của cả hai bên theo hướng
khuyến khích người mua trả tiền nhanh qua tỷ lệ giảm giá khác nhau theo thời
hạn thanh toán. Trên thực tế, cũng có doanh nghiệp bỏ qua chức năng này và
dẫn tới nợ khó đòi và thậm chí thất thu do khách hàng mất khả năng thanh
toán hoặc cố tình không thanh toán do sơ hở trong thoả thuận ban đầu.
Chuyển giao hàng:
Là chức năng kế tiếp chức năng duyệt bán theo nghĩa hẹp của khái niệm
“tiêu thụ” thì vận chuyển hàng hoá đến người mua là điểm bắt đầu của chu
trình (đặc biệt với các công ty bán buôn) nên thường là điểm chấp nhận được
này phải lập bảng ghi nhớ hoặc có thư báo Có hoặc hoá đơn chứng minh cho
việc ghi giảm các khoản phải thu. Trên cơ sở đó ghi đầy đủ và kịp thời vào nhật
ký hàng bị trả lại và các khoản bớt giá đồng thời ghi vào sổ phụ.
Thẩm định và xoá sổ khoản phải thu không thu được:
Có thể có những trường hợp người mua không chịu thanh toán hoặc
không còn khả năng thanh toán. Sau khi thẩm định, nếu thấy khoản thất thu
này là “bất khả kháng”, cần xem xét xoá sổ khoản phải thu đó.
Dự phòng nợ khó đòi:
Được lập với yêu cầu đủ trang trải các khoản đã tiêu thụ kỳ này song
không có khả năng thu được trong tương lai. Tuy nhiên, ở nhiều công ty, dự
phòng này là số dư do điều chỉnh cuối năm của quản lý về bớt giá đối với các
khoản không thu được tiền.
1.2. Kiểm soát nội bộ đối với chu trình bán hàng- thu tiền
Môi trường kiểm soát:
Môi trường kiểm soát bao gồm toàn bộ nhân tố bên trong và bên ngoài
đơn vị có tính môi trường tác động đến việc thiết kế, hoạt động và xử lý dữ liệu
của các loại hình kiểm soát nội bộ. Các nhân tố bên trong đơn vị bao gồm: đặc
thù về quản lý, cơ cấu tổ chức, chính sách nhân sự, công tác kế hoạch, ủy ban
kiểm soát. Các nhân tố bên ngoài đơn vị bao gồm: sự kiểm soát của các cơ
quan chức năng Nhà nước, ảnh hưởng của các chủ nợ, môi trường pháp lý,
đường lối phát triển của đất nước…
Hệ thống kế toán:
Hệ thống kế toán giữ một vai trò quan trọng nhằm cung cấp thông tin
quản lý (bao gồm các thông tin về kế toán tài chính của đơn vị và các kết quả
hoạt động kinh doanh khác) và thực hiện nhiều mặt hoạt động của đơn vị)
thực hiện nhiệm vụ là nhận biết, thu nhập, phân loại, ghi sổ và báo cáo các
nghiệp vụ kinh tế tài chính của đơn vị, thoả mãn chức năng thông tin và kiểm
tra hoạt động kế toán. Hệ thống này bao gồm :
Hệ thống chứng từ kế toán:
Trong chu trình bán hàng- thu tiền, hệ thống chứng từ kế toán thể hiện ở
Hệ thống này dùng để ghi các nghiệp vụ bán hàng-thu tiền và các nghiệp
vụ khác có liên quan, phát sinh trong một niên độ kế toán mà cơ sở để ghi sổ là
các chứng từ đã được lập trước đó bao gồm: Nhật ký bán hàng, các sổ hạch
toán chi tiết nợ phải thu khách hàng, nhật ký thu tiền, sổ chi phí bán hàng, sổ
hạch toán chi tiết hàng tồn kho..
Hệ thống báo cáo kế toán:.
Hệ thống này được lập với mục đích thông tin cho các nhà quản lý cấp
trên nắm bắt được toàn bộ kết quả của chu trình qua một niên độ kế toán nhất
định hay qua một thời kỳ nhất định. Cụ thể đó là các báo cáo tài chính nộp cho
cơ quan thuế, cho Bộ chủ quản, cho Tổng công ty…hay các báo cáo bán hàng,
tình hình thanh toán nợ của khách hàng.. cung cấp cho Ban quản trị hay Ban
giám đốc biết hoặc những người quan tâm.
Thủ tục kiểm soát:
Thủ tục kiểm soát là những chính sách và thủ tục do Ban giám đốc đơn
vị thiết lập và thực hiện nhằm đạt được mục tiêu quản lý cụ thể. Khi thiết lập
thủ tục kiểm soát phải đảm bảo 3 nguyên tắc cơ bản sau: nguyên tắc bất kiêm
nhiệm, nguyên tắc phân công, phân nhiệm rõ ràng, nguyên tắc ủy quyền và phê
chuẩn. Ngoài ra, các thủ tục kiểm soát còn bao gồm: việc quy định chứng từ, sổ
sách phải đầy đủ, quá trình kiểm soát vật chất đối với tài sản, sổ sách và kiểm
soát độc lập việc thực hiện các hoạt động của đơn vị.
Đặc biệt đối với chu trình bán hàng và thu tiền, việc hiểu được những
đặc điểm cũng như những biểu hiện của hệ thống kiểm soát nội bộ đã góp
phần nâng cao chất lượng, hiệu quả kiểm toán chu trình này. Đó cũng là lý do
để chúng ta nhận thức được tầm quan trọng của những thông tin trên trong
khi đi vào thực hành kiểm toán chu trình.
1.3. Mục tiêu kiểm toán bán hàng- thu tiền.
Chức năng của kiểm toán đã được cụ thể hoá thành các mục tiêu kiểm
toán. Do chu trình bán hàng và thu tiền được cấu thành bởi các nghiệp vụ cụ
thể và từ đó hình thành các khoản mục trên các Báo cáo tài chính nên các mục
tiêu đặc thù của kiểm toán bán hàng và thu tiền cần cụ thể hoá cả mục tiêu
Mọi khoản phải thu ở khách
hàng đều được ghi sổ
Trọn vẹn
Mọi nghiệp vụ bán hàng đều
được ghi sổ
Các khoản phải thu được
đánh giá đúng
Định giá
Hàng đã vận chuyển và có
hoá đơn ghi giá bán được
thoả thuận
Các khoản phải thu có
người sở hữu
Quyền và
nghĩa vụ
Hàng hoá đã bán thuộc sở
hữu của đơn vị
Các khoản phải thu được
phân loại đúng
Phân loại
Các nghiệp vụ bán hàng được
phân loại thích hợp
Các khoản phải thu được
tính toán đúng
Chính xác
cơ học
Các nghiệp vụ ghi vào sổ tổng
hợp, chi tiết thích hợp và
khớp đúng các số cộng
Các mục tiêu
công việc cần thiết để chuẩn bị lập kế hoạch kiểm toán bao gồm: đánh giá khả
năng chấp nhận kiểm toán, nhận diện các lý do kiểm toán, lựa chọn đội ngũ
nhân viên kiểm toán thực hiện kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền.
Thu thập thông tin cơ sở: KTV thu thập hiểu biết về ngành nghề, công
việc kinh doanh của khách hàng, tìm hiểu về hệ thống kế toán cũng như các
chính sách kế toán đối với việc tiêu thụ của khách hàng. Xem xét lại kết quả của
các cuộc kiểm toán trước đối với khoản mục doanh thu và phải thu khách hàng
cũng như hồ sơ kiểm toán chung. KTV tiến hành tham quan nhà xưởng kho bãi,
nhận diện các bên liên quan như danh sách khách hàng và những người nợ.
Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng: Giúp cho KTV
nắm bắt được các quy trình mang tính pháp lý có ảnh hưởng đến các mặt hoạt
động kinh doanh này, những thông tin này được thu thập trong quá trình tiếp
xúc với Ban giám đốc công ty khách hàng như: giấy phép thành lập và điều lệ
hoạt động của công ty, các Báo cáo tài chính, Báo cáo kiểm toán, thanh tra hay
kiểm tra của năm hiện hành và năm trước, các hợp đồng và cam kết quan trọng.
Thực hiện các thủ tục phân tích: Thủ tục phân tích là việc phân tích các
số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu hướng biến
động quan trọng và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin
liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến. KTV thường
áp dụng hai phương pháp phân tích là phân tích ngang và phân tích dọc. Trong
giai đoạn lập kế hoạch này KTV thường tiến hành so sánh doanh thu, các
khoản phải thu giữa kỳ này so với kỳ trước, tính toán tỷ lệ phải thu khó đòi…
Đánh giá trọng yếu và rủi ro :
Đánh giá trọng yếu:
Trọng yếu là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông
tin, một số liệu kế toán trong báo cáo tài chính. Mức độ trọng yếu phụ thuộc
tầm quan trọng của thông tin hay của sai sót đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể.
Để xác định mức trọng yếu KTV tiến hành các bước sau:.
- Ước lượng ban đầu về mức trọng yếu: Mức ước lượng ban đầu về tính
trọng yếu là lượng tối đa mà KTV tin rằng, ở mức đó các báo cáo tài chính có thể