NHŨNG LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU ĐẦU TƯ THEO NGÀNH
1.1. Vai trò của vốn đầu tư với tăng trưởng và phát triển kinh tế.
1.1.1. Khái niệm và phân loại đầu tư
Đầu tư là "sự bỏ ra, sự hy sinh" những cái gì đó ( tiền, sức lao động, của
cải vật chất, trí tuệ) ở hiện tại nhằm đạt được những kết quả có lợi hơn cho
người đầu tư trong tương lai. Hay nói cách khác, đầu tư là sự hy sinh những
lợi ích hiện tại để nhằm thu về lợi ích lớn hơn trong tương lai.
Căn cứ vào bản chất và phạm vi lợi ích do đầu tư đem lại có thể chia đầu
tư thành 3 loại chủ yếu sau:
1.1.1.1. Đầu tư tài chính: là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho
vay hoặc mua chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước hoặc lãi suất phụ
thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty phát hành. Đầu tư tài chính
không làm tăng tài sản của nền kinh tế ( nếu không xét đến quan hệ quốc tế
trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của tổ chức, cá
nhân đầu tư. Với hình thức đầu tư tài chính, vốn bỏ ra đầu tư được lưu chuyển
dễ dàng và là một nguồn cung cấp vốn quan trọng cho đầu tư phát triển.
1.1.1.2. Đầu tư thương mại: là loại đầu tư mà người có tiền bỏ tiền ra mua
hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá
khi mua và khi bán. Loại đầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền
kinh tế ( nếu không xét đến ngoại thương), mà chỉ làm tăng tài sản tài chính
của người đầu tư trong quá trình mua đi, bán lại. Tuy nhiên, đầu tư thương
mại có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu thông của cải vật chất do đầu tư phát
triển tạo ra, từ đó thúc đẩy đầu tư phát triển.
1.1.1.3 Đầu tư phát triển: là hoạt động đầu tư mà trong đó người có tiền bỏ
tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế,
làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và các hoạt động xã hội khác, là điều
kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã
hội. Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế - xã
hội, mua sắm trang thiết bị, bồi dưỡng và đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện
các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm
duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho
II
ở cả hai khu vực của nền kinh tế,
mà còn phải dư thừa để đầu tư làm tăng quy mô tư liệu sản xuất trong quá
trình sản xuất tiếp theo.
Còn ở khu vực II ( sản xuất tư liệu tiêu dùng) thì:
( C+V+M)
II
> (V+M)
I
+ (V+M)
II
Có
nghĩa là tư liệu tiêu dùng do khu vực II tạo ra không chỉ bù đắp tư
liệu tiêu dùng ở cả hai khu vực mà còn phải thừa để đảm bảo thoả mãn nhu
cầu tư liệu tiêu dùng tăng thêm do quy mô của nền sản xuất xã hội được mở
rộng.
Để có dư thừa tư liệu sản xuất, một mặt phải tăng cường sản xuất tư
liệu sản xuất ở khu vực I, mặt khác phải sử dụng tiết kiệm tư liệu sản xuất ở cả
hai khu vực. Để có dư thừa tư liệu tiêu dùng, một mặt phải tăng cường sản
xuất tư liệu tiêu dùng ở khu vực II, mặt khác phải sử dụng tiết kiệm tư liệu tiêu
dùng ở cả hai khu vực. Từ đó có thể rút ra kết luận:
Con đường cơ bản và quan trọng về lâu dài để tái sản xuất mở rộng là
phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm cả trong sản xuất và trong tiêu
dùng.
Vấn đề này cũng đã được kinh tế học hiện đại chứng minh. Thật vậy, nếu
gọi GDP là tổng sản phẩm quốc nội, C là tiêu dùng (tiêu dùng cá nhân và tiêu
dùng của Chính phủ), I là đầu tư của doanh nghiệp ( bổ sung vốn lưu động và
cố định) thì:
GDP = C + I
bộ nền kinh tế quốc dân . Theo Ngân hàng Thế giới , đầu tư thường chiếm 24-
28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới. Đối với tổng cầu
tác động của đầu tư là ngắn hạn, khi mà tổng cung chưa thay đổi, sự tăng lên
của đầu tư làm cho tổng cầu tăng ( đường D
1
dịch chuyển sang D
2
) kéo sản
D1
D2
Eo
E1
P1PoP2
Qo Q1 Q2
E2
Q
P
S1
S1
Hình1
lượng cân bằng tăng theo từ Q
0
đến Q
1
và giá cân bằng tăng từ P
0
đến P
1
. Điểm
cân bằng dịch chuyển từ E
trưởng kinh tế phụ thuộc vào tổng vốn đầu tư và hệ số ICOR. Mối quan hệ đó
được thể hiện qua công thức:
Vốn đầu tư Vốn đầu tư
Mức tăng GDP( ∆GDP) = ----------------- hay ICOR = ------------------
ICOR ∆ GDP
Hệ số ICOR cho thấy hiệu quả đầu tư của nền kinh tế, nói lên lượng vốn
đầu tư cần thiết để tạo ra một đơn vị GDP tăng thêm. Về phương diện lý thuyết
khi hệ số ICOR càng thấp chứng tỏ nền kinh tế càng có hiệu quả. Tuy nhiên,
trên thực tế ICOR còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như nền kinh tế đang ở
trong giai đoạn phát triển nào, đã công nghiệp hoá chưa? Đó là nền kinh tế
"đóng" hay "mở"? Mức độ tác động của bối cảnh quốc tế thuận lợi hay khó
khăn? Chất lượng quản lý nhà nước về đầu tư cao hay thấp?...
Ở các nước phát triển, ICOR thường lớn do thừa vốn, thiếu lao động, vốn
được sử dụng nhiều thay thế cho lao động, do sử dụng công nghệ hiện đại có
giá cao. Còn ở các nước chậm phát triển ICOR thường thấp do thiếu vốn, thừa
lao động nên có thể và cần phải sử dụng lao động để thay thế cho vốn, do sử
dụng công nghệ kém hiện đại, giá rẻ. ICOR trong nông nghiệp thường thấp hơn
trong công nghiệp. Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc
vào vốn đầu tư.
1.2. Phân loại vốn đầu tư
1.2.1. Phân loại vốn đầu tư theo nguồn hình thành
Ngày nay vốn đầu tư của mỗi nước thường gồm 2 nguồn: vốn đầu tư
trong nước và vốn đầu tư nước ngoài.
1.2.1.1. Vốn đầu tư trong nước bao gồm các nguồn: Vốn đầu tư từ ngân sách
nhà nước, vốn tín dụng đầu tư, vốn đầu tư từ các nguồn tự có của doanh
nghiệp, vốn đầu tư tích luỹ của dân cư.
- Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước là nguồn vốn hình thành trong quá
trình hoạt động thu - chi ngân sách nhà nước theo luật ngân sách. Nguồn vốn
này chủ yếu được đầu tư cho cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của đất nước, ngoài
ra để thực hiện các chương trình mục tiêu kinh tế - xã hội quốc gia. Vốn đầu tư
động vốn từ nước ngoài. Ngày nay không có một nước chậm phát triển nào
trên con đường phát triển lại không tranh thủ nguồn vốn đầu tư từ nước
ngoaì, nhất là trong điều kiện nền kinh tế mở.
Tuy nhiên, cơ sở để tiếp thu và phát huy tác dụng của vốn đầu tư nước
ngoài lại chính là cơ sở vật chất kỹ thuật và khối lượng vốn đầu tư trong nước.
Tỷ lệ giữa vốn đầu tư huy động từ trong nước để tiếp nhận và sử dụng có hiệu
quả vốn nước ngoài tuỳ thuộc vào đặc điểm và điều kiện phát triển kinh tế - xã
hội của mỗi nước. Với Trung quốc tỷ lệ này là 5:1, một số nước khác thường là
3:1,với Việt Nam theo các nhà kinh tế thì tỷ lệ hợp lý là 2:1.
Do đó, xét về lâu dài thì nguồn vốn đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế
liên tục, vững chắc và không phụ thuộc phải là nguồn vốn đầu tư từ trong
nước. Kinh nghiệm của các nước trong khu vực, nhất là kinh nghiệm từ cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực Đông Nam Á vừa qua càng chứng tỏ
điều này.
1.2.2. Phân loại vốn đầu tư theo mục đích sử dụng
Theo mục đích sử dụng vốn đầu tư được phân loại theo nhiều tiêu thức
khác nhau:
• Theo mục đích đầu tư vào các ngành kinh tế thì vốn đầu tư chia
thành: vốn đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp, vốn đầu tư vào lĩnh vực
dịch vụ, vốn đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp.
• Theo mục đích đầu tư vào tài sản, vốn đầu tư chia thành: vốn đầu tư
hình thành tài sản cố định ( vốn đầu tư dài hạn) và vốn đầu tư hình
thành tài sản lưu động ( vốn đầu tư ngắn hạn ).
• Theo lĩnh vực đầu tư, vốn đầu tư chia thành: vốn đầu tư cho cơ sở hạ
tầng và vốn đầu tư cho kinh doanh. Vốn đầu tư cơ sở hạ tầng không
mang lại hiệu quả tài chính trực tiếp mà thông qua đánh giá tổng thể
hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế. Vốn đầu tư kinh doanh nhằm tăng
năng lực sản xuất, năng suất lao động và chất lượng sản phẩm...
• Theo khu vực phát triển, vốn đầu tư chia thành: vốn đầu tư vào khu
vực đô thị, vốn đầu tư vào khu vực nông thôn đồng bằng, vốn đầu tư
- Cơ cấu kỹ thuật của vốn đầu tư: cơ cấu vốn đầu tư này quyết định tỷ lệ
vốn đầu tư phân bổ cấu thành kết cấu kỹ thuật của các công trình đầu tư như:
vốn xây lắp, vốn thiết bị, vốn cho kiến thiết cơ bản khác. Cơ cấu đầu tư này có
tác động tích cực hình thành cơ cấu kỹ thuật của nền kinh tế.
Tuy nhiên trong Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu cơ cấu thực hiện vốn
đầu tư theo ngành
1.4. Quan hệ giữa cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tế và sự cần thiết phải
định hướng chuyển dịch cơ cấu đầu tư.
1.4.1 Cơ cấu kinh tế và những vấn đề lý luận cơ bản về chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo ngành.
1.4.1.1 Cơ cấu kinh tế .
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận cấu thành của nền kinh tế, cùng
các mối quan hệ chủ yếu về định tính và định lượng, ổn định và phát triển giữa
các yếu tố cấu thành của nền kinh tế đối với nhau hay toàn bộ hệ thống trong
những điều kiện của một nền tái sản xuất xã hội trong hoàn cảnh kinh tế nhất
định và trong khoảng thời gian nhất định. Cơ cấu kinh tế không chỉ thể hiện ở
quan hệ tỷ lệ mà quan trọng hơn là mối quan hệ tác động qua lại về nội dung
bên trong của hệ thống kinh tế.
+ Cơ cấu kinh tế có các đặc trưng chủ yếu như:
- Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan
- Cơ cấu kinh tế mang tính lịch sử
- Cơ cấu kinh tế mang tính hệ thống
- Cơ cấu kinh tế có tính chất động
- Cơ cấu kinh tế có tính hướng đích hay mục tiêu
- Cơ cấu kinh tế mang tính kế thừa rất rõ rệt
+ Cơ cấu kinh tế bao gồm các loại chính như sau:
- Cơ cấu ngành: là sự kết hợp giữa các ngành trong nền kinh tế quốc
dân hoặc từng loại hình sản xuất, từng xí nghiệp trong nội bộ ngành.
- Cơ cấu lãnh thổ: là sự kết hợp giữa các vùng, lãnh thổ trong toàn quốc hoặc
từng đơn vị cơ sở trong mỗi vùng.