Lý luận chung về công tác kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm trong doanh nghiệp sản xuất - Pdf 64

Lý luận chung về công tác kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm trong
doanh nghiệp sản xuất
I. Khái quát chung về thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm trong doanh nghiệp
sản xuất
1. Khái niệm
1.1. Khái niệm về thành phẩm
Sản xuất là một quá trình hoạt động có mục đích của con người để tạo ra
của cải vật chất và dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Sản
phẩm nói chung đều là kết quả của quá trình sản xuất chế tạo ra nó, có thể là
thành phẩm (TP) nhưng cũng có thể chưa phải là thành phẩm.
Ví dụ: Trong sản xuất công nghiệp, chỉ những sản phẩm của bước công
nghệ cuối cùng của doanh nghiệp và đủ tiêu chuẩn kỹ thuật mới được coi là
thành phẩm. Trong XDCB thành phẩm chỉ là công trình đã được hoàn thành
bàn giao vào sử dụng, còn sản phẩm thì bao gồm cả công trình đã được bàn
giao và cả công trình hoàn thành theo giai đoạn qui ước được nghiệm thu.
Trong sản xuất nông nghiệp, thường thì sản phẩm cũng chính là thành phẩm .
Giữa thành phẩm và sản phẩm có giới hạn phạm vi khác nhau. Khi nói
đến sản phẩm là chỉ nói đến kết quả của quá trình sản xuất chế tạo ra nó.
Còn khi nói đến TP là nói đến kết quả của quá trình sản xuất gắn liền với quy
trình công nghệ nhất định trong phạm vi một doanh nghiệp.
Như vậy, thành phẩm là sản phẩm đã được chế tạo xong ở giai đoạn chế
biến cuối cùng của quy trình công nghệ trong xí nghiệp, được kiểm nghiệm đủ
tiêu chuẩn kỹ thuật quy định và đã nhập kho.
Ngoài ra còn có bán thành phẩm, là những sản phẩm mới được kết thúc
quy trình công nghệ sản xuất (trừ công đoạn cuối cùng) được nhập kho hay
chuyển giao để tiếp tục chế biến hoặc có thể bán ra ngoài được.
1.2. Khái niệm về tiêu thụ thành phẩm
Sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra muốn đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng của xã hội phải thông qua khâu tiêu thụ. Do đó các doanh nghiệp ngoài
nhiệm vụ sản xuất sản phẩm còn phải tổ chức tiêu thụ sản phẩm đó.
Trong nền kinh tế thị trường, công tác tiêu thụ TP và tổ chức tiêu thụ TP

Về mặt số lượng, doanh nghiệp phải thường xuyên phản ánh tình hình
thực hiện kế hoạch sản xuất, tình hình nhập xuất tồn kho thành phẩm, kịp
thời phát hiện những trường hợp hàng hoá tồn đọng kho lâu, tìm biện pháp
giải quyết tránh ứ đọng vốn.
Bên cạnh việc quản lý về mặt số lượng thành phẩm thì việc quản lý về
mặt chất lượng thành phẩm là một yêu cầu không thể thiếu được phải quản
lý chặt chẽ khâu kiểm tra chất lượng sản phẩm, không được đưa ra thị
trường các sản phẩm kém chất lượng sẽ làm giảm uy tín của doanh nghiệp
giảm khả năng cạnh tranh, có thể sẽ không tiêu thụ được.
Đồng thời DN phải thường xuyên cải tiến mẫu mã mặt hàng đa dạng hoá
chủng loại để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Muốn vậy DN phải:
- Nắm bắt được thị hiếu tiêu dùng xã hội để kịp thời đổi mới mặt hàng,
phát hiện những sản phẩm kém phẩm chất hoặc đã lỗi thời để loại ra khỏi quá
trình sản xuất tránh ứ đọng vốn.
- Thiết lập các biện pháp quản lý khoa học đến từng khâu đến từng bộ
phận quản lý phải phân công rõ ràng trong công tác quản lý thành phẩm giáo
dục mọi thành viên không ngừng nâng cao ý thức tự giác trong việc bảo vệ tài
sản. Bên cạnh đó, việc tổ chức hạch toán phải kịp thời, khoa học đúng với chế
độ tài chính - kế toán của nhà nước bảo đảm phản ánh trung thực khách quan
tình hình biến động của thành phẩm.
2.2. Đối với tiêu thụ thành phẩm
Tiêu thụ được sản phẩm, hàng hoá có một ý nghĩa rất quan trọng đối với
nền kinh tế và có ý nghĩa sống còn đối với bản thân doanh nghiệp sản xuất ra
nó. Bên cạnh đó việc tiêu thụ còn liên quan đến lợi ích kinh tế của nhiều bên
liên quan như người tiêu dùng, nhà đầu tư... Để hiểu rõ hơn ta phân tích ý
nghĩa của tiêu thụ trên góc độ:
- Đối với nền KTQD: tiêu thụ là tiền đề cho cân đối sản xuất và tiêu dùng,
cân đối tiền và hàng trong lưu thông cũng như cân đối giữa các ngành các khu
vực trong nền kinh tế. Giữa các doanh nghiệp trong nền KTQD có mối quan hệ
với nhau. Thành phẩm của ngành này có thể là tư liệu của ngành kia. Do đó tiêu

như bị chiếm dụng vốn.
Ngoài ra doanh nghiệp còn phải làm tốt công tác thăm dò nghiên cứu thị
trường để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng cũng như tìm kiếm mở
rộng thị trường tiêu thụ cả trong và ngoài nước...
3. Nhiệm vụ hạch toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm
Ngày nay trong điều kiện nền kinh tế thị trường kế toán được quan niệm như
một ngôn ngữ kinh doanh, một thứ "nghệ thuật" ghi chép, phân loại tổng hợp các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhằm phục vụ cho yêu cầu quản lý. Đối với một doanh
nghiệp tổ chức tốt công tác kế toán TP và tiêu thụ TP sẽ tạo điều kiện phát triển sản
xuất, từng bước hạn chế được sự thất thoát TP, phát hiện những TP chậm luân
chuyển để có biện pháp xử lý kịp thời. Thông qua số liệu kế toán TP và tiêu thụ TP
cung cấp, doanh nghiệp có thể đánh giá được mức độ hoàn thành kế hoạch về sản
xuất, giá thành, tiêu thụ, lợi nhuận. Từ đó doanh nghiệp có biện pháp tối ưu duy trì
sự cân đối thường xuyên giữa các yếu tố đầu vào - đầu ra.
Cũng từ số liệu của báo cáo tài chính do kế toán thành phẩm và tiêu thụ
cung cấp, nhà nước có thể nắm bắt được tình hình tài chính, kết quả sản xuất
kinh doanh của từng doanh nghiệp từ đó thực hiện chức năng quản lý và kiểm
soát vĩ mô nền kinh tế. Đồng thời qua đó nhà nước có thể kiểm tra giám soát
việc chấp hành luật pháp kinh tế - tài chính.
Trong nền kinh tế mở, ngoài mối quan hệ với nhà nước, doanh nghiệp còn
có thể liên doanh, liên kết với đơn vị bạn, cải tiến công nghệ thu hút vốn đầu tư.
Với những số liệu của kế toán TP và tiêu thụ họ biết được khả năng sản xuất và
tiêu thụ các mặt hàng trên thị trường và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
để từ đó ra quyết định đầu tư, cho vay hoặc có quan hệ làm ăn với doanh nghiệp.
Để thực sự là công cụ quản lý, kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành
phẩm phải thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ sau:
 Tổ chức theo dõi phản ánh chính xác đầy đủ, kịp thời và giám đốc chặt
chẽ về tình hình hiện có và sự biến động của từng loại thành phẩm hàng hoá
trên các mặt hiện vật cũng như giá trị.
 Phản ánh kịp thời chính xác tình hình xuất bán thành phẩm; tính chính

x
Giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ
Giá thực tế TPtồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Số lượng TP thực tế tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
=
Giá đơn vị bình quân cuối kỳ trước
=
Giá trị thực tế TP tồn cuốikỳ trước (hoặc đầu kỳ này)
Số lượng TP thực tế tồn kho cuối kỳ trước (hoặc đầu kỳ này)
- Đối với thành phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra được đánh giá theo
giá thành công xưởng thực tế bao gồm chi phí NVL trực tiếp, chi phí NCTT, chi
phí SXC không bao gồm thuế GTGT.
- Đối với TP thuê ngoài gia công, giá thành thực tế gia công bao gồm
toàn bộ các chi phí liên quan đến gia công (chi phí NVL trực tiếp, chi phí
thuê gia công và các chi phí khác: chi phí vận chuyển, bốc dỡ, hao hụt...) loại
trừ thuế GTGT.
- Đối với thành phẩm mua ngoài được tính theo trị giá vốn thực tế: giá
vốn thực tế mua, chi phí mua không bao gồm thuế GTGT.
 Đối với doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính trực tiếp giá trị gia
tăng, và không chịu thuế GTGT các trường hợp nhập kho cũng được đánh giá
tương tự nhưng bao gồm cả thuế GTGT.
 Giá thực tế xuất kho
Do TP nhập từ nhiều nguồn khác nhau, giá thực tế mỗi lần nhập không
hoàn toàn giống nhau. Kế toán phải xác định giá thực tế xuất kho đã đăng ký
và áp dụng đảm bảo tính nhất quán trong niên độ kế toán. Để tính trị giá
thực tế TP xuất kho có thể áp dụng một trong các phương pháp sau:
1.1.1 Phương pháp giá thực tế bình quân:
Giá thực tế TP xuất kho được tính theo công thức sau:
Khi sử dụng giá đơn vị bình quân, có thể sử dụng dưới 3 dạng:
 Giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ:

Ưu điểm: Phương pháp này đơn giản, nhanh chóng.
Nhược điểm: không chính xác do khó phát hiện mất mát thiếu hụt đồng
thời không phản ánh được sự biến động của giá cả.
1.1.3. Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO)
Theo phương pháp này thì số TP nào nhập trước sẽ xuất trước, xuất hết
số nhập trước mới xuất đến số nhập sau theo giá thực tế của từng số TP xuất.
Cơ sở: giá thực tế của TP nhập trước sẽ được dùng làm giá để tính giá
thực tế TP xuất trước và do vậy, giá trị TP tồn kho cuối kỳ sẽ là giá thực tế của
số TP nhập vào sau cùng trong kỳ.
1.1.4. Phương pháp nhập sau, xuất trước
Phương pháp này ngược với phương pháp trên có nghĩa là những TP nhập
sau cùng sẽ được xuất trước tiên và giá của TP nhập sau sẽ được dùng làm giá để
tính giá thực tế hàng xuất trước do vậy giá trị TP tồn kho cuối kỳ sẽ là giá thực tế
của số TP nhập vào trước tiên trong kỳ.
1.1.5. Phương pháp giá thực tế đích danh
Theo phương pháp này thành phẩm nhập kho theo giá nào thì xuất theo
giá đó và không quan tâm đến thời gian nhập xuất.
Ưu điểm: tính chính xác cao
=
Trị giá hạch toán TP xuất kho Số lượng thành phẩm xuất kho
x
Đơn giá hạch toán
Trị giáthực tế thành phẩm xuất kho
x
Trị giá hạch toán TP xuất kho
Hệ số giá
=
Trị giá thực tế TP tồn kho đầu kỳ
Trị giá thực tế TP nhập kho trong kỳ
=Hệ số giá

- Biên bản kiểm kê vật tư, sản phẩm, hàng hoá,: mẫu số 08 - VT
Chứng từ nhập
Sổ cái
Thẻ kho
Chứng từ xuất
Sổ chi tiết
Tổng hợp chi tiết
(2)
(2)
(4)
(5)))))
(1)
(1)
(3)
Ngoài ra có thể sử dụng thêm “ Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ”: mẫu số
03- VT (nếu điều chuyển TP nội bộ), “ Biên bản kiểm nghiệm”: mẫu số 05- VT.
3. Kế toán chi tiết thành phẩm
Kế toán chi tiết TP là việc hạch toán chi tiết theo từng danh điểm từng nhóm,
từng loại sản phẩm về chỉ tiêu hiện vật và giá trị được tiến hành ở kho và cả bộ
phận kế toán theo từng kho và từng người chịu trách nhiệm bảo quản.
Phương pháp kế toán chi tiết TP là sự phối hợp kết hợp giữa thủ kho và kế
toán TP trong việc tổ chức và kế toán TP theo từng danh điểm từng nhóm, từng
loại cả về số lượng và giá trị ở từng kho theo từng người có trách nhiệm bảo
quản TP. Hiện nay có 3 phương pháp kế toán chi tiết TP như sau:
3.1. Phương pháp thẻ song song
 Nguyên tắc hạch toán:
+ Ở kho: Thủ kho ghi chép sự biến động nhập, xuất, tồn của TP về hiện
vật trên thẻ kho. Cuối ngày tính ra số tồn kho và ghi vào thẻ kho, định kỳ gửi
các chứng từ nhập, xuất đã được phân loại theo từng thứ TP cho phòng kế
toán.

hạn chế chức năng kiểm tra kịp thời của kế toán.
- Không thích hợp với những DN có quá nhiều thành phẩm.
Do vậy phương pháp này áp dụng cho những doanh nghiệp có ít chủng
loại TP, mật độ nhập, xuất lớn có điều kiện tổ chức kho quản lý TP tập trung.
3.2. Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
 Nguyên tắc hạch toán:
+ Tại kho: Thủ kho vẫn mở thẻ kho để theo dõi về mặt số lượng đối với
từng danh điểm vật tư như phương pháp thẻ song song.
+ Tại phòng kế toán: Kế toán thành phẩm ghi chép sự biến động Nhập-
Xuất- Tồn cả về số lượng và giá trị của từng danh điểm vật liệu trong từng kho
trên sổ đối chiếu luân chuyển.
Cuối tháng kế toán thành phẩm lập kế hoạch đối chiếu số liệu với thủ
kho về hiện vật trên thẻ kho và kế toán tổng hợp về giá trị.
 Trình tự ghi sổ (Sơ đồ 2)
Sơ đồ 2: QUY TRÌNH HẠCH TOÁN CHI TIẾT THÀNH PHẨM
(Theo phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển)
Ghi hàng ngày
Ghi chú: Ghi cuối tháng
Đối chiếu kiểm tra
Ưu điểm: - Tránh được việc ghi chép trùng lặp giữa kho và phòng kế toán.
- Cung cấp thông tin cả về hiện vật và giá trị cho người quản lý.
Thẻ kho
Chứng từ nhập
Chứng từ xuất
Sổ số dư
Phiếu giao nhận chứng từ nhập
Phiếu giao nhận chứng từ xuất
(1)
(1)
(3)

Đối chiếu kiểm tra
Ưu điểm: - Tăng hiệu suất của công tác kế toán giảm được sự ghi chép
trùng lắp giữa kho và phòng kế toán.
TK 157, 632
TK 642, 3381
TK 632
TK 154
TK 412
TK 642,1381
TK 155
Sx hoặc thuê ngoài gia công, chế biến nhập kho
TP gửi bán, ký gửi hoặc hàng đã bán bị trả lại
Thành phẩm phát hiện thừa khi kiểm kê
TP xuất bán, đổi, biếu tặng, trả lương cho công nhân viên
Thành phẩm thiếu khi kiểm kê
Đánh giá tăng
Đánh giá giảm
TK 128, 222
TK 412
Xuất TP đi góp vốn LD
CL giảm CL tăng
(Trị giá vốn góp)
TP xuất gửi bán, ký gửi
TK 157
- Công việc tiến hành đều trong tháng tạo điều kiện kiểm tra thường xuyên
và có hệ thống của kế toán đối với thủ kho, đảm bảo số liệu chính xác kịp thời.
Nhược điểm: Nếu có nhầm lẫn, sai sót thì khó phát hiện, khó kiểm tra. Do
đó chỉ thích hợp ở doanh nghiệp có kế toán và thủ kho có trình độ và tay nghề
thành thạo.
4. Kế toán tổng hợp thành phẩm

Phương pháp KKĐK là phương pháp không theo dõi thường xuyên liên tục
tình hình biến động của các loại TP mà chỉ phản ánh trị giá tồn kho đầu kỳ và
cuối kỳ của chúng trên cơ sở kiểm kê cuối kỳ, xác định lượng TP tồn kho thực tế
từ đó tính ra giá trị TP xuất trong kỳ. (Cụ thể: Đầu kỳ kế toán chuyển giá trị TP tồn
kho đầu kỳ vào TK 632, TP hoàn thành nhập kho hoặc đem tiêu thụ ngay thì đưa vào
TK 631. Cuối kỳ tiến hành kiểm kê và xác định giá trị TP tồn kho cuối kỳ. Sau đó, kế
toán xác định giá trị TP đã tiêu thụ trong kỳ vào TK 911).
 .Tài khoản sử dụng:
- TK 155 "Thành phẩm": Phản ánh giá thực tế thành phẩm tồn kho.
Bên Nợ: Kết chuyển giá thực tế TP tồn kho cuối kỳ.
Bên Có: Kết chuyển giá thực tế TP tồn kho đầu kỳ.
Dư Nợ: Giá thực tế thành phẩm tồn kho cuối kỳ.
- TK 157 "Hàng gửi bán": Phản ánh giá thực tế HGB tồn cuối kỳ.
Bên Nợ: Kết chuyển giá thực tế TP gửi bán tồn cuối kỳ.
Bên Có: Kết chuyển giá thực tế TP gửi bán tồn đầu kỳ.
Dư Nợ: Giá thực tế TP gửi bán tồn cuối kỳ.
- TK 632 "Giá vốn hàng bán": Phản ánh giá thực tế thành phẩm nhập
-xuất trong kỳ.
Bên Nợ: K/c giá thực tế thành phẩm tồn kho và gửi bán đầu kỳ.
Giá thực tế thành phẩm hoàn thành trong kỳ.
Bên Có: K/c giá thực tế thành phẩm tồn kho và gửi bán cuối kỳ.
Giá thực tế thành phẩm tiêu thụ trong kỳ.
Tài khoản này không có số dư cuối kỳ.
 Trình tự hạch toán (Sơ đồ số 5)
Sơ đồ 5: TRÌNH TỰ HẠCH TOÁN THÀNH PHẨM
( Theo phương pháp kiểm kê định kỳ)
III. TỔ CHỨC HẠCH TOÁN TIÊU THỤ THÀNH PHẨM
1. Các khái niệm liên quan đến tiêu thụ thành phẩm
Tuỳ theo phương pháp tính thuế GTGT mà nội dung của các chỉ tiêu liên
quan đến chi phí, doanh thu, và kết quả có sự khác nhau.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status