TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ
NHỎ VIỆT NAM
I. KHÁI NIỆM VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1. Tiêu chí phân loại
Việc đưa ra khái niệm chuẩn xác về doanh nghiệp vừa và nhỏ có ý nghĩa
lớn để xác định đối tượng được hỗ trợ. Nếu phạm vi hỗ trợ đối tượng quá rộng
sẽ không đủ sức bao quát và tác dụng hỗ trợ sẽ giảm đáng kể. Còn nếu phạm vị
quá nhỏ sẽ không có ý nghĩa và ít tác dụng trong nền kinh tế. Vì vậy chúng ta
cần chú trọng nghiên cứu tiêu thức phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy
nhiên, không có một tiêu thức thống nhất để phân loại doanh nghiệp vừa và
nhỏ cho tất cả các nước vì điều kiện kinh tế của mỗi nước là khác nhau và ngay
trong một nước, sự phân loại cũng khác nhau tuỳ theo từng thời kỳ, từng
ngành nghề, vùng lãnh thổ.
Có hai tiêu chí phổ biến để phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ: tiêu chí
định tính và tiêu chí định lượng.
Nhóm tiêu chí định tính: dựa trên những đặc trưng cơ bản của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ như: chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít,
mức độ phức tạp của quản lý thấp...Nhóm chỉ tiêu này có ưu thế là phản ánh
đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế. Do đó, nó
thường chỉ làm cơ sở để tham khảo, kiểm chứng mà ít được dùng để phân loại
trong thực tế.
Nhóm tiêu chí định lượng: Có thể dùng các tiêu chí như : số lao động, giá
trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận.
1.1. Các yếu tố tác động tới việc phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Sự phân loại doanh nghiệp theo quy mô lớn, vừa hay nhỏ thì mang tính
tương đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như :
- Trình độ phát triển kinh tế của một nước: Trình độ phát triển càng cao
thì trị số các tiêu chí càng tăng. Như vậy, chỉ số về số lao động, vốn để phân loại
doanh nghiệp vừa và nhỏ của các nước có trình độ phát triển kinh tế thấp sẽ
nhỏ hơn các nước phát triển. Chẳng hạn, ở Nhật Bản, doanh nghiệp có 300 lao
động và một triệu USD tiền vốn được coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ còn các
, I
d
. Cần lưu ý thêm là giữa các yếu tố như vốn lao động có sự thay thế lẫn
nhau.
Có thể xác định quy mô doanh nghiệp thuộc một ngành và trên một địa
bàn cụ thể F (S
ba
) theo công thức:
F(S
ba
) = I
b
.I
a
xS
a
I
d
Vấn đề hiện nay cần xác định: S
a
và các hệ số tương ứng như thế nào?
Ngoài ra, mục đích phân loại cũng có tác động tới việc phân loại. Vì việc
phân loại để định mức cấp phát hay để hỗ trợ là hoàn toàn khác nhau.
1.2. Tiêu chí và cách phân loại ở nước ta hiện nay.
Câu hỏi đầu tiên đặt ra để xác định tiêu chí đó là “cách tiếp cận”. Ở Việt
Nam, trước đây, khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được dùng để phân
loại DNNN với mục đích xác định mức lương cấp phát trong cơ chế bao cấp và
định mức lương cho các giám đốc doanh nghiệp vừa và nhỏ. Lúc này, tiêu thức
phân loại chủ yếu là số lao động trong biên chế và theo phân cấp TW-ĐF.
Theo văn bản pháp lý mới nhất hiện hành (áp dụng từ 1999 đến nay) thì
Doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có:
+ Lao động từ 31-200 người.
+ Vốn đăng ký dưới 4 triệu USD.
• Liên Bộ lao động và Bộ Tài chính coi doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có :
+ Lao động thường xuyên dưới 100 người.
+ Doanh thu hàng năm dưới 10 tỷ đồng.
+ Vốn pháp định dưới 1 tỷ đồng.
• Quỹ hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc chương trình Việt Nam - EU hỗ
trợ các doanh nghiệp có số lao động từ 10 - 500 người, vốn điều lệ từ 50 ngàn
đến 300 ngàn USD.(
2
).
• Quỹ phát triển nông thôn (thuộc Ngân hàng Nông nghiệp). Coi doanh
nghiệp vừa và nhỏ là các doanh nghiệp có:
- Giá trị tài sản không vượt quá 2 triệu USD.
2 Việt nam Economic issue 47, september 1997
- Lao động không quá 500 người.
Một phần nguyên nhân của các tiêu chí rất khác nhau trên là do Nhà
nước chưa chính thức ban hành một tiêu chí chung để áp dụng trong tất cả các
ngành nhằm xác định đối tượng thuộc loại doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Vấn đề thứ hai đặt ra cho việc xác định tiêu chí là đánh giá mức độ quan
trọng của các tiêu chí đó.
Kết quả điều tra được tiến hành ở các tỉnh phía Bắc là khá thống nhất
trong lĩnh vực sản xuất cũng như thương mại, dịch vụ. Đó là: vốn sản xuất
được coi là quan trọng nhất (chiếm 55,2% số đối tượng được hỏi), doanh thu
đứng vị trí thứ 2 và số lao động thường xuyên xếp thứ 3.(xem thêm bảng)
Bảng 1: Mức độ quan trọng của các tiêu chí phân loại doanh nghiệp
vừa và nhỏ theo kết quả điều tra.
Tiêu chí Tỷ lệ % theo mức độ quan trọng giảm
dần.
tạm thời quy định thống nhất tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ ở
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là những doanh nghiệp có vốn điều
lệ dưới 5 tỷ và số lao động thường xuyên dưới 200 người.
Quy định cũng nêu rõ, tuỳ điều kiện quá trình kinh tế-xã hội mà áp dụng
đồng thời cả hai tiêu chí vốn và lao động hoặc một trong hai tiêu chí nói trên.
Tiêu chí này chỉ là quy ước hành chính để xác định cơ chế chính sách hỗ
trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Xét về định hướng lâu dài, quy định trên là phù hợp. Tuy nhiên trong giai
đoạn trước mắt, cần tiếp tục nghiên cứu khả thi chi tiết hơn các tiêu chí. Chẳng
hạn, chúng ta có thể tách tiêu chí áp dụng riêng cho lĩnh vực thương mại , lĩnh
vực xây dựng công nghiệp... như phần trên đã trình bày.
- Theo tham khảo phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ của các nước
trong khu vực và trong thời kỳ có trình độ phát triển tương ứng với Việt Nam
hiện nay (chẳng hạn thời kỳ những năm 70 của Đài Loan, Hàn Quốc).
Trên cơ sở những luận giải đó, có thể đi đến ước lượng tiêu chí để phân
loại doanh nghiệp vừa và nhỏ như bảng sau:
Bảng 2: Các tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam.
Tiêu chí Công nghiệp Thương mại , dịch vụ
DNV&N DN nhỏ DNV&N DN nhỏ
Vốn sản xuất (tỷ đồng) <5 < 1 < 2 < 1
Lao động thường xuyên < 300 <50 <200 < 30
2. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ.
2.1. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ ở một số nước trên thế giới.
Như trên đã nêu, việc phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như các
tiêu chí phụ thuộc vào nhiều yếu tố: phù hợp với trình độ phát triển, điều kiện
và mục đích của mỗi nước. Nhìn chung, cách phân loại ở mỗi nước có nhiều
điểm khác nhau. Tuy vậy, vẫn có một số điểm giống nhau. Chẳng hạn, việc phân
loại doanh nghiệp vừa và nhỏ của các nước nhằm hỗ trợ doanh nghiệp này
phát triển để thực hiện các mục đích như:
- Huy động mọi tiềm năng vào sản xuất.
doanh thu dưới 250.000 USD/năm, số lao động dưới 20 người.
2.2. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam.
Như đã nghiên cứu ở mục 1.2, mặc dù việc xác định các tiêu chí được
thực hiện rất có hệ thống nhưng có nhiều chỗ vận còn mang tính ước lệ và còn
phải đưa ra nhiều trường hợp ngoại lệ. Có rất nhiều điểm khác nhau về các đối
tượng, các chủ thể kinh doanh được coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thí dụ, có
ý kiến cho rằng hộ sản xuất nông nghiệp cũng cần được coi là doanh nghiệp
vừa và nhỏ vì nó thoả mãn các tiêu chí đặt ra.
Khung pháp luật kinh doanh ở nước ta hiện được coi là vừa thiếu vừa
không rõ ràng. Đây chỉ là một thực tế khách quan, chưa thể khắc phục ngay
được. Theo pháp luật hiện hành thì nhiều chủ thể tiến hành hoạt động sản xuất
kinh doanh vẫn chưa được coi là một doanh nghiệp. Có nghĩa là thuật ngữ
doanh nghiệp được dùng để chỉ các chủ thể có đăng ký kinh doanh, tức là
doanh nghiệp có tư cách pháp nhân. Khi các văn bản quy phạm pháp luật dùng
thuật ngữ doanh nghiệp là để chi doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, tức là có
đăng ký với cơ quan nhà nước theo quy định.
Như vậy, có thể nói, doanh nghiệp vừa và nhỏ là những cơ sở sản xuất có
tư cách pháp nhân, có quy mô doanh nghiệp (tính theo các tiêu thức khác
nhau) trong giới hạn nhất định đối với từng giai đoạn cụ thể.
Theo định nghĩa này thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam không
phân biệt các thành phần kinh tế. Các thành phân kinh tế bao gồm:
- Các doanh nghiệp nhà nước có quy mô vừa và nhỏ được thành lập theo
Luật Doanh nghiệp nhà nước.
- Công ty cổ phần, công ty TNHH, các doanh nghiệp tư nhân được thành
lập và đăng ký hoạt động theo Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân và
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
- Các hợp tác xã có quy mô vừa và nhỏ được thành lập và hoạt động và
đăng ký hoạt động theo Luật Hợp tác xã.
- Các hộ tư nhân và nhóm sản xuất kinh doanh dưới vốn pháp định đăng
ký theo Nghị định 66 - HĐBT.
nghiệp nhỏ dưới 1 tỷ).
+ Lao động: dưới 300 người
( doanh nghiệp nhỏ dưới 50 người)
Doanh
nghiệp vừa
và nhỏ
Thương mại, dịch vụ
+ Vốn: dưới 3 tỷ đồng (doanh
nghiệp nhỏ dưới 1 tỷ đồng).
+Lao động: dưới 200 người (doanh
nghiệp nhỏ dưới 30 người)
Theo cách xác định trên, ở Việt Nam có 88,2% số các doanh nghiệp là
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở mọi hình thức, theo tổng điều tra các cơ sở kinh tế
năm 2001.
Khái niệm nêu trên mới chỉ là những ý kiến bước đầu, nó sẽ hoàn chỉnh
hơn cùng với sự phát triển của nền kinh tế.
3. Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Các nghiên cứu gần đây thường nhấn mạnh tầm quan trọng của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với nền kinh tế mỗi quốc gia. Trong thực tế,
không ít ngành công nghiệp lớn được hỗ trợ đắc lực bởi các doanh nghiệp vừa
và nhỏ. Những sự đóng góp đó thể hiện qua những vai trò sau:
3.1. Đóng góp vào kết quả hoạt động kinh tế của nền kinh tế quốc dân.
Giá trị sản lượng công nghiệp do các doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo ra
năm 1999 là 5.315 tỷ đồng, chiếm 26% giá trị tổng sản lượng toàn ngành công
nghiệp.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
năm 1999 đạt 29.000 tỷ bằng 78% tổng mức bán lẻ của thị trường xã hội.
Theo thống kê, giá trị hàng hoá luân chuyển năm 1999, các doanh
nghiệp vừa và nhỏ đã vận chuyển hàng hoá với khối lượng 32,2 triệu tấn
chiếm 64% tổng khối lượng hàng hoá lưu chuyển của các địa phương.
rộng quy mô sản xuất. Tuy nhiên, một nghịch lý hiện nay là các doanh nghiệp
thiếu vốn trầm trọng trong khi vốn trong dân còn tiềm ẩn nhưng không huy
4 Niêm giám thống kê năm 1995 - NXB Thống kê, H Nà ội 1996