Thực trạng rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương
thức thanh toán tín dụng chứng từ tại ngân hàng ngoại
thương Hải Phòng
I.MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HẢI
PHÒNG
1.1.Quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng Ngoại thương
Hải Phòng
Tiền thân của NHNT Hải Phòng là Phòng quản lý ngoại hối
(1956-1957), sau chuyển thành Sở quản lý ngoại hối. Sở quản lý
ngoại hối với chức năng quản lý nhà nước là chủ yếu. Hầu hết các
nghiệp vụ được thực hiện tại Cục ngoại hối nay là Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam. Sau khi NHNT VN được thành lập, phòng quản lý
ngoại hối Hải Phòng về mặt đối ngoại được giới thiệu ra nước ngoài
là một chi nhánh thuộc hệ thống NHNT VN, thực hiện một số nghiệp
vụ đối ngoại tại chỗ là thanh toán tiểu ngạch giữa Hải Phòng với
Hồng Kông, Trung Quốc và thanh toán tiền ký ngân của các hãng tàu
biển nước ngoài tới cảng Hải Phòng.
Thi hành quyết định của Hội đồng Chính phủ tháng7/1969, Chi
nhánh nghiệp vụ Ngân hàng Cảng Thành phố được thành lập. Về mặt
đối ngoại vẫn là CN NHNT Hải Phòng thuộc hệ thống NHNT VN và có
con dấu riêng, nhưng về mặt tổ chức chịu sự lãnh đạo của NHNT VN.
Phòng quản lý ngoại hối được sát nhập với chi nhánh nghiệp vụ Ngân
hàng Cảng.
Mặc dù mạng lưới giao dịch với Ngân hàng nước ngoài tuy còn
hạn hẹp nhưng Ngân hàng đã mở rộng quan hệ thanh toán với nhiều
nước trên thế giới, chủ yếu là Liên Xô và các nước Đông Âu cũ. Nét
nổi bật trong giai đoạn này là Chi nhánh đã đảm nhiệm toàn bộ khâu
thanh toán cho các đầu mối Công ty cấp I làm nhiệm vụ tiếp nhận
hàng nhập và dưới sự lãnh đạo trực tiếp của NHNT VN. Chi nhánh đã
cùng với công ty VOSCO ký kết các văn bản thực hiện thuê định hạn
và cho vay mua hàng loạt tàu biển góp phần đưa năng lực tàu biển
toán nguyên tệ đã có tác động tích cực đến hoạt động kinh doanh của
chi nhánh.
Nhằm thực hiện, thắng lợi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
10 năm 1991-2000, kế hoạch 5 năm 2001-2005 và hoà nhập nhanh
chóng với cơ chế thị trường, tập thể CBCNV đã cố gắng quyết tâm
cao, tập trung trí tuệ với tinh thần chủ động sáng tạo, đề ra những
chiến lược kinh doanh thích hợp như chính sách khách hàng, chính
sách lãi suất, tỷ giá ngoại tệ, đổi mới công nghệ ngân hàng, công tác
cán bộ...để hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch được giao.
Hai mươi lăm năm xây dựng và trưởng thành là một quá trình
đổi mới toàn diện cả về tổ chức, con người và cơ sở vật chất kỹ thuật,
công nghệ. Những năm đầu thành lập, cơ sở vật chất còn hạn hẹp,
phương tiện làm việc giao dịch còn thô sơ nghèo nàn, số cán bộ công
nhân viên chỉ có 30 người, thì nay số CBCNV lên tới 80 người với
chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, được trang bị phương tiện làm
việc hiện đại đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế. Từ chỗ chỉ có 48 tổ
chức kinh tế mở tài khoản giao dịch nay đã có tới 431 đơn vị giao
dịch tiền gửi, tín dụng, thanh toán và có tới 9376 cá nhân mở tài
khoản giao dịch tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu thanh toán.
Khối lượng thanh toán không dùng tiền mặt qua Ngân hàng tăng lên
đáng kể, năm 1990 chỉ đạt 1960 tỷ đồng thì năm 2000 đã đạt 6498 tỷ
đồng và năm 2001 lên đến 8250 tỷ đồng về tổng giá trị thanh toán
không dùng tiền mặt.
Công tác thanh toán đối ngoại cũng được mở rộng, khi mới thành
lập Chi nhánh chỉ quan hệ với hơn 40 nước thì nay đã có giao dịch
đại lý với trên 100 nước trên thế giới về thanh toán, khoá mã điện,
mẫu chữ ký...Do mở rộng quan hệ giao dịch nên chi nhánh đã thực
hiện việc thanh toán tiền hàng XNK đa dạng và hiện đại hơn như mở
thư tín dụng trả tiền ngay, chả chậm, chuyển tiền điện tử, nhờ thu
chứng từ đều đảm bảo nhanh chóng, thuận lợi an toàn cho khách
kém, quyết tâm đuổi kịp, hoà nhập với nền kinh tế các nước trong khu
vực và thế giới.
1.2.Cơ cấu tổ chức
Ngân hàng Ngọai thương Việt Nam là một ngân hàng chuyên
kinh doanh phục vụ xuất nhập khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại.
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam ra đời ngày 1/4/1963 khi đất
nước chưa thống nhất với một Hội Sở chính tại Hà Nội. Ngân hàng
Ngoại thương Hải Phòng là một trong 23 chi nhánh trong hệ thống
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
Có mô hình tổ chức như sau:
Biểu 1: Sơ đồ bộ máy quản lý VIETCOMBANK Hải Phòng
Phòng ngân quỹ
GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
Phòng Kinh doanh
Ban kiểm soát
Phòng Hành chính tổ chức
Phòng
tín dụng
Phòng giao dịch
Phòng T.toán
Q.tế
Phòng kế toán
PHÓ GIÁM ĐỐC
Từ mô hình trên ta thấy mỗi phòng ban chịu sự chỉ đạo trực tiếp
của giám đốc hoặc phó giám đốc. Mỗi phòng có một trưởng phòng
điều hành và có một số phó trưởng phòng giúp việc.
1.3.Đặc điểm kinh tế xã hội tác động đến hoạt động kinh
doanh của ngân hàng
những thuận lợi thì Việt Nam đang đứng trước một thách thức lớn.
Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển quan hệ
thương mại. Trong những năm qua cùng với sự tham gia của Việt
Nam váo các tổ chức quốc tế, người ngân hàng Ngoại thương Hải
Phòng cũng đã mở rộng quan hệ với các ngân hàng trên thế giới,
không ngừng đưa ra các loại hình dịch vụ mới và phương tiện thanh
toán quốc tế đáp ứng nhu cầu thanh toán.
Ngân hàng là một tổ chức kinh tế chịu quản lý vĩ mô của nhà
nước trong hành lang hẹp. Vì vậy bất cứ sự thay đổi nào trong chính
sách quản lý của nhà nước, của ngân hàng nhà nước đều ảnh hưởng
đến hoạt động của ngân hàng. Chính sách quản lý vĩ mô của nhà nước
như chính sách về lãi suất dự trữ bắt buộc, cơ chế cho vay, thế chấp,
bảo lãnh cũng tác động hoạt động mạnh mẽ của ngân hàng. Ngoài ra
sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng trên địa bàn thành phố
cũng gây cho ngân hàng không ít khó khăn. Vì vậy vị thế độc quyền
trong thanh toán quốc tế không còn nữa. Để thu hút khách hàng ngân
hàng Ngoại Thương Hải Phòng từng bước đổi mới công nghệ để cạnh
tranh với các ngân hàng liên doanh trong thành phố. Ngân hàng
không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ. Cũng từ năm
1990,cùng với việc cải tổ hệ thống ngân hàng trong cả nước ngân
hàng Ngoại Thương Hải Phòng cũng sắp xếp tổ chức lại bộ máy hoạt
động cũng như loại hình nghiệp vụ cho phù hợp với tính chất và chức
năng của ngân hàng thương mại quốc doanh trong thời kỳ mới.
Có thể nói các đặc điểm kinh tế xã hội trên đây tác động mạnh
mẽ đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng Ngoại Thương Hải
Phòng.
1.4.Một số kết quả kinh doanh chủ yếu
1.4.1 - Huy động vốn:
Từ đầu năm đến nay mặc dù lãi suất huy động liên tục giảm,
nhất là lãi suất ngoại tệ nhưng vốn huy động vẫn tăng, đến cuối năm
- Cho vay trung dài hạn: trong năm chỉ đầu tư thêm 1 dự toán
mới - dây truyền thứ ba, mở rộng sản xuất bao bì cho nhà máy bao bì
PP Hải phòng. Một số dự án cũ thu hồi nợ khó khăn như dự án xây
dựng khách sạn & văn phòng cho công ty liên doanh HARBOUR VIEW;
hai dự án đầu tư chính phủ chỉ dịnh - khó khăn thu lãi như vậy.
- Nợ quá hạn: từ đầu năm đến nay, nợ quá hạn phát sinh 10,6 tỷ
đồng (chủ yếu từ công ty Sông Hồng). Chi nhánh đã tích cực thu hồi
nợ quá hạn và thu được 23,5 tỷ đồng nợ quá hạn, xử lý giãn nợ cho
công ty thảm len và XN chế biến súc sản XK được hơn 10 tỷ đồng và
sử lý nợ từ quỹ dự phòng rủi ro được hơn 2,3 tỷ đồng. Do vậy dư nợ
quá hạn cuối năm còn hơn 10 tỷ đồng, chiếm 3,9 % trên tổng dư nợ.
- Ngoài những khoản nợ trên, chi nhánh cũng khó khăn thu hồi
các khoản nợ được khoanh, giãn nợ và những khoản lãi treo từ trước
đến nay.
1.4.3 - Thanh toán XNK:
- Thanh toán hàng XK 27,9 triệu USD giảm 8%. Trong đó, thanh
toán bằng phương thức L/C là 8,9 triệuUSD, bằng89%; thanh toán
chuyển tiền đến với hàng hoá gần 19triệu USD, bằng 93%. Kim ngạch
XK qua chi nhánh giảm so với năm trước do một số doanh nghiệp XK
các mặt hàng giảm như lợn sữa, hàng may mặc, giày dép.
- Thanh toán NK đạt 79,7 triệu USD, tăng 35% so với cùng kì năm
trước.Trong đó, thanh toán bằng L/C đạt 54 triệu USD, tăng 52%;
thanh toán chuyển tiền đi về hàng hoá là 9,4 triệu USD, tăng 5%; nhờ
thu bằng chứng từ đạt 16,3 triệu USD, tăng 12%. Giá trị thanh toán
hàng NK tăng chủ yếu về mặt hàng thép tấm, phôi thép, nguyên liệu
thuốc lá, hoá chất.
1.4.4 Kinh doanh ngoại tệ:
Từ khi thực hiện quy chế điều hoà mua bán ngoại tệ trong hệ
thống Ngân hàng Ngoại thương, doanh số mua và bán ngoại tệ của
chi nhánh đều tăng đáng kể. Doanh số mua vào đạt 73,1 triệu USD
- Giá trị thanh toán không dùng tiền mặt năm 2001 đạt 8.180
ngàn tỷ đồng, tăng 26%so với năm 2000.
Số lượng khách hàng giao dịch lên đến 10.072 khách hàng, tăng
từ 10-20% so với năm trước. Trong đó DNNN là 222 khách hàng, tăng
16%; cá nhân là 9.604 khách hàng, tăng 20%.
2.THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC
TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN
HÀNG NGOẠI THƯƠNG HẢI PHÒNG.
2.1 Tình hình hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng
trong thời gian qua.
Với chủ trương phát triển nền kinh tế mở, nhằm nhanh chóng
đưa nước ta hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới,
quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam không ngừng tăng lên cả về
chất và lượng. Kết quả đó phải kể đến những đóng góp không nhỏ của
ngân hàng Việt Nam trong vai trò là trung gian thanh toán giữa các
doanh nghiệp trong nước và đối tác nước ngoài.
Trong sự phát triển chung của cả nước, thành phố cảng Hải
Phòng cũng không nằm ngoài guồng quay ấy. Và ngân hàng Ngoại
Thương Hải Phòng đã đóng góp vai trò không nhỏ trong việc thúc đẩy
hoạt động kinh tế đối ngoại của thành phố. Trong thanh toán quốc tế
chuyển tiền, nhờ thu và tín dụng chứng từ là các phương thức thanh
toán được các nhà xuất nhập khẩu sử dụng phổ biến. Trước năm
1990, thanh toán xuất nhập khẩu với các nước XHCN là chủ yếu theo
phương thức ghi sổ và thanh toán đa biên qua ngân hàng hợp tác
kinh tế quốc tế (MBES) Moscow còn hình thức thanh toán tín dụng
chứng từ là không đáng kể. Bước sang kinh tế thị trường từ năm
1990 các phương thức thanh toán kiểu này không còn tồn tại,
phương thức thanh toán hàng đổi hàng và nhờ thu không còn nhiều.
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ đã trở thành một phương
thức chiến ưu thế, giá trị thanh toán hàng năm không ngừng tăng. Có
Số
lượng
Giá trị Tăng
giảm
% Số
lượng
Giá trị Tăng
giảm
%
1999 140 12.716 131 7.733
2000 130 15.600 2.884 23 288 1.053 2.320 30
2001 135 11.732 -3.868 -25 286 8.941 -1.112 -11
Nguồn: Báo cáo tình hình thanh toán xuất nhập khẩu tại
Vietcombank Hải Phòng
c th ta cú biu th hin doanh s thanh toỏn L/C xut
nhp khu ti Vietcombank Hi Phũng
Doanh số thanh toán L/ C tại Vietcombank Hải Phòng
2955
1
3546
2
5399
8
773
3
1005
3
894
1
0
như công ty da giày, lecolex, công ty cổ phần giấy, công ty dịch vụ tàu
biển...
Doanh số thanh toán xuất khẩu qua Vietcombank Hải Phòng
năm 2001 đạt 8.941 nghìn USD. Số mở tăng 3,8% tổng giá trị mở
giảm 2,75%, số bộ chứng từ giảm thanh toán giảm 0,69%, tổng giá
trị thanh toán giảm 11%. Nguyên nhân là một số doanh nghiệp không
ký được hợp đồng xuất khẩu. Ngoài ra một số đơn vị quan hệ lâu năm
cũng giảm giá trị thanh toán. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là lợn
sữa, hải sản, quần áo, giấy, đồ hộp... Một số thị trường xuất khẩu chủ
yếu Nhật, Hồng Kông, Trung Quốc...trong đó thị trường Nhật chiếm
51% tổng giá trị xuất khẩu, thị trường Hồng Kông 33%. Doanh
nghiệp có giao dịch lớn nhất là Hạ Long Simexco chiếm 32,35%. Năm
2001 có 17 đơn vị giao dịch thanh toán.
Nhìn chung tổng kim ngạch xuất nhập khẩu qua Vietcombank
Hải Phòng năm 2001 tăng so với năm 2000 là 38% mặc dù giá trị
xuất khẩu có giảm. Ngân hàng cần phát huy hơn nữa nâng cao giá
trị xuất nhập khẩu và thu hút được nhiều khách hàng mới đến giao
dịch.
2.2 Thực trạng rủi ro trong thanh toán quốc tế phương
thức thanh toán tín dụng chứng từ
2.2.1 Thực trạng rủi ro trong thanh toán hàng xuất khẩu
phương thức thanh toán tín dụng chứng từ