LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 64

Giá trị tín dụng T+L
Trái chủ(Creditor)Người cho vay(Lender) Thụ trái(Debtor)Người đi vay(Borrower)
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ HOẠT ĐỘNG PHÂN
TÍCH TÀI CHÍNH KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tín dụng ngân hàng
Lịch sử phát triển cho thấy, tín dụng là một phạm trù kinh tế và cũng là
sản phẩm hàng hoá. Nhưng chính nó lại là động lực quan trọng thúc đẩy nền
kinh tế hàng hoá phát triển lên giai đoạn cao hơn. Tồn tại và phát triển qua
nhiều hình thái kinh tế - xã hội, ngày nay tín dụng được hiểu theo những định
nghĩa cơ bản sau:
Định nghĩa 1: Tín dụng là quan hệ vay mượn trên nguyên tắc hoàn trả
Định nghĩa 2: Tín dụng là phạm trù kinh tế phản ánh quan hệ sử dụng vốn
lẫn nhau giữa các pháp nhân và thể nhân trong nền kinh tế hàng hóa
Định nghĩa 3: Theo quan điểm của Marx: tín dụng là quá trình chuyển
nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu đến người sử dụng. Sau
một thời gian nhất định thu hồi lại lượng giá trị lớn hơn ban đầu
Qua các định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu: tín dụng là một quan hệ
giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho
bên kia được sử dụng trọng một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền
hoặc tài sản cam kết hoàn thành theo thời hạn đã thoả thuận
Quan hệ tín dụng có thể diển tả theo mô hình sau:

Trong quan hệ giao dịch này thể hiện những nội dung sau:
- Trái chủ hay còn gọi là người cho vay chuyển giao cho người thụ trái hay
còn gọi là người đi vay một lượng nhất định
- Người đi vay chỉ được quyền sử dụng tạm thưòi trong một thời gian nhất
định
- Giá trị được hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay hay nói
cách khác, người đi vay phải trả thêm phần lợi tức. Marx viết"Đem tiền cho vay
với tư cách là một việc có đặc điểm sẽ quay trở về điểm xuất phát của nó, mà
vẫn giữ được nguyên vẹn giá trị của nó và đồng thời lại lớn lên thêm trong quá

lệch…
Có nhiều loại rủi ro tác động tới Ngân hàng: rủi ro tín dụng, rủi ro hối
đoái, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản… trong đó rủi ro tín dụng là loại rủi ro
gắn liền với hoạt động cho vay. khi thực hiện một hoạt động tài trợ cụ thể,
Ngân hàng cố gắng phân tích các yếu tố của người vay sao cho độ an toàn là
cao nhất. Và nhìn chung Ngân hàng quyết định cho vay khi thấy rằng rủi ro tín
dụng sẽ không xảy ra. Tuy nhiên, không thể dự đoán chính xác các khả năng sẽ
xảy ra hơn nữa không phải mọi cán bộ Ngân hàng có khả năng phân tích tín
dụng tốt. Do vậy, trên quan điểm ngân hàng, rủi ro tín dụng là không thể tránh
khỏi, là khách quan, chỉ có thể đề phòng hạn chế chứ không thể loại trừ.
Rủi ro tín dụng là tình trạng người vay không trả hoặc không hoàn trả
đúng hạn hoặc không trả đầy đủ gốc và lãi cho ngân hàng. Có nhiều nguyên
nhân dẫn đến rủi ro tín dụng nhưng có những nguyên nhân chính sau:
- Những nguyên nhân bất khả kháng: như thiên tai, chiến tranh những
thay đổi tầm vĩ mô vượt quá tầm kiểm soát của người vay lẫn cho vay…
- Những nguyên nhân thuộc về chủ quan người vay: liên quan đến trình
độ, khả năng quản lý kinh doanh của khách hàng, cũng có cả trường hợp
người vay chây ì không trả nợ.
- Những nguyên nhân thuộc về Ngân hàng: trước hết do sự yếu kém về
chuyên môn nghiệp vụ nên có nhiều thiếu sót trong quá trình thu thập thông
tin và hạn chế trong quá trình phân tích thông tin về khả năng tài chính, kỹ
thuật, khả năng quản lý kinh doanh của người vay, đạo đức người vay… dẫn
đến quyết định cho vay không đúng. Sự yếu kém trong quá trình quản lý giám
sát các khoản vay cũng tạo nguy cơ không thu được tiền. Ngoài ra có nhiều cán
bộ ngân hàng đã tiếp tay với khách hàng, chiếm dụng vốn của ngân hàng.
- Trong ba nhóm nguyên nhân trên thì nhóm đầu khó phòng nhưng ít
xảy ra, chiếm tỷ trọng nhỏ. Nhóm thứ hai thường xuyên xảy ra nhất chiếm tỷ
trọng lớn. Nhóm thứ ba không nhiều nhưng khó khắc phục, thường kết hợp với
nhóm thứ hai.
- Đứng trước thực trạng cho vay là nghiệp vụ chủ đạo mà rủi ro tín

mại
1.3.1 Các thông tin sử dụng trong phân tích tài chính khách hàng
Phân tích tình hình tài chính cụ thể là phân tích các báo cáo tài chính,
hoạt động của khách hàng được cụ thể hoá qua các chỉ tiêu về tình hình tài
chính và chúng được thể hiện trên các báo cáo của kế toán vào cuối mỗi kỳ
kinh doanh, thường là một niên độ. Nội dung của các báo cáo tài chính phản
ánh tình hình tổng quát về tài sản, sự hình thành tài sản, sự vận động và thay
đổi của chúng qua mỗi kỳ kinh doanh của khách hàng.
Các thông tin được dùng để phân tích tài chính khách hàng là:
- Bảng cân đối kế toán: còn gọi là bảng tổng kết tài sản là báo cáo tài
chính tổng hợp, mô tả thực trạng tài chính của một khách hàng tại một thời
điểm nào đó. Nội dung của bảng cân đối kế toán khái quát tình trạng tài chính
của một khách hàng tại một thời điểm nhất định thường là cuối kỳ kinh
doanh.. Kết cấu của bảng được chia thành hai phần luôn bằng nhau: tài sản và
nguồn vốn tức nguồn hình thành nên tài sản gồm nợ phải trả cộng với vốn chủ
sở hữu.
Bảng cân đối kế toán là một tư liệu quan trọng bậc nhất giúp các
nhàphân tích đánh giá được tổng quát tình hình tài chính, khả năng thanh
toán, cơ cấu vốn và trình độ sử dụng vốn của khách hàng. Tuy nhiên mặt hạn
chế của bảng cân đối kế toán cũng như các báo cáo tài chính nói chung làm
ảnh hưởng đến công tác phân tích tình hình tài chính đó là dữ liệu mà chúng
cung cấp thuộc về quá khứ trong khi phân tích lại hướng đến tương lai. Người
ta luôn muốn biết liệu một kết quả nào đó của năm nay có được lặp lại vào
năm tới không?
Thí dụ: Bảng 1: Bảng cân đối kế toán (rút gọn) của Tổng công ty phát
triển nhà và đô thị:
Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu 2001 2002 2003
A- Tài sản 436391 831901 1128010
I.Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn 315779 703027 997489

nguyên tắc kế toán về ghi nhận doanh thu, theo đó doanh thu được ghi nhận
khi nghiệp vụ mua bán hoàn thành, tức là khi sở hữu hàng hoá có thể xảy ra
vào một thời điểm khác. nhược điểm này dẫn đến sự cần thiết của báo cáo lưu
chuyển tiền tệ.
Bảng 2: Báo cáo kết quả kinh doanh qua ba năm của Công ty đầu tư phát
triển nhà và đô thị:
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu 2001 2002 2003
Tổng doanh thu 356421 608816 813259
Doanh thu thuần 355141 604503 812857
Giá vốn hàng bán 274207 292201 744989
Lợi nhuận gộp 80934 312302 67868
Chi phí bán hàng 61654 315 38313
Chi phí quản lý doanh nghiệp 8680 28469 29376
Lợi nhuận từ HĐKD 10600 283517 9932
lợi nhuận khác 9564 8646 29791
Tổng lợi nhuận trước thuế 20164 292163 39724
Thuế thu nhập doanh nghiệp
phải nộp
5105 4155 9743
Lợi nhuận sau thuế 15058 288007 29981
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ:
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc
hình thành và sử dụng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của khách hàng.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp các thông tin giúp người sử dụng
đánh giá khả năng thanh toán của khách hàng, phân tích mối quan hệ giữa lợi
tức ròng và lưu chuyển tiền tệ ròng, dự đoán trong tương lai lượng tiền mang
lại từ hoạt động của khách hàng.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ gồm ba phần:
+ Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh

phương pháp so sánh, phương pháp tỷ lệ, phương pháp Dupont, …
*Phương pháp so sánh:
Để áp dụng phương pháp so sánh cần đảm bảo tính có thể so sánh được
của các chỉ tiêu tài chính (Thống nhất về mặt không gian, thời gian, nội dụng,
tính chính xác và đơn vị tính toán…) và theo mục đích phân tích mà xác định
gốc so sánh. Gốc so sánh được chọn là gốc thời gian và không gian, kỳ phân
tích được chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so sánh có thể được lựa
chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân. Nội dung so sánh gồm:
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này và số thực hiện kỳ trước để thấy rõ
hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp
- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu
của doanh nghiệp
- So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu của nghành, của các
doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp mình
đang phân tích tốt hay xấu, được hay là chưa được.
- So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với
tổng thể, so sánh chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả về số
lượng và chất lượng của một chỉ tiêu nào đó.
*Phương pháp so sánh
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài
chính trong các quan hệ tài chính. Sự biến động của các tỷ lệ, cố nhiên là sự
biến động của các đại lượng tài chính. Về nguyên tắc, phương pháp này yêu
cầu phải xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giátình
hình tài chính doanh nghiệp trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của khách hàng với tỷ
lệ tham chiếu. Như vậy, phương pháp so sánh luôn được phối hợp với phương
pháp tỷ lệ. Các tỷ lệ tài chính được phân thành những nhóm đặc trưng, phản
ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp đó
là:
- Nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán nhanh: gồm các chỉ tiêu như: tỷ lệ
thanh toán ngắn hạn, tỷ lệ than toán nhanh, tỷ lệ thanh toán hiện hành

ns¶ tµi Tæng
thu Doanh
x
thu Doanh
rßng L·i
=ROE
Tác dụng của phương trình:
- Cho thấy mối quan hệ và tác động của các nhân tố là các chỉ tiêu hiệu
quả sử dụng tài sản (vốn).
- Cho phép phân tích lượng hoá những nhân tố ảnh hưởng đến suất
sinh lời của vốn chủ sở hữu bằng phương pháp loại trừ.
- Đề xuất các quyết sách phù hợp và hiệu quả căn cứ trên mức độ tác
động khác nhau của từng nhân tố khác nhau để làm tăng tỷ suất sinh lời.
1.3.3 Quy trình phân tích tài chính khách hàng
*Phân tích trước khi cho vay
Trước bất kỳ một yêu cầu vay vốn nào, Ngân hàng luôn phải xem xét,
phân tích kỹ khách hàng, về phương án dự án xin tài trơ. Quá trình này goik là
phân tích tín dụng hay thẩm định tín dụng và thẩm định tài chính khách hàng
là một nội dung trong đó. Dựa trên những nguồn thông tin thu thập được,
Ngân hàng tiến hành phân tích tài chính khách hàng nhằm xác nhập được,
Ngân hàng tiến hành phân tích tài chính khách hàng nhằm xác định được tình
hình sản xuất kinh doanh hiện tại, tiềm năng tương lai và dự báo khả năng tra
nợ của khách hàng. Việc phân tích này có ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định
cho vay hay không của Ngân hàng. phân tích tình hình tài chính bao gồm nhiều
nội dung nhưng tập trung và phân tích khả năng sinh lời và phân tích rủi ro từ
đó xác định khả năng trả nợ.
Khả năng sinh lời của khách hàng là khả năng lâu dài và liên túc của một
khách hàng trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính gắn liền với khả năng
tạo lợi nhuận. Khả năng sinh lợi là vấn đề quan tâm đầu tiên của Ngân hàng.
Nếu người vay kinh doanh không có lãi thì ngay cả việc trả nợ gốc cho Ngân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status