TíN DụNG NGâN HàNG Và VAI TRò CủA TíN DụNG NGâN HàNG TRONG VIệC THựC HIệN CHươNG TRìNH XOá ĐóI GiảM NGHèO - Pdf 64

TíN DụNG NGâN HàNG Và VAI TRò CủA TíN DụNG NGâN HàNG
TRONG VIệC THựC HIệN CHươNG TRìNH XOá ĐóI GiảM NGHèO
I. NỀN KINH TẾ THI TRƯỜNG. NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ KHUYẾT TẬT CỦA NỀN KINH TẾ
THI TRƯỜNG:
Kinh tế thị trường nói chung là hình thức phát triển cao của kinh tế hàng
hoá giản đơn, do vậy, kinh tế thị trường không phải là hình thái đối lập của
kinh tế hàng hoá. Trái lại, chúng giống nhau về thực chất. Kinh tế thị trường là
một hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá, chịu sự chi phối của các quy
luật kinh tế vốn có của nó hay chịu sự chi phối của cơ chế thị trường tự điều
chỉnh.
1. Những ưu điểm của nền kinh tế thị trường:
Trái với mô hình kinh tế chỉ huy, mọi hoạt động kinh tế ở mô hình kinh tế
thị trường do thị trường tự điều tiết. Chủng loại, quy mô, chất lượng, hình
thức của sản phẩm hàng hoá được quyết định bởi quan hệ cung - cầu của xã
hội và được xác định thông qua sự vận động của các hình thái giá trị, lợi
nhuận, lãi suất, giá cả ...
Những ưu điểm của nền kinh tế thị trường bao gồm:
Thứ nhất: Là nền kinh tế vận hành, điều chỉnh bởi hệ thống thị trường
tổng hợp bao gồm thị trường hàng hoá, thị trường tài chính, thị trường lao
động ... và những mối quan hệ phát sinh trên thị trường chứ không phải do
Nhà nước chỉ huy bằng mệnh lệnh.
Thứ hai: Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều được tồn tại và
phát triển một cách bình đẳng. Nhà nước chỉ bao cấp cho một số ít đơn vị kinh
tế tuy hiệu quả kinh tế thấp nhưng buộc phải tồn tại do nhu cầu tồn tại và phát
triển của đất nước, các chế độ bao cấp không còn tồn tại.
Đối với các doanh nghiệp quốc doanh, Nhà nước giao chỉ tiêu nộp Ngân
sách, các đơn vị kinh tế đều phải cố gắng để đạt mức lợi nhuận cao nhất .Do
vậy , cạnh tranh chính là động lực phát triển của nền kinh tế thị trường.
Thứ ba: Khi nền kinh tế chỉ huy, Nhà nước quản lý điều hành nền kinh tế
bằng mệnh lệnh, quan hệ hiện vật là chủ yếu, dẫn đến các quyết định đều duy ý
chí thì nền kinh tể thị trường vận động trên cơ sở của các quy luật kinh tế

trường lấy lợi nhuận làm mục tiêu và cạnh tranh là phương thức hoạt động
chủ yếu. Cạnh tranh trong cơ chế thị trường là phương tiện thúc đẩy quá trình
phát triển kinh tế - xã hội. Mặt khác, cạnh tranh cũng làm tăng nhanh sự phân
hoá xã hội; Trong quá trình cạnh tranh, một số người có điều kiện thuận lợi, có
kiến thức kinh doanh, biết đón nhận thời cơ thì trở thành ông chủ doanh
nghiệp giàu lên nhanh chóng, một số người gặp hoàn cảnh khó khăn lâm vào
cảnh đói nghèo và gia nhập đội quân đi làm thuê.
Có thể nói , nghèo đói là hiện tượng phổ biến của nền kinh tế thị trường
và tồn tại khách quan. ở nước ta , quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường
với xuất phát điểm thấp thì tình trạng đói nghèo càng không thể tránh khỏi,
thậm chí trầm trọng và gay gắt. Tình trạng đói nghèo không còn là cá biệt mà
đã trở thành hiện tượng phổ biến ở nông thôn và các vùng khó khăn, miền
núi...
2. Chuẩn mực phân loại hộ nghèo ở nước ta hiện nay:
Tại quyết định số 1143/ 2000 - LĐTBXH ngày 1/11/2000 của Bộ Lao
động - Thương binh và xã hội điều chỉnh chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2001 -
2005 theo mức thu nhập bình quân đầu người trong hộ cho từng vùng như sau
:
- Vùng nông thôn miền núi hải đảo : 80.000đ/tháng (960.000đ/năm)
- Vùng nông thôn đồng bằng : 100.000đ/tháng (1.200.000đ/năm)
- Vùng thành thị : 150.000đ/tháng (1.800.000đ/năm).
3. Những quan điểm mục tiêu và giải pháp của Đảng và Nhà nước ta về xoá
đói giảm nghèo:
3.1. Quan điểm và phương châm xoá đói giảm nghèo của Đảng và
Nhà nước ta:
Để thúc đẩy mặt tích cực đồng thời hạn chế những mặt tiêu cực của nền
kinh tế thị trường, tất yếu phải có vai trò của Nhà nước. Cho đến nay, tất cả
các quốc gia đã phải coi việc giải quyết vấn đề nghèo đói như một chiến lược
xây dựng kinh tế - xã hội toàn cầu. ở nước ta, vấn đề xoá đói giảm nghèo được
Chính phủ và các cấp, các ngành quan tâm đặc biệt và có sự nhất trí cao về

- Làm chắc từng hộ, từng xã, phát hiện và hỗ trợ kịp thời số hộ “tái nghèo”
xây dựng và nhân mô hình thành đạt của hộ, xã về XĐGN.
- Có một chương trình độc lập về XĐGN, đồng thời lồng ghép các chương
trình, dự án kinh tế - kỹ thuật về hỗ trợ nguồn lực cho XĐGN.
Phát huy hợp tác quốc tế và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài trợ trước
hết là hỗ trợ các tỉnh khó khăn.
3.2. Mục tiêu xoá đói giảm nghèo giai đoạn 1998-2000 và những
năm tiếp theo - Các giải pháp:
a. Mục tiêu :
- Giảm tỷ lệ đói nghèo trong tổng số hộ của cả nước xuống còn dưới 10%
vào sau năm 2000; bình quân giảm 300 ngàn hộ/ năm. Giảm tỷ lệ hộ nghèo ở
các xã đặc biệt khó khăn xuống còn 20 - 25% vào năm 2005.
- Bảo đảm cung cấp cho đồng bào có đủ nước sinh hoạt; thu hút trên 70%
trẻ em trong độ tuổi đến trường; đại bộ phận đồng bào được bồi dưỡng, tiếp
thu kinh nghiệm sản xuất, kiến thức khoa học, văn hóa, xã hội, chủ động vận
dụng vào sản xuất và đời sống; kiểm soát được phần lớn các dịch bệnh xã hội
hiểm nghèo; có đường giao thông cho xe cơ giới và đường dân sinh kinh tế đến
các trung tâm cụm xã; thúc đẩy phát triển thị trường nông thôn.
b. Các giải pháp:
Bao gồm 3 nhóm giải pháp chính:
* Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách: Cần nghiên cứu, hoàn thiện các cơ
chế, chính sách liên quan đến nghèo đói, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status