THỰC TRẠNG TÍN DỤNG NGOÀI QUỐC DOANH TẠI NGÂN HÀNG
ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN NINH BÌNH
2.1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN NINH BÌNH
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Ninh
Bình
Lịch sử hình thành và phát triển của Chi nhánh NHĐT&PT Ninh Bình gắn
liền với sự ra đời và phát triển của NHĐT&PT Việt nam, NHĐT&PT Hà Nam
Ninh cũ. Vì vậy nghiên cứu quá trình hình thành và phá NHĐT&PT Việt nam là
hỗ trợ phát triển kinh tế, khắc phục t triển của Chi nhánh phải bắt đầu từ sự ra
đời và phát triển của NHĐT&PT Việt nam.
NHĐT&PT Việt nam được thành lập theo Nghị định số 177/TTg ngày
26/04/1957 của Thủ tướng Chính phủ và được thành lập lại theo mô hình
Tổng Công ty Nhà nước theo Quyết định số 90/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ
tướng Chính phủ.
NHĐT&PT Việt nam là doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt giữ vai trò
chủ đạo về lĩnh vực đầu tư và phát triển, là ngân hàng chuyên doanh về lĩnh
vực đầu tư và phát triển được thành sớm nhất tại Việt nam, cho đến nay đã có
46 năm hoạt động và trưởng thành. Có chức năng huy động vốn trung và dài
hạn trong và ngoài nước để cho vay các dự án chủ yếu trong lĩnh vực đầu tư và
phát triển; kinh doanh đa năng tổng hợp về tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân
hàng
Trong 46 năm hoạt động, xây dựng, tăng trưởng và đổi mới NHĐT&PT
Việt nam gắn liền với những giai đoạn lịch sử của đất nước, thực hiện tốt các
vai trò do Đảng và Nhà nước giao phó góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng
và bảo tổ quốc. Từ khi thành lập đến nay NHĐT&PT Việt nam không phải đã có
ngay tên gọi như bây giờ và cũng chưa có ngay các chức năng như hiện nay,
mà đã từng có nhiều tên gọi, nhiều chức năng. Đó là một quá trình phát triển
liên tục theo hướng hoàn thiện lâu dài.
NQ177/TTg ngày 26/4/1957 đã khai sinh ra NHĐT&PT Việt nam nhưng
khi đó nó mang tên Ngân hàng Kiến thiết Việt nam với mục đích thay thế cho
Vụ Cấp phát vốn Kiến thiết cơ bản và trực thuộc Bộ Tài chính, ngân hàng có
hàng trăm tỷ đồng đầu tư xây dựng cơ bản theo kế hoạch nhà nước đối với các
ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh...Các dự án kinh tế được đầu tư vốn đi vào
sản xuất bước đầu có hiệu quả tạo công ăn việc làm và nộp ngân sách cho nhà
nước.
Sau những năm làm nhiệm vụ cấp phát và cho vay theo kế hoạch nhà
nước, đầu năm 1995 cùng với sự thay đổi về chức năng nhiệm vụ của toàn hệ
thống, nguồn vốn cấp phát được chuyển sang Cục Đầu tư Phát triển, Chi nhánh
NHĐT&PT Ninh Bình trở thành ngân hàng có chức năng huy động vốn ngắn,
trung và dài hạn để cho vay các dự án đầu tư xây dựng cơ bản theo kế hoạch
của nhà nước, các dự án đầu tư chiều sâu, đổi mới trang thiết bị, cho vay vốn
lưu động, kinh doanh tiền tệ tín dụng ngân hàng và các dịch vụ ngân hàng chủ
yếu trong lĩnh vực đầu tư phát triển, xây dựng kinh tế, củng cố cơ sở hạ tầng,
phục vụ việc mở rộng và phát triển sản xuât kinh doanh trên địa bạn tỉnh.
Sự đổi mới về nhiệm vụ chuyên môn đỏi hỏi sự đổi mới về con người, cơ
sở vật chất, công nghệ trang thiết bị kỹ thuật hiện đại. Được sự hỗ trợ và chỉ
đạo trực tiếp của NHĐT&PT Việt nam NHĐT&PT Ninh Bình thực hiện chiến
lược kinh doanh đa năng tổng hợp theo nguyên tắc “đi vay để cho vay” tự huy
động vốn nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư, các TPKT trong và ngoài tỉnh.
NHĐT&PT Ninh Bình hướng tới việc cung cấp sản phẩm tín dụng và dịch
vụ ngân hàng có chất lượng tốt, nâng cao tiện ích nhằm thoả mãn yêu cầu đa
dạng của khách hàng và coi đây là cơ sở vững chắc cho cạnh tranh và phát
triển.
Phương châm hoạt động của NHĐT&PT Ninh Bình “Hiệu quả kinh doanh
của khách hàng là mục tiêu hoạt động của ngân hàng”. Thực hiện điều này
NHĐT&PT Ninh Bình không ngừng nghiên cứu phát triển, nâng cao chất lượng
sản phẩm để đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu đa dạng của khách hàng. Luôn
luôn lắng nghe, tìm hiểu nhu cầu, tiếp thu ý kiến của khách hàng để không
ngừng cải tiến, hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng, nâng cao sức cạnh
tranh của sản phẩm dịch vụ ngân hàng nhằm cung ứng cho thị trường những
sản phẩm đạt tiêu chuẩn chât lượng cao. Hợp tác cùng phát triển, chi sẻ kinh
Đại học và trên Đại học là 27 người, Cao đẳng 10 người, trung cấp và sơ cấp là
17 người.
2.1.2.2. Hoạt động và chức năng của các phòng ban.
Ban giám đốc chỉ đạo chung và phân rõ chức năng, nhiệm vụ của từng
phòng ban. Các trưởng phòng có trách nhiệm thực hiện các văn bản chỉ đạo
của ban giám đốc, tham mưu và thực hiện sự chỉ đạo điều hành trực tiếp của
Giám đốc và Phó Giám đốc. Các phòng thường xuyên định kỳ hoặc đột xuất báo
cáo tình hình công tác có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của phòng cho
ban giám đốc. Giúp việc cho Trưởng phòng có 1 đến 2 Phó Trưởng
phòng.Trong công tác điều hành, quan hệ giữa trưởng phòng và nhân viên là
gắn bó, hợp tác vì công việc chung.
Các phòng ban, của Chi nhánh có mối quan hệ hữu cơ, gắn bó với nhau.
Sự phát triển của phòng này sẽ thúc đẩy và tạo cơ hội cho các phòng khác phát
triển và ngược lại.
1. Phòng Nguồn vốn.
Làm tham mưu giúp Giám đốc tổ chức chỉ đạo và điều hành các hoạt
động nghiệp vụ của Chi nhánh hoàn thành các chỉ tiêu kinh doanh được giao.
Quản lý nguồn vốn với hiệu suất sử dụng vốn cao, an toàn và thực hiện
chức năng thông tin báo cáo, tiếp thị cho các hoạt động kinh doanh của Chi
nhánh.
Phối hợp chặt chẽ các mặt với phòng ban trong Chi nhánh hoàn thành
nhiệm vụ, chỉ tiêu kinh doanh được Tổng Giám đốc giao.
2. Phòng tín dụng.
Là bộ phận quan trọng nhất tại Chi nhánh, đóng góp chủ yếu vào lợi
nhuận của ngân hàng với chức năng truyền thống là cho vây bằng Việt nam
đồng và ngoại tệ đối với mọi TPKT, cụ thể:
- Thực hiện và quản lý công tác cho vay vốn lưu động, vốn trung và dài
hạn đối với quá trính sản xuất kinh doanh của khách hàng thuộc mọi TPKT
trên địa bàn tỉnh theo chế độ hiện hành, đảm bảo an toàn, hiệu quả của đồng
vốn.
- Thực hiện mở tài khoản tiền gửi, cho vay, bảo lãnh và đáp ứng các dịch
vụ thanh toán bằng cách phối hợp với các phòng nghiệp vụ trong công tác
thanh toán không dùng tiền mặt.
- Chuẩn bị và kiểm tra việc bảo quản sử dụng các loại ấn chỉ kế toán.
Tổng hợp và chấp hành, chế độ báo cáo theo yêu cầu của NHĐT&PT Việt nam
và các ngành có liên quan. Giữ gìn bảo quản hồ sơ, tài liệu, sổ sách, chứng từ và
tài sản thuộc phòng kế toán theo chế độ quy định.
- Bảo toàn an toàn trong công tác tiền tệ kho quỹ.
- Giải quyết các khiếu nại của khách hàng về những thiếu sót trong công
tác kế toán.
- Quản lý và sử dụng máy vi tính theo đúng hướng dẫn của Trung ương.
- Hoàn thành các công tác khác của cơ quan.
4. Phòng Kiểm soát.
Thực hiện công tác kiểm soát trong nội bộ các hoạt động kinh doanh tại
Chi nhánh theo đúng quy định của pháp luật, của NHNN và quy định nội bộ của
NHĐT&PT Việt nam, cụ thể:
Về mặt chức năng:
- Kiểm tra chấp hành chủ trương cơ sở pháp luật của nhà nước và của
ngành.
- Kiểm tra công tác kế toán, kho quỹ, công tác tín dụng, công tác nguồn
vốn, công tác tổ chức hành chính và phản ánh đánh giá đúng tình hình và kết
quả hoạt động kinh doanh trong từng thời kỳ, từng năm.
- Đánh giá chính xác thực trạng tài chính của Chi nhánh hàng quý, hàng
năm.
Về mặt nhiệm vụ:
- Hàng năm xây dựng chương trình kiểm toán nội bộ và thực hành tiết
kiệm tình Giám đốc duyệt.
- Kiểm tra định kỳ thường xuyên và đột xuất việc chấp hành các quy định
về pháp luật của nhà nước, của ngành.
- Kiểm tra việc thực hiện các nguyên tắc, chế độ, quy chế, quy trình
mở rộng địa bàn hoạt động của ngân hàng. Chủ yếu nhận tiền gửi và cho vay
đối với các tổ chức kinh tế và người dân trên địa bàn thị xã Tam Điệp.
2.1.3. Các hoạt động cơ bản.
1.Chi nhánh tiến hành hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ
ngân hàng được quy định cho ngân hàng đầu tư Viêt nam, trong điều lệ và tổ
chức và hoạt động của ngân hàng đầu tư.
Nội dung hoạt động của Chi nhánh
a) Huy động vốn: Chi nhánh huy động vốn dài hạn, trung hạn, ngắn hạn
bằng Việt nam đồng và ngoại tệ từ mọi nguồn vốn trong nước dưới các hình
thức:
- Nhận tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền
gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế và dân cư.
- Phát hành các chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu, kỳ phiếu.
- Thực hiện các hành thức huy động vốn khác.
b) Cho vay
- Cho vay dài hạn, trung hạn, đầu tư phát triển, cho vay ngắn hạn bằng
Việt nam đồng và ngoại tệ đối với các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình phù hợp
với quan điểm của NHĐT&PT Việt nam.
- Chiết khấu các giấy từ có giá
c) Thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế, bảo lãnh (trừ bảo lãnh vay
vốn trong nước, nước ngoài).
d) Thực hiện các nghiệp vụ mua bán, chuyển đổi ngoại tệ và các dịch vụ
ngân hàng đối ngoại khác theo quy định của Tổng Giám đốc.
e) Làm các dịch vụ cất giữ, bảo quản và quản lý các giấy tờ có giá hoặc
định giá bằng tiền và tài quý của khách hàng.
f) Thực hiện các dịch vụ ngân hàng, đại lý, quả lý vốn vốn đầu tư cho các
dự án theo yêu cầu của khách hàng.
g) Là dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng .
2. Chi nhánh thực hiện các nghiệp vụ theo quy định uỷ quyền của Tổng
Giám đốc.
Qua bảng trên ta thấy nguồn vốn huy động tăng qua các năm, mức tăng
năm 2002 so với năm 2001 là 35,24%, đây là tỷ lệ tăng trưởng cao trong khi
mức tăng trưởng chung của toàn hệ thống là 26%. Điều này biểu hiện sự thay
đổi trong cách thức hoạt động cũng như quản lý. Ngân hàng đã thực thi nhiều
biện pháp, chính sách khách hàng linh hoạt và mềm dẻo, chính sách lãi suất
hấp dẫn, hình thức huy động phong phú nên nguồn vốn đạt tốc độ tăng trưởng
cao và ổn định.
Bảng 2 Cơ cấu huy động vốn theo loại tiền
Đơn vị: Triệu đồng
Năm
Chỉ tiêu
2001 2002
VND
Ngoại tệ
quy đổi
VND
Ngoại tệ
quy đổi
Tổng số 254.801 63.704 353.944 76.801
1. Tiền gửi của các TCKT 55.582 12.355 96.532 16.927
2. Tiền gửi dân cư 178.698 38.555 181.783 40.526
3. Kỳ phiếu và Trái phiếu 20.521 12.792 75.629 19.348
(Báo cáo của Phòng Nguồn vốn tính đến ngày 31/12/2002)
Cơ cấu nguồn vốn có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, đã cải thiện
đáng kể chênh lệch kỳ hạn giữa tài sản nợ-có, qua đó góp phần giảm tỷ lệ dùng
nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn, giảm khả năng rủi ro kỳ hạn.
Cụ thể:
- Nguồn vốn VND đạt: 353.944 triệu, tăng 99.143 triệu VND, đạt mức
tăng trưởng 38,91%.
- Nguồn huy động ngoại tệ quy đổi tương đương 76.801 triệu VND, tăng
phản ánh thị phần ngân hàng ngày càng tăng trong địa bàn, đạt 28% mặc dù
mạng lưới huy động của Chi nhánh tương đối mỏng so với các tổ chức tín dụng
khác trên địa bàn. Tuy nhiên ngân hàng phải đối mặt với việc chi phí huy động
tăng. Nhận thức được vốn là tiền đề cho mọi sự phát triển, NHĐT&PT Ninh
Bình đã chú trọng công tác huy động vốn, coi đây là hoạt động mang tính cơ sở
cho hoạt động đầu tư phát triển, tạo thế chủ động của ngân hàng trên địa bàn.
Bằng các biện pháp thiết thực như đa dạng hoá hình thức huy động, có chính
sách lãi suất huy động mềm dẻo và linh hoạt, chính sách marketing hiện đại và
hiệu quả.
2.2.2. Hoạt động sử dụng vốn
Ngân hàng sử dụng vốn huy động vào nhiều hoạt động khác nhau, song
chủ yếu vào hoạt động tín dụng. Điều này được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3 Tình hình sử dụng vốn
Đơn vị: Triệu đồng
Năm
Chỉ tiêu
2001 2002
VND
Ngoại
tệ quy
đổi
Tổng số VND
Ngoại
tệ quy
đổi
Tổng số
Tổng du nợ 225.997 32.161 258.158 292.014 35.708 327.722
1. Cho vay ngắn hạn 143.245 23.461 166.706 208.326 26.135 234.461
Quốc Doanh 121.851 21.515 143.336 166.567 22.035 188.602
Ngoài QD 21.394 1.946 23.340 41.579 4.100 45859
chỉ chiếm 11% tổng dư nợ, một tỷ lệ hết sức khiêm tốn khi mà KT-NQD đang
rất cần vốn để mở rộng, đổi mới công nghệ, tăng trưởng. Vốn trung và dài hạn
đã ít lại phân bổ chủ yếu KT-QD, chiếm tới 89% tổng dư nợ trung và dài hạn
tương đương 82.685 triệu VND.
Qua bảng số liệu trên ta thấy, dư nợ đạt mức tăng trưởng cao qua các
năm. Tuy nhiên chủ yếu do gia tăng cho vay ngắn hạn, dư nợ trung và dài hạn
chiếm quy mô nhỏ bé khiêm tốn, chưa phù hợp với chức năng của ngân hàng là
đầu tư cho phát triển.
Đứng trên góc dộ sử dụng vốn ta thấy hệ số sử dụng vốn của ngân hàng
chưa cao năm 2001 là 81%, năm 2002 là 76%. Dễ thấy hiệu suất sử dụng vốn
đã không cao, lại có xu hướng ngày càng giảm không phải do đầu tư vào các
loại hình kinh doanh khác mà do vốn bị ứ đọng không cho vay hết. Để giải
quyết tình trạng này, Chi nhánh phải thường xuyên điều hoà vốn về NHNN trên
địa bàn tỉnh.
2.2.3. Một số hoạt động khác
1. Hoạt động dịch vụ
Nằm trên một địa bàn kinh tế còn kém phát triển về mọi mặt đã hạn chế
sự phát triển của ngân hàng. Trong một vài năm gần đây kinh tế tỉnh đã có
những bước khởi sắc. Công nghiệp được xây dựng và phát triển nhiều hơn như
nhà máy cán thép, xi măng Tam Điệp, du lịch đang được chú trọng đầu tư phát
triển. Cùng với đà đi lên đó, các sản phẩm dịch vụ của Chi nhánh ngày càng
được mở rộng, nâng cao chất lượng với các loại hình như:
- Dịch vụ thanh toán quốc tế dưới nhiều hình thức: Mở, thanh toán luân
chuyển, chuyển nhận tiền nước ngoài, thực hiện các nghiệp vụ nhờ thu; chuyển
tiếp điện, mã điện theo yêu cầu của khách hàng.
- Thanh toán thẻ tín dụng và các séc du lịch, nhận kiều hối, thu đổi ngoại
tệ, đáp ứng các yêu cầu ngoại tệ của các tổ chức kinh tế và các cá nhân theo
quan điểm của nhà nước.
- Dịch vụ thanh toán trong nước.
- Nhận bảo lãnh trong nước và quốc tế: Ngoài các hoạt động bảo lãnh
Với phương châm lấy hiệu quả kinh doanh của khách hàng làm mục tiêu
hoạt động, công tác khách hàng luôn luôn là vị trí chiến lược trong hoạt động
kinh doanh của Chi nhánh. Chi nhánh đã thực hiện tốt chính sách khách hàng,
quan tâm, tìm hiểu nhu cầu của khách hàng. Đầu năm đã tổ chức hội nghị
khách hàng để củng cố quan hệ, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của khách hàng.
Tư vấn cho khách hàng từ việc xây dựng dự án đầu tư đến việc sử dụng vốn
vay có hiệu quả, đảm bảo lợi ích giữa ngân hàng và khách hàng.
Có chính sách lãi suất và áp dụng mức phí dịch vụ thanh toán, bảo lãnh,
mua bán ngoai tệ...hợp lý, có sự ưu đãi với khách hàng có số dư tiền gửi, tiền
vay lớn, ổn định, vay khép kín và vay trả nợ sòng phẳng có uy tín với ngân
hàng.