Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Bất cứ quốc gia nào muốn phát triển kinh tế thì không chỉ dựa vào sản
xuất trong nước mà còn giao dịch quan hệ với các nước ngoài. Do khác nhau
về điều kiện tự nhiên như tài nguyên, khí hậu … nếu chỉ dựa vào nền sản xuất
trong nước thì không thể cung cấp đủ những hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu
cầu sản xuất tiêu dùng của nền kinh tế mà phải nhập những mặt hàng cần thiết
như nguyên liệu, vật tư, máy móc thiết bị, hàng tiêu dùng thiết yếu mà trong
nước không sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng giá cả cao hơn. Ngược
lại, trên cơ sở tiềm năng và những lợi thế kinh tế vốn có, nền kinh tế ngoài
việc phục vụ nhu cầu trong nước, còn có thể tạo nên những thặng dư có thể
xuất khẩu sang các nước khác, tăng ngoại tệ cho đất nước để nhập khẩu các
thứ còn thiếu và để trả nợ. Như vậy, do yêu cầu phát triển kinh tế mà phát
sinh nhu cầu trao đổi giao dịch hàng hóa giữa các nước với nhau, hay nói
cách khác, hoạt động xuất nhập khẩu là yêu cầu khách quan trong nền kinh tế.
Nhiều năm trước đây, hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam
chưa phát triển đúng với khả năng và phát huy tốt vai trò của nó đối với sự
phát triển kinh tế. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hạn chế này và một trong
những nguyên nhân đó là chúng ta thiếu những nguồn vốn tài trợ cho hoạt
động xuất nhập khẩu trong đó đặc biệt phải kể đến là nguồn tín dụng ngân
hàng.
Dưới góc độ của một Ngân hàng thương mại, việc cung cấp tín dụng
xuất nhập khẩu cho Doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh
doanh, không những đem lại hiệu quả kinh doanh từ lãi vay mà còn thu được
các phí dịch vụ từ hoạt động thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ… Mặt
khác, việc phục vụ khách hàng khép kín từ việc cho vay, thực hiện dịch vụ
thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ sẽ tạo thuận lợi cho khách hàng trong
thực hiện giao dịch, giảm chi phí cho khách hàng, tăng uy tín của Ngân hàng.
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
sát thực tiễn hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu của một ngân hàng thương
mại đặc thù không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng
hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
nam mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng hoạt động
này tại các ngân hàng thương mại cũng như có giá trị tham khảo tốt cho các
nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý nhằm nâng cao nâng cao chất
lượng trong hoạt động của hệ thống các ngân hàng thương mại.
6. Kết cấu của Luận văn:
Ngoài Lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu theo 3 chương như sau:
CHƯƠNG 1. TÍN DỤNG XUẤT NHẬP KHẨU VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG XUẤT NHẬP KHẨU
TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM.
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG XUẤT
NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
.
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
CHƯƠNG 1. TÍN DỤNG XUẤT NHẬP KHẨU VÀ CHẤT LƯỢNG
TÍN DỤNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại.
1.1.1. Khái niệm tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại.
Tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại là sự tài trợ của
ngân hàng thương mại cho khách hàng để phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu.
Xuất phát từ hoạt động thực tiễn hiện nay hầu hết các đơn vị thực hiện
hoạt động xuất nhập khẩu là các doanh nghiệp và ngân hàng chủ yếu phục vụ
đối tượng này nên trong phạm vi luận văn này người viết chỉ đề cập đến quan
thể ở đây là thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu. Trong quá trình cho vay
ngân hàng sẽ giám sát việc sử dụng vốn vay của khách hàng, nếu không đúng
mục đích sẽ thực hiện thu hồi nợ trước hạn.
Việc sử dụng vốn vay phải được thẩm định là có hiệu quả kinh tế để
đảm bảo nguồn thu nợ gốc và lãi.
1.1.2.2. Những phương thức tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại:
Tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại bao gồm nhiều
hình thức khác nhau và tuỳ trình độ phát triển của ngân hàng và những qui
định của pháp luật mà các ngân hàng lựa chọn áp dụng các hình thức cho phù
hợp.
Dưới đây ta sẽ xem xét một số hình thức tín dụng xuất khẩu và tín
dụng nhập khẩu thông dụng.
Các phương thức tín dụng xuất khẩu:
Ngân hàng thương mại cấp tín dụng xuất khẩu cho các cơ sở xuất khẩu
dưới các hình thức như cho vay thông thường, cho vay trên cơ sở hối phiếu,
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
cho vay trên cơ sở phương thức thanh toán nhờ thu, cho vay trên cơ sở
phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, bao thanh toán.
* Cho vay thông thường:
Cho vay thông thường là việc ngân hàng giao cho khách hàng một
khoản tiền để họ sử dụng trong một thời gian nhất định. Khi hết hạn, người
vay phải trả đầy đủ cả gốc và lãi. Đây là hình thức tín dụng truyền thống, về
kỹ thuật và phương pháp cho vay giống như các dạng tín dụng nội địa tương
ứng thông thường khác. Nó bao gồm các phương thức như cho vay một lần,
cho vay theo hạn mức tín dụng. Đối với các nhà xuất khẩu hình thức tín dụng
này ngoài việc được sử dụng cho các mục đích thu mua sản xuất, chế biến
xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu vốn lưu động nó còn được sử dụng để trang trải
các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất như phí thuê tàu, thuế xuất
khẩu...
cơ sở chiết khấu bộ chứng từ trước khi đến hạn thanh toán. Với hình thức này
ngân hàng tạo điều kiện cho nhà xuất khẩu có thể thu hồi được vốn nhanh
tương tự như chiết khấu hối phiếu. Tỉ lệ chiết khấu phụ thuộc vào phương
thức chiết khấu:
- Chiết khấu bảo lưu quyền truy đòi: là ngân hàng sau khi thực hiện
chiết khấu bộ chứng từ, sẽ quay lại truy đòi nhà xuất khẩu nếu bên nước ngoài
từ chối thanh toán, lãi suất chiết khấu trong trường hợp này thường thấp.
- Chiết khấu miễn truy đòi: là trường hợp ngân hàng mua đứt bộ chứng
từ, nếu bên nước ngoài không thanh toán thì ngân hàng chiết khấu chịu rủi ro,
không được truy đòi lại khách hàng. Tỉ lệ chiết khấu này thường cao.
* Tín dụng ứng trước cho người xuất khẩu:
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Trong quá trình chuẩn bị và thực hiện hợp đồng xuất khẩu các doanh
nghiệp cũng có thể đề nghị ngân hàng tạm ứng cho một nghiệp vụ xuất khẩu
cho đến khi thu được lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu. Hình thức tín dụng
này bao gồm hai hình thức cơ bản sau:
- Tín dụng ứng trước trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ: Sau
khi lập xong bộ chứng từ hàng hoá, vận chuyển, bảo hiểm và các chứng từ
liên quan khác, nhà xuất khẩu sẽ nộp lên ngân hàng của mình nhờ thu hộ tiền.
Ngân hàng của nhà xuất khẩu sẽ chuyển đến ngân hàng của nhà nhập khẩu
(hoặc ngân hàng giao dịch) với chỉ thị chỉ giao chứng từ khi đã thanh toán.
Trong nghiệp vụ này ngân hàng tham gia chủ yếu với tư cách trung gian, thực
hiện và thừa hành theo uỷ nhiệm để giảm bớt những rủi ro về tiêu thụ, thanh
toán cũng như về cung ứng. Tuy nhiên, từ khi gửi các chứng từ tới ngân hàng
xuất khẩu cho tới khi xuất trình với người thanh toán thường mất một khoảng
thời gian nhất định (đặc biệt khi thoả thuận ngày thanh toán muộn hơn). Điều
này làm cho các doanh nghiệp xuất khẩu có thể thiếu vốn tạm thời. Khi đó họ
có thể yêu cầu ngân hàng ứng trước một phần trị giá với bộ chứng từ nhờ thu.
Khoản tín dụng này có thể do ngân hàng xuất khẩu hay ngân hàng nhập khẩu
khẩu cam kết bằng văn bản tiền sẽ được sử dụng đúng mục đích quy định.
- Điều khoản đỏ chứng từ: Tiền sẽ được ứng trước nếu nhà xuất khẩu
cam kết cung cấp giấy nhập kho hoặc các chứng từ khác chứng minh quyền
sở hữu hàng hoá và sau đó xuất trình các chứng từ thanh toán phù hợp với thư
tín dụng.
* Bao thanh toán:
- Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của Tổ chức tín dụng
cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc
mua bán hàng đã được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp
đồng mua bán hàng. Bao thanh toán có thể phân thành 2 loại là bao thanh toán
trong nước và bao thanh toán xuất nhập khẩu trong đó bao thanh toán trong
nước là việc bao thanh toán dựa trên hợp đồng mua bán trong nước còn bao
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
thanh toán xuất nhập khẩu là việc bao thanh toán dựa trên hợp đồng xuất nhập
khẩu.
- Phương thức bao thanh toán:
+ Bao thanh toán từng lần: Đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng
thực hiện các thủ tục cần thiết và ký hợp đồng bao thanh toán đối với các
khoản phải thu của bên bán hàng theo từng lần.
+ Bao thanh toán theo hạn mức: Đơn vị bao thanh toán và bên bán
hàng thỏa thuận và xác định một hạn mức bao thanh toán duy trì trong một
khoảng thời gian nhất định.
+ Đồng bao thanh toán: hai hay nhiều đơn vị bao thanh toán cùng thực
hiện hợp đồng bao thanh toán cho một hợp đồng mua, bán hàng trong đó một
đơn vị bao thanh toán làm đầu mối thực hiện việc tổ chức bao thanh toán.
- Quy trình hoạt động bao thanh toán gồm các bước chính sau:
+ Bên bán hàng đề nghị đơn vị bao thanh toán thực hiện bao thanh
toán các khoản phải thu.
+ Đơn vị bao thanh toán thực hiện phân tích các khoản phải thu, tình
ngân hàng mở theo đề nghị của nhà nhập khẩu nhưng không phải lúc nào nhà
nhập khẩu cũng có đủ số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng,
trong khi đó L/C lại là một đảm bảo thanh toán của ngân hàng tức là ngân
hàng mở L/C phải chịu mọi rủi ro khi nhà nhập khẩu không thanh toán hoặc
không muốn thanh toán khi L/C đã đến hạn trả tiền.
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Qui trình nghiệp vụ phương thức tín dụng chứng từ:
(4)
(3) (5) (1) (8)
(2)
(6)
(7)
(1) Nhà nhập khẩu làm đơn xin mở L/C gửi đến ngân hàng của mình
yêu cầu được mở một L/C cho người xuất khẩu hưởng.
(2) Căn cứ vào đơn xin mở L/C, ngân hàng mở L/C sẽ lập một L/C
và thông qua ngân hàng đại lí của mình ở nước người nhập khẩu thông báo
việc mở L/C và chuyển L/C đến người xuất khẩu.
(3) Khi nhận được thông báo trên ngân hàng thông báo sẽ thông báo
cho nhà xuất khẩu toàn bộ nội dung về việc mở L/C và khi nhận được bản gốc
L/C thì chuyển ngay cho người xuất khẩu.
(4) Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng thì tiến hành giao
hàng nếu không thì đề nghị ngân hàng mở L/C sửa đổi, bổ sung L/C cho phù
hợp với hợp đồng.
(5) Sau khi giao hàng người xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu
của L/C và xuất trình thông qua ngân hàng thông báo cho ngân hàng mở L/C
xin thanh toán.
(6) Ngân hàng thông báo gửi chứng từ cho ngân hàng phát hành yêu
cầu thanh toán cho nhà xuất khẩu.
khi đến hạn.
Tín dụng chấp nhận hối phiếu thường được dùng trong trường hợp
người bán thiếu tin tưởng khả năng thanh toán của người mua và họ đề nghị
bên mua có một ngân hàng đứng ra chấp nhận trả tiền hối phiếu do họ kí phát.
Nếu ngân hàng đồng ý cũng có nghĩa là ngân hàng đã chấp nhận cung cấp
một khoản tín dụng cho bên mua.
Đối với ngân hàng kể từ khi kí chấp nhận hối phiếu cũng chính là thời
điểm bắt đầu gánh chịu rủi ro, nếu người mua không có tiền thanh toán cho
bên bán khi hối phiếu đến hạn thanh toán. Tuy nhiên, nếu đến thời hạn thanh
toán người mua có đủ tiền thì ngân hàng có thể không phải ứng tiền ra. Như
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
vậy, khoản tín dụng chỉ là hình thức, một sự đảm bảo tài chính. Lúc này ngân
hàng nhận được một khoản phí chấp nhận, nó là khoản tiền bù đắp cho chi phí
gánh chịu rủi ro của ngân hàng.
Tín dụng chấp nhận hối phiếu đem lại sự thuận lợi cho không chỉ
người xuất khẩu mà cả với người nhập khẩu:
- Với sự chấp nhận của ngân hàng, nhà xuất khẩu có được một sự đảm
bảo vững chắc về khả năng chi trả của hối phiếu và họ có thể đem hối phiếu
đi chiết khấu tại bất kì ngân hàng nào. Khả năng thương mại của hối phiếu
này rất lớn, nó tạo cho nhà xuất khẩu được hưởng một tỉ lệ chiết khấu ưu đãi.
- Đối với nhà nhập khẩu, hình thức tín dụng này có vai trò quan trọng
trong nghệ thuật thương mại. Nhà nhập khẩu lập một hối phiếu kèm đơn xin
vay yêu cầu ngân hàng ký chấp nhận hối phiếu dù ngân hàng không có quan
hệ nợ nần với anh ta. Đó là một sự thoả thuận ngầm, một nghệ thuật vay vốn.
Sau đó nhà nhập khẩu có thể đem hối phiếu đã được chấp nhận đi chiết khấu
tại ngân hàng khác. Với khoản tiền thu được từ việc chiết khấu nhà nhập khẩu
có thể thanh toán trước hạn cho nhà xuất khẩu để hưởng hoa hồng.
* Tín dụng ứng trước cho nhập khẩu:
Cũng như các nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu cũng rất cần được cho
sản xuất tại nước họ với điều kiện vay vốn là phải có bảo lãnh của một ngân
hàng thương mại trong nước.
- Bảo lãnh bằng cách phát hành L/C trả chậm:
Đây là hình thức được áp dụng phổ biến và đối với các Doanh nghiệp
trong nước và bản chất là một hình thức vay vốn, tranh thủ vốn nước ngoài
đơn giản và dễ dàng được chấp thuận bằng cách mua chịu hàng hóa. Ngân
hàng thương mại trong nước sẽ phát hành Thư bảo lãnh trả chậm cho Doanh
nghiệp. Khi hàng hóa nhập khẩu về sau một thời gian nhất định được quy
định trong L/C mới đến hạn phải trả phía nước ngoài (bản chất chi phí lãi vay
đã được tính trong giá thành hàng hóa). Doanh nghiệp sẽ có một khoảng thời
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
gian để tiêu thụ sản phẩm, thu xếp vốn để nộp vào ngân hàng và trả cho bên
bán.
1.1.3. Vai trò của tín dụng xuất nhập khẩu.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xuất nhập khẩu trở thành vấn
đề quan trọng. Thị trường thương mại thế giới mở rộng không ngừng, nhu cầu
về thị trường tiêu thụ hàng hóa, thị trường đầu tư đang trở thành nhu cầu cấp
bách. Hoạt động xuất nhập khẩu là một lĩnh vực gồm nhiều mặt phức tạp, đòi
hỏi sử dụng các kỹ thuật đặc thù về thương mại quốc tế như tín dụng chứng
từ… nhằm bảo vệ quyền lợi của người bán đối với người mua cách xa nhau
bởi những đường biên giới, những hàng rào ngôn ngữ, những phong tục tập
quán,…Mặt khác, do khả năng tài chính có hạn mà các doanh nghiệp xuất
nhập khẩu không phải lúc nào cũng có đủ tiền để thanh toán hàng nhập khẩu
hoặc có đủ vốn để thu mua chế biến hàng xuất khẩu, từ đó nảy sinh quan hệ
vay mượn và sự giúp đỡ tài trợ của Ngân hàng. Có thể nói sự ra đời của tín
dụng xuất nhập khẩu là một yêu cầu tất yếu khách quan, gắn liền với các quan
hệ mua bán ngoại thương giữa các nước với nhau.
Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại đóng
vai trò quan trọng đối với chính bản thân ngân hàng và doanh nghiệp xuất
với các doanh nghiệp và ngân hàng nước ngoài, nâng cao uy tín ngân hàng
trên trường quốc tế.
1.1.3.2. Đối với doanh nghiệp.
- Tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng giúp doanh nghiệp thực hiện
được những thương vụ lớn: có những thương vụ trong ngoại thương đòi hỏi
nguồn vốn rất lớn để thanh toán tiền hàng. Do đặc điểm của vận chuyển hàng
hải, các mặt hàng thiết yếu như phân bón, thép, …thường hai bên mua bán
với số lượng rất lớn, có khi với số lượng nguyên tàu hàng nhằm tiết kiệm chi
phí vận chuyển nên giá trị lô hàng rất lớn. Trong trường hợp này, vốn lưu
động của doanh nghiệp không đủ để chuẩn bị hàng xuất hoặc thanh toán tiền
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
hàng nhập do đó tín dụng xuất nhập khẩu là giải pháp giúp doanh nghiệp thực
hiện được các trường hợp này.
- Trong quá trình đàm phán, thương lượng, ký kết hợp đồng ngoại
thương, nếu doanh nghiệp trước đó đã thông qua ngân hàng về việc tài trợ và
thanh toán quốc tế, có nghĩa là doanh nghiệp đã xác định ngân hàng phục vụ
mình thì sẽ tạo được lợi thế trong quá trình này vì hợp đồng ngoại thương
được thực hiện thông qua ngân hàng phục vụ người mua và người bán, đã
thỏa thuận trước với ngân hàng nghĩa là doanh nghiệp đã xác định được năng
lực thực hiện hợp đồng. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình
thương lượng, đàm phán.
- Tín dụng xuất nhập khẩu làm tăng hiệu quả của doanh nghiệp trong
quá trình thực hiện hợp đồng. Thông qua tài trợ của ngân hàng, doanh nghiệp
nhận được vốn để thực hiện thương vụ. Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, vốn
tài trợ giúp doanh nghiệp thu mua hàng đúng thời vụ, gia công chế biến và
giao hàng đúng thời điểm. Đối với doanh nghiệp nhập khẩu, vốn tài trợ của
ngân hàng giúp doanh nghiệp mua được những lô hàng lớn và điều đó giúp
cho doanh nghiệp đạt được hiệu quả cao hơn trong thực hiện các thương vụ.
1.2. Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại:
xét sự biến động trong cơ cấu tín dụng thông qua việc so sánh giữa các thời
kỳ khác nhau. Tỉ lệ này càng cao cho thấy mức độ phát triển nghiệp vụ này
càng lớn, tín dụng xuất nhập khẩu đóng góp càng nhiều cho các doanh nghiệp
và được khách hàng tín nhiệm.
- Lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu:
Xét về quy mô thì càng thu được nhiều lợi nhuận càng tốt. Đối với tín
dụng xuất nhập khẩu có thể xem xét thêm mối liên hệ giữa tăng lợi nhuận thu
được trực tiếp từ hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu và từ tăng thu dịch vụ
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
ngân hàng có liên quan (như phí L/C, chuyển tiền, lợi nhuận thu được từ tiền
ký quỹ…) để xem xét.
- Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng XNK/tổng lợi nhuận từ hoạt động tín
dụng:
Chỉ tiêu này cho thấy tỷ trọng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng xuất
nhập khẩu trong tổng lợi nhuận hoạt động tín dụng chung của Ngân hàng. Tỷ
lệ này càng cao cho thấy mức lợi nhuận thu được từ nghiệp vụ này đóng góp
càng nhiều cho hiệu quả hoạt động chung của Ngân hàng.
- Lãi treo: lãi treo là lãi quá hạn trên 90 ngày, với chỉ tiêu này thì lãi
treo càng thấp càng tốt.
1.2.2.2.Các chỉ tiêu phản ánh nợ quá hạn, nợ xấu của tín dụng xuất nhập
khẩu:
- Dư nợ tín dụng xuất nhập khẩu quá hạn/tổng dư nợ tín dụng xuất nhập
khẩu:
Tỷ lệ nợ quá hạn càng thấp càng tốt, tuy nhiên việc chuyển nợ quá hạn
cần phải tuân thủ đúng quy tắc, tránh việc gia hạn nợ tràn lan để tránh nợ quá
hạn.
- Dư nợ tín dụng xuất nhập khẩu xấu/tổng dư nợ tín dụng xuất nhập khẩu.
Nợ xấu là các khoản nợ được xếp từ nhóm 3 đến nhóm 5 theo định
quyết định 493 của Ngân hàng Nhà nước; Trong khuân khổ của Luận văn
năng lực quản lí và ra quyết định. Khi việc kinh doanh của doanh nghiệp diễn
ra thuận lợi sẽ có tác động tích cực đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp cho
ngân hàng. Ngoài ra, trình độ và đạo đức của người lãnh đạo cũng có tác động
rất lớn đến việc sử dụng vốn vay cũng như mong muốn trả nợ của doanh
nghiệp từ đó tác động đến chất lượng của khoản tín dụng. Đối với các doanh
21
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải am hiểu về thị
trường và thông lệ quốc tế, am hiểu nghiệp vụ hoạt động ngoại thương.
Đặc biệt đối với hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu thì đạo đức của
khách hàng là một yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng tín dụng
xuất nhập khẩu.
+ Từ phía nhà nhập khẩu: Có trường hợp khách hàng khi nhập khẩu
hàng hoá đã không dự đoán được xu thế biến động của thị trường nên khi
hàng hoá nhập về thì giá cả trên thị trường hạ, bất lợi cho nhà nhập khẩu.
Trước tình hình đó, nhà nhập khẩu gây sức ép, yêu cầu ngân hàng tìm mọi
cách để trì hoãn thanh toán, thường là qua việc bắt lỗi bất đồng của bộ chứng
từ. Mặt khác, nhà nhập khẩu không chịu làm các thủ tục thanh toán như nhận
nợ vay đối với L/C mở bằng vốn vay hoặc nộp tiền vào tài khoản đối với các
L/C mở bằng vốn tự có, ký quỹ dưới 100%. Những trường hợp như vậy đã
đẩy ngân hàng vào tình huống khó xử, nếu làm theo ý khách hàng, bắt lỗi
không đúng theo quy định và thông lệ quốc tế thì sẽ gây mất uy tín, thậm chí
có thể bị ngân hàng nước ngoài kiện ra toà. Nếu muốn giữ uy tín của ngân
hàng thì ngân hàng phải đứng ra trả thay và việc đòi lại tiền sẽ rất khó khăn và
mất thời gian. Trong những trường hợp khách hàng chây ỳ như vậy, ngân
hàng phải có những biện pháp cứng rắn để khách hàng phải thực hiện đúng
cam kết.
Trong trường hợp ngân hàng phục vụ khách hàng xuất khẩu trong
nghiệp vụ L/C hàng xuất, nếu nhà nhập khẩu không phải là những bạn hàng
đáng tin cậy, vì những lợi ích trước mắt mà không quan tâm đến đạo đức
thất bại của doanh nghiệp. Từ đó tác động đến khả năng huy động và trả nợ
đối với các nguồn tài trợ.
* Tổ chức hoạt động sản xuất và công tác tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp:
Hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp được tổ chức
hợp lí sẽ nâng cao được năng suất lao động, tiết kiệm được chi phí, hạ giá
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
thành sản phẩm đồng thời tăng được doanh số bán hàng và tăng lợi nhuận.
Doanh nghiệp sẽ có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng vòng quay
và hiệu quả sử dụng vốn và như thế cũng chính là nâng cao được chất lượng
các khoản tín dụng được cung cấp trong đó có khoản tín dụng xuất nhập khẩu
do ngân hàng tài trợ.
* Khả năng tài chính của doanh nghiệp:
Đây là một yếu tố có tác động đến việc lựa chọn các nguồn tài trợ của
doanh nghiệp, bởi vì thường thì doanh nghiệp chỉ đi vay khi mà khả năng tài
chính của họ không đáp ứng được nhu cầu vốn cho hoạt động của mình. Mặt
khác, khả năng tài chính của doanh nghiệp nó còn là cơ sở để ngân hàng
quyết định có cho vay hay không, cho vay bao nhiêu và khả năng trả nợ của
doanh nghiệp như thế nào. Điều này, có ý nghĩa đến việc nâng cao chất lượng
tín dụng từ cả hai phía ngân hàng và doanh nghiệp.
1.2.3.2. Nhóm yếu tố từ phía Ngân hàng cấp tín dụng xuất nhập khẩu.
Các nhân tố từ phía ngân hàng được xem là các nhân tố chủ quan, bởi
nó là yếu tố nội tại trong ngân hàng và có tác động một cách trực tiếp đến chất
lượng hoạt động ngân hàng nói chung và chất lượng hoạt động tín dụng xuất
nhập khẩu nói riêng. Các nhân tố này bao gồm: chính sách tín dụng, công tác
huy động vốn, công tác tổ chức của ngân hàng, trình độ, năng lực của đội ngũ
cán bộ, qui trình nghiệp vụ tín dụng, hoạt động, kiểm tra, kiểm soát nội bộ,
trang thiết bị và sự phối hợp giữa các phòng ban liên quan...
* Chính sách tín dụng của ngân hàng:
Đây có thể coi là yếu tố quan trọng nhất có ý nghĩa quyết định đến sự
thành bại của không chỉ hoạt động tín dụng mà cả sự tồn tại và phát triển của
ngân hàng. Hoạt động kinh tế đối ngoại càng phức tạp, công nghệ ngân hàng
càng hiện đại thì đòi hỏi trình độ, năng lực của cán bộ ngân hàng trong lĩnh
vực xuất nhập khẩu phải được nâng cao hơn. Với một đội ngũ cán bộ nhân
viên có nghiệp vụ giỏi, có đạo đức và năng lực trong sáng tạo - quản lí, hiểu
25