LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn 20 năm đổi mới kể từ đại hội Đảng VI năm 1986, đất nước ta đã đạt
nhiều thành tựu to lớn đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế. Hiện nay tốc độ tăng
trưởng kinh tế ở nước ta vẫn ở mức khá bất chấp những khó khăn tác động xấu từ
bên ngoài. Nền kinh tế càng phát triển mạnh thì nhu cầu vốn tín dụng dành cho
đầu tư và phát triển ngày càng tăng nhất là vốn tín dụng trung – dài hạn.
Với xu hướng phát triển đó cho vay trung – dài hạn ở các ngân hàng thường
ở mức cao nhằm đạt mục tiêu kinh doanh và góp phần phát triển nền kinh tế đất
nước. Vấn đề đặt ra là phải làm sao vừa tăng doanh số cho vay trung – dài hạn
trong các năm vừa đảm bảo chất lượng tín dụng. Đây là thách thức với các ngân
hàng trong nước hiện nay để có thể cạnh tranh được với các ngân hàng nước ngoài
sau khi thị trường tài chính tiền tệ trong nước chính thức mở cửa sau khi Việt Nam
đã gia nhập WTO vào năm 2006.
Tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, hoạt động tín
dụng trung – dài hạn luôn là mảng hoạt động có hiệu quả mang lại lợi nhuận cho
ngân hàng. Bên cạnh việc Sở đã có nhiều kết quả trong công tác cho vay trung –
dài hạn, chất lượng tín dụng trung – dài hạn trong những năm qua cũng tăng lên
tạo điều kiện trong cạnh tranh và nâng cao uy tín cho Sở. Nhưng thực tế cho thấy
chất lượng tín dụng trung – dài hạn tại Sở có nhiều biến động trong những năm
qua. Chính vì vậy em đã chọn để tài cho chuyên đề tốt nghiệp của mình sau thời
gian thực tập tại Sở giao dịch I là “Nâng cao chất lượng tín dụng trung – dài
hạn tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam”
Ngoài phần mở đầu, kết luận chuyên đề được chia làm 3 phần chính:
Chương 1: Lý luận chung về chất lượng tín dụng trung – dài hạn
1
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng trung – dài hạn tại Sở giao dịch I
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung – dài hạn tại Sở
giao dịch I Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Do thời gian và kiến thức có hạn nên bài viết khó tránh khỏi những khiếm
trên ngân hàng còn có nhiều hoạt động khác như: kinh doanh ngoại tệ, tài trợ cho
3
các hoạt động của chính phủ, bảo lãnh, cho thuê, cung cấp các dịch vụ uỷ thác và
tư vấn, cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán…
Kinh doanh ngoại tệ là một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được
thực hiện. Hoạt động này là mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và
hưởng phí dịch vụ.
Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ khách
hàng. Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng mua chịu hàng hoá trang thiết
bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác.
Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để khách hàng thuê theo
những thoả thuận nhất định. Sau thời gian nhất định khách hàng trả cả gốc lẫn lãi
cho ngân hàng.
Dịch vụ môi giới chứng khoán nhằm cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ
phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác. Hiện nay hầu hết các ngân hàng tổ
chức ra công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán để cung cấp dịch
vụ môi giới.
1.2. Hoạt động tín dụng trung – dài hạn của ngân hàng thương mại
1.2.1. Kháí niệm
Tín dụng (Credit) xuất phát từ chữ Latin là Credo (tin tưởng, tín nhiệm).
Trong thực tế cuộc sống, thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác
nhau, trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động thì ngân hàng được hiểu như
sau:
Tín dụng là một giao dịch giữa hai bên trong đó một bên (người cho vay) cung
cấp tiền, hàng hoá, dịch vụ hoặc chứng khoán dựa vào lời hứa thanh toán lại trong
tương lai của bên kia (bên vay tiền). Thông thường những giao dịch như vậy bao
gồm cả việc thanh toán lợi tức cho người cho vay.
4
trên cơ sở sự thoả thuận giữa các bên dựa trên nguyên tắc cùng có lợi. Như vậy
việc tham gia mối quan hệ này là hoàn toàn tự nguyện và nó đem lại lợi ích cho cả
hai bên. Mà ngân hàng và doanh nghiệp là hai chủ thể quan trọng hàng đầu trong
nền kinh tế quốc dân, do đó việc nâng cao chất lượng hoạt động của hai chủ thể
này cũng sẽ góp phần vào sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế. Nên việc
mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng tín dụng trung – dài hạn có vai trò quan
trọng đối với ngân hàng nói riêng, sự phát triển của nền kinh tế nói chung và
doanh nghiệp
Đối với ngân hàng: Trong các tài sản của ngân hàng thì khoản mục cho vay
bao giờ cũng chiếm tỷ trọng cao nhất là khoản mục mang lại thu nhập lớn cho
ngân hàng và đem lại cho ngân hàng một số lượng lớn khách hàng.Thu nhập từ
tiền vay biểu hiện dưới dạng lãi vay và phụ thuộc chủ yếu vào thời hạn khoản vay.
Thời hạn càng dài thì thu nhập càng cao nên thu nhập của ngân hàng càng lớn. Do
đó một ngân hàng có thể mở rộng cho vay trung – dài hạn để có thể kiếm nhiều lợi
nhuận hơn. Nhưng tín dụng trung – dài hạn có thời hạn cao nên rủi ro càng cao
nên mở rộng quy mô phải đi kèm với việc nâng cao chất lượng tín dụng.
Mặt khác, việc đáp ứng tốt nhu cầu tín dụng trung – dài hạn mang lại cho
ngân hàng vũ khí cạnh tranh lợi hại. Khả năng mở rộng tín dụng trung – dài hạn
thể hiện tiềm lực mạnh về vốn của ngân hàng; chất lượng tín dụng cao thể hiện
năng lực quản lý, chuyên môn của cán bộ ngân hàng điều đó tạo nên uy tín cho
ngân hàng. Và tín dụng trung – dài hạn là xuất phát điểm để ngân hàng tạo mối
quan hệ tốt với khách hàng, phát triển thêm nhiều dịch vụ khác của mình. Khi
ngân hàng cho vay trung – dài hạn để mở rộng quy mô sản xuất, nhà xưởng, máy
6
móc thiết bị thì tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển cần nhiều vốn lưu động
nên cho vay ngắn hạn được mở rộng. Còn các dịch vụ khác như thanh toán, bảo
lãnh, tư vấn cũng sẽ tăng lên và dĩ nhiên ngân hàng cho vay sẽ được lựa chọn ưu
tiên nhất.
Đối với doanh nghiệp: Trong mỗi nền kinh tế, ở mỗi thời kỳ thì nhu cầu vốn
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, nhiệm vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá
đất nước nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội đang được
Đảng và nhà nước đặt lên hàng đầu. Nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư đó bao
gồm: nguồn do ngân sách nhà nước cấp, nguồn tích luỹ từ các doanh nghiệp,
nguồn huy động trong dân cư, vay nước ngoài, vốn tín dụng ngân hàng. Trong các
nguồn này thì nguồn tín dụng ngân hàng là nguồn chủ yếu đáp ứng nhu cầu vốn
trung – dài hạn cho đầu tư phát triển. Nên tín dụng trung – dài hạn có vai trò rõ rệt
trong phát triển kinh tế đất nước ta nhất là trong thời kỳ hội nhập với nền kinh tế
thế giới.
1.2.4. Đặc điểm của tín dụng trung – dài hạn.
Trong khoản mục tín dụng, tỷ trọng tín dụng ngắn hạn tại các ngân hàng
thương mại thường cao hơn tín dụng trung – dài hạn do các ngân hàng chủ yếu tài
trợ cho các tài sản lưu động của khách hàng. Tín dụng trung – dài hạn thường có
tỷ trọng thấp hơn do rủi ro cao hơn, nguồn vốn đắt hơn và khan hiếm hơn. Điều
này thể hiện cụ thể trong đặc điểm của tín dụng trung – dài hạn:
8
+Thời gian cho vay cao:
Theo quyết định của thống đốc NHNN số284/2002/QĐ-NHNN ngày
25/8/2002 về việc ban hành quy chế cho vay các tổ chức tín dụng đối với khách
hàng tại điều 3 khoản 2 định nghĩa: “Thời hạn cho vay là một khoảng thời gian
được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận tiền vay cho đến khi khách hàng trả hết
nợ gốc và lãi tiền vay đã được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín
dụng và khách hàng”. Thời hạn này do hai bên ngân hàng và khách hàng thoả
thuận và được ghi trong hợp đồng tín dụng. Đối với cho vay trung – dài hạn thì
thời gian cho vay trên 1 năm và không quá thời gian khấu hao cần thiết của tài sản
hình thành từ vốn vay. Vốn tín dụng có thể điều chỉnh linh hoạt tuỳ vào tình hình
thực tế của doanh nghiệp vay vốn. Nếu tình hình kinh doanh thuận lợi, doanh
nghiệp có nguồn thu dồi dào mà không cần sử dụng ngay thì có thể hoàn trả ngân
hàng trước hạn. Ngược lại, nếu tình hình kinh doanh gặp khó khăn do các lý do
Do thời hạn cho vay cao nên khả năng chuyển đổi thành tiền trong thời gian
ngắn là thấp. Nên tính thanh khoản của tín dụng trung - dài hạn là thấp. Thông
thường ở ngân hàng tính thanh khoản cao thể hiện ở chứng khoán ngắn hạn.
1.3. Chất lượng tín dụng trung – dài hạn
1.3.1. Khái niệm chất lượng tín dụng
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành ngân hàng, phạm trù “chất lượng
tín dụng” biến đổi qua các thời kỳ khác nhau. Trước đây chất lượng tín dụng được
hiểu là an toàn tín dụng tức là được đo lường bằng mức độ tổn thất phát sinh trực
tiếp từ rủi ro đối với mỗi khoản cho vay của ngân hàng thương mại. Một ngân
10
hàng có chất lượng tín dụng cao khi mà đáp ứng được các yêu cầu như khoản vay
được trả cả gốc và lãi đúng hạn, có ít các khoản nợ xấu và tỷ lệ nợ quá hạn là thấp.
Hiện nay khái niệm chất lượng tín dụng được mở rộng: “chất lượng tín dụng
là vừa đáp ứng yêu cầu của khách hàng phù hợp với sự phát triển của đất nước vừa
đảm bảo sự tồn tại, phát triển của ngân hàng. Do đó một khoản tín dụng có chất
lượng cao khi nó đáp ứng được các yêu cầu như:
+ Đối với khách hàng: Khoản tín dụng đáp ứng đủ nhu cầu về vốn, lãi suất
phù hợp, thủ tục cho vay đơn giản thuận tiện cho khách hàng. Điều này sẽ tạo điều
kiện cho khách hàng sản xuất kinh doanh hiệu quả để có thể hoàn trả cả gốc lẫn lãi
cho ngân hàng và gia tăng giá trị tài sản cho khách hàng.
+ Đối với ngân hàng: Khoản tín dụng có chất lượng phải đảm bảo nguyên tắc
đầu tiên là khách hàng hoàn trả cả vốn lẫn lãi theo hợp đồng. Ngoài ra các khoản
tín dụng có quy mô, thời gian, lãi suất phù hợp với thực lực của ngân hàng và khả
năng cạnh tranh với các ngân hàng khác sẽ làm tăng chất lượng tín dụng của ngân
hàng.
+ Đối với sự phát triển kinh tế, xã hội: Tín dụng có chất lượng phải đảm bảo
thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, phục vụ cho sản xuất và lưu thông hàng
hoá góp phần tạo công ăn việc làm giảm thất nghiệp, khai thác phát triển khả năng
tiềm tàng của nền kinh tế.
dụng trung – dài hạn nói riêng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các doanh
nghiệp, tổ chức, cá nhân trong xã hội hay gián tiếp ảnh hưởng đến nền kinh tế đất
nước. Hiệu quả đối với nền kinh tế của tín dụng trung – dài hạn thể hiện rõ ở chỗ
12
tín dụng trung – dài hạn góp phần ổn định nền tài chính tiền tệ của quốc gia; nâng
cao năng lực hoạt động, năng lực công nghệ của doanh nghiệp; thúc đẩy, mở rộng
sản xuất kinh doanh của nền kinh tế; tạo công ăn việc làm khi có nhiều dự án được
đầu tư; tăng thu nhập; nâng cao mức sống dân cư… Nếu chất lượng tín dụng càng
tốt thì các hiệu quả của tín dụng trung – dài hạn càng thể hiện rõ nét hơn
Hiệu quả đối với khách hàng: Một ngân hàng có đội ngũ khách hàng đông
đảo là những doanh nghiệp có uy tín trên thị trường thì đó là một trong những dấu
hiệu cho thấy chất lượng tín dụng của ngân hàng là khả quan. Để thu hút được
lượng khách hàng đông đảo thì ngân hàng cũng phải có những biện pháp để đáp
ứng tốt nhu cầu của khách hàng. Hiệu quả của chất lượng tín dụng đối với khách
hàng thể hiện trực tiếp ở chỗ thủ tục đơn giản, thuận tiện (tuy nhiên phải đảm bảo
những nguyên tắc an toàn tối thiểu cần thiết cho hoạt động tín dụng của ngân hàng
để tránh những rủi ro do thủ tục), cung cấp vốn nhanh chóng, kịp thời, an toàn.
Nhờ đó khách hàng sẽ tiết kiệm được chi phí giao dịch, tiết kiệm được thời gian
và nhất là không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh tốt. Ngoài ra, ngân hàng còn phải trở
thành người bạn thực sự của khách hàng; sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ khó khăn, tư
vấn khi có vướng mắc với khách hàng. Làm như vậy thì nguồn vốn tín dụng mới
thực sự phát huy được vai trò đòn bẩy giúp doanh nghiệp trong việc cải tiến thiết
bị, đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh. Và khi doanh
nghiệp hoạt động có hiệu quả thì ngân hàng sẽ cũng tránh được những rủi ro tín
dụng đồng thời chất lượng tín dụng cũng được nâng lên.
Đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng: Chất lượng tín dụng mà nhất
là chất lượng tín dụng trung – dài hạn được nâng cao còn được thể hiện ở việc
đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Hay các khoản tín dụng này phải
mang lại thu nhập cho ngân hàng đủ để trang trải các chi phí liên quan và có lãi,
tín dụng của ngân hàng thấp Chỉ tiêu này cùng doanh số cho vay nói lên chất
lượng tín dụng của ngân hàng. Tín dụng được đánh giá là có chất lượng cao khi
mà doanh số cho vay đi kèm doanh số thu nợ cao.
+ Dư nợ trung – dài hạn:
Chỉ tiêu này cho biết số tiền mà ngân hàng hiện đang còn cho vay trên thị
trường. Chỉ tiêu này phản ánh thu nhập trong tương lai của ngân hàng. Ngân hàng
thường phải theo dõi kiểm soát các khoản nợ này của khách hàng xem khách hàng
sử dụng có đúng mục đích hay không. Chỉ tiêu này quyết định chất lượng tín dụng
trung – dài hạn trong tương lai của ngân hàng.
15
Dư nợ cho vay trung – dài hạn/ Tổng dư nợ cho vay: Phản ánh quy mô của tín
dụng trung – dài hạn trong mối tương quan với quy mô tín dụng ngắn hạn. Tỷ lệ
này càng cao cho thấy ngân hàng chú trọng đến cho vay trung – dài hạn. Mở rộng
tín dụng trung – dài hạn mang lại thu nhập cao cho ngân hàng đồng thời giúp ngân
hàng nâng cao uy tín, mở rộng thị trường tín dụng ngắn hạn. Tuy nhiên các ngân
hàng thường quy định và giám sát tỷ lệ này ở một mức nhất định phù hợp với khả
năng tài chính, nguồn vốn, năng lực của ngân hàng.
Dư nợ trung – dài hạn/Tổng tài sản: Phản ánh quy mô cho vay trung – dài
hạn so với tổng tài sản đồng thời đánh giá tính hợp lý trong cơ cấu sử dụng vốn
của ngân hàng. Tỷ lệ này cao chứng tỏ các khoản vay trung – dài hạn chiếm tỷ
trọng cao trong tổng tài sản. Điều này là tích cực nếu ngân hàng có tiềm năng dồi
dào về nguồn vốn trung – dài hạn đồng thời việc quản lý cho vay được thực hiện
tốt, bảo đảm an toàn. Còn nếu ngược lại thì ngân hàng đang ở tình thế nguy hiểm
có thể dẫn tới mất khả năng thanh toán bất cứ lúc nào.
+ Lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng trung – dài hạn:
Các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động kinh doanh đều hướng tới mục
tiêu quan trọng nhất là lợi nhuận và các ngân hàng cũng không nằm trong ngoại lệ
16
không trả được nợ và buộc phải gia hạn nợ.
+ Đảo nợ hoặc giãn nợ: đảo nợ làm giảm nợ quá hạn so với thực tế. Để che
giấu ngân hàng cấp trên và không bị chịu lãi phạt, cán bộ ngân hàng và khách
hàng thoả thuận để cho vay khoản nợ mới trả khoản nợ cũ. Hoặc nhân viên ngân
hàng thực hiện giãn nợ đối với khoản vay không thể trả được, hành vi này làm chỉ
tiêu nợ quá hạn và nợ khó đòi không phản ánh đầy đủ rủi ro tín dụng.
18
+ Chính sách cho vay của ngân hàng: có nhiều khoản cho vay khó đòi không
thể thu hồi bằng phát mại tài sản như cho vay đối với doanh nghiệp nhà nước hay
người nghèo…, những khoản vay này phần lớn là cho vay theo chỉ thị của chính
phủ. Khi chưa có biện pháp giải quyết, nó trở thành tài sản “ảo”, nhiều ngân hàng
xếp chúng vào nợ khoanh (khi chính phủ đồng ý). Chúng sẽ đe doạ đến lợi nhuận
của ngân hàng nếu chính phủ không có biện pháp để bù đắp.
Tỷ lệ nợ quá hạn trung – dài hạn/ Dư nợ tín dụng trung – dài hạn: Đây là chỉ
tiêu phản ánh tình hình nợ quá hạn của ngân hàng trong cho vay trung – dài hạn.
Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ ngân hàng đang gặp nhiều rủi ro. Thực tế do những
rủi ro trong kinh doanh là không thể tránh khỏi nên các ngân hàng thường duy trì
tỷ lệ nợ quá hạn trong giới hạn cho phép. Tuy nhiên tỷ lệ này chỉ tính đến các
khoản nợ đến hạn chưa trả đủ cả gốc và lãi chứ chưa xét đến các khoản nợ có
nguy cơ khó đòi.
+ Vòng quay vốn trung – dài hạn:
Vòng quay vốn trung – dài hạn =
19
Chỉ tiêu này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn tín dụng trung – dài hạn.
Vòng quay càng cao chứng tỏ nguồn vốn vay của ngân hàng luân chuyển càng
nhanh, tham gia nhiều vào chu trình sản xuất kinh doanh và lưu thông hàng hoá.
Chỉ tiêu này càng gần 1 chứng tỏ khả năng thu nợ trung – dài hạn của ngân hàng
là tốt, hiệu quả cho vay cao nên quản lý vốn của ngân hàng cao, chất lượng tín
thường đặt ra những điều kiện, tiêu chuẩn tín dụng nhằm phân loại ra những khách
21
hàng có thể cho vay và không thể cho vay. Nên có nhiều yếu tố thuộc về khách
hàng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng. Các yếu tố đó bao gồm:
+ Năng lực kinh doanh của khách hàng ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả của
phương án kinh doanh từ đó ảnh hưởng trực tiếp tới việc trả nợ cho ngân hàng.
Năng lực sản xuất kinh doanh thể hiện ở quy mô, năng suất, khả năng đáp ứng nhu
cầu thị trường về giá cả, chất lượng, khả năng mở rộng sản xuất. Ngoài ra các
ngân hàng cũng thường yêu cầu các doanh nghiệp phải hoạt động ổn định và có lãi
trong một khoảng thời gian nhất định. Trong trường hợp phương án kinh doanh
không có hiệu quả thì năng lực tài chính chính là yếu tố mang tính quyết định
trong việc trả nợ cho ngân hàng của người đi vay.
+ Các biện pháp đảm bảo: Các khoản tín dụng thường yêu cầu có tài sản đảm
bảo để đảm bảo an toàn cho ngân hàng khi rủi ro xảy ra. Nhất là cho vay trung –
dài hạn có tiềm ẩn nhiều rủi ro do thời gian và quy mô nên các khoản cho vay
trung – dài hạn thường có tài sản đảm bảo. Hình thức bảo đảm là cầm cố, thế
chấp, bảo lãnh.
+ Khả năng quản lý của doanh nghiệp: Bao gồm chất lượng tín dụng nhân sự
quản lý, sự phối kết hợp giữa các thành viên trong ban quản lý nhằm xây dựng cơ
22
cấu hợp lý trong doanh nghiệp, cho phép tận dụng tối đa nguồn lực của doanh
nghiệp để đạt mục tiêu cao nhất. Nếu năng lực quản lý của doanh nghiệp tốt thì
khả năng kinh doanh đạt hiệu quả là rất cao nên trả được nợ cho ngân hàng hay
chất lượng tín dụng của ngân hàng tăng lên
Bên cạnh đó, đạo đức uy tín của người vay cũng ảnh hưởng tới chất lượng tín
dụng. Rất nhiều người vay sẵn sàng mạo hiểm với kỳ vọng thu được lợi nhuận
cao, để đạt được mục đích của mình họ sẵn sang tìm mọi thủ đoạn ứng phó với
ngân hàng như cung cấp sai các thông tin, mua chuộc cán bộ tín dụng… Và có
hoạt động tín dụng.
24
Khả năng thu thập và xử lý thông tin: Thông tin về khách hàng là yếu tố quan
trọng để ngân hàng đánh giá tình hình thực tế của khách hàng, để từ đó ra quyết
định xem khách hàng có đủ tiêu chuẩn để được vay vốn hay không. Các thông tin
mà ngân hàng thường thu nhập liên quan đến khách hàng bao gồm những thông
tin do khách hàng cung cấp (hồ sơ vay vốn, sổ sách kế toán, báo cáo tài chính),
nguồn thông tin từ thị trường và các tổ chức có liên quan, nguồn thông tin do ngân
hàng điều tra trực tiếp tại cơ sở sản xuất kinh doanh. Khi ngân hàng có một hệ
thống thu thập và xử lý thông tin đầy đủ sẽ giúp cho ngân hàng lọc ra những
khách hàng tốt, thực hiện các khoản cho vay lành mạnh mang lại lợi nhuận cho
ngân hàng đồng thời nâng cao chất lượng tín dụng cho ngân hàng. Ngoài ra thông
tin chính xác, kịp thời, đầy đủ còn giúp ngân hàng xây dựng hoặc điều chỉnh kế
hoạch kinh doanh, chính sách tín dụng một cách linh hoạt, phù hợp với tình hình
thực tế. Tất cả những điều này góp phần nâng cao chất lượng của ngân hàng.
Chất lượng cán bộ: Cho dù khoa học hiện đại đã mở ra cơ hội tự động hoá
trong nhiều lĩnh vực song nhân tố con người vẫn là nhân tố giữ vai trò quyết định.
Năng lực, phẩm chất cán bộ là một trong những yếu tố quan trọng tác động tới
chất lượng tín dụng của ngân hàng. Việc tuyển chọn những cán bộ có đạo đức
25