Thực trạng nội dung kế tóan nghiệp vụ cho vay tại chi nhánh
ngân hàng Ngoại Thương Hưng Yên.
2.1. Khái quát về tình hình hoạt động của chi nhánh ngân hàng Ngoại
Thương Hưng Yên.
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển.
Theo quyết định 5 – 2004 thì chính thức vào ngày 23-11-2004, chi nhánh
Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam - VietComBank (VCB) tại tỉnh Hưng
Yên được thành lập. Là chi nhánh của một ngân hàng thương mại quốc doanh
(NHTMQD) thuộc loại lâu đời nhất tại Việt Nam và được quản lí vốn tập
trung (Ngân hàng VCB được thành lập từ 1/4/1963, tính đến nay đã được 44
năm) với vốn điều lệ khoảng 400 tỷ đồng . Đây là một trong những chi nhánh
năng động của VCB, có mối liên hệ thanh toán liên ngân hàng của khoảng 100
ngân hàng trong và ngòai nước. Mặc dù mới được thành lập hơn 2 năm nay,
tuy nhiên chi nhánh ngân hàng VCB Hưng Yên luôn giữ được thế mạnh của
VCB đó là trong lĩnh vực ngoại tệ, đồng thời là chi nhánh của ngân hàng VCB
và cũng chính là thành viên của:
- Hiệp hội ngân hàng Việt Nam
- Hiệp hội ngân hàng Châu Á
- Tổ chức thanh toán tòan cầu Swift
- Tổ chức thẻ quốc tế Visa, Master Card
Trong những năm gần đây nền kinh tế thế giới có nhiều biến cố lớn như
cuộc khủng khoảng tài chính và tiền tệ, sự sáp nhập của các tập đoàn kinh tế,
định chế trong hệ thống tài chính ngân hàng thế giới tiếp tục diễn ra đã ảnh
hưởng không nhỏ đến nền kinh tế Việt Nam trên các lĩnh vực đầu tư nước
ngoài, sản xuất và tiêu thụ hàng hoá nên tốc độ phát triển kinh tế chỉ được duy
trì ở mức khiêm tốn. Tuy vậy, cùng với những biện pháp tháo gỡ khó khăn
linh hoạt của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì với những cố
gắng, nỗ lực lớn lao của mình Ngân hàng Ngoại thương nói chung và chi
nhánh Hưng Yên vẫn luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao và ổn định liên
tiếp qua các năm. Mặc dù môi trường kinh doanh có nhiều khó khăn nhưng
hoạt động Tín dụng của chi nhánh đã được cải tiến về nhiều mặt nên đảm bảo
và chi nhánh Hưng Yên nói riêng phát triển các ứng dụng khác và tạo điều
kiện để triển khai các dịch vụ thương mại điện tử sau này.
Xác định được những khó khăn trước mắt cũng như trong tương lai,
nhằm hội nhập với bên ngoài, theo đuổi các chuẩn mực ngân hàng trong khu
vực cũng như trên thế giới, Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hưng Yên đã
xây dựng chiến lược phát triển đến năm 2010 với những định hướng lớn và
toàn diện bảo đảm cho chi nhánh phát triển lành mạnh mang lại hiệu quả thiết
thực cho khách hàng, bạn hàng cũng như cho Ngân hàng VCB.
Nhiệm vụ hàng đầu của chi nhánh là họat động cho vay cho các cá nhân
tổ chức, các thành phần kinh tế, dân cư, các tổ chức nước ngòai, nhưng do đặc
thù là nằm ở trong khu vực có nhiều khu công nghiệp nên khách hàng chủ yếu
vẫn là các doanh nghiệp Việt Nam đến vay vốn để phục vụ sản xuất. Nguồn
vốn huy động một phần là từ các nguồn ngắn, trung và dài hạn từ các thành
phần kinh tế, tổ chức phi chính phủ…, phần còn lại là từ vốn điều lệ.
Trong quá trình hoạt động, Chi nhánh Hưng Yên có triển khai các dịch vụ
sau:
· Nhận tiền gửi vào tài khoản, tiết kiệm Đồng Việt Nam và ngoại tệ.
· Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bằng Đồng Việt Nam và
ngoại tệ
· Chuyển tiền trong và ngoài nước.
· Thanh toán xuất nhập khẩu (L/C - D/A - D/P ).
· Nhận mua bán giao ngay, có kỳ hạn và hoán đổi các loại ngoại tệ mạnh.
· Bảo lãnh và tái bảo lãnh.
· Thực hiện thanh toán quốc tế thông qua hệ thống SWIFT, Money Gram ...
của ngân hàng VCB Việt Nam
Xét một cách tòan diện, tuy mới chỉ thành lập được 2 năm, nhưng chi
nhánh ngân hàng Ngoại Thương Hưng Yên đã phát triển rất nhanh và trưởng
thành. Chi nhánh đã biết cách phát huy nội lực, cố gắng không ngừng để hoàn
thành được các chỉ tiêu do Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam giao, góp
phần không nhỏ và sự thành công của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại
- Phòng PR có nhiệm vụ tiếp xúc, thu thập thông tin khách hàng, thúc
tiến quan hệ với khách hàng, giới thiệu sản phẩm, xúc tiến thương mại. Néu
khách hàng có một nhu cầu bất kì muốn được ngân hàng giải quyết thì việc
đầu tiên là phải được sự đồng thuận của phòng PR.
- Tiếp đó, thủ tục sẽ được giải quyết tại phòng kế tóan thanh tóan và
dịch vụ. Tại đây, mọi thao tác nghiệp vụ sẽ đuợc diễn ra.
- Sau đó, khách hàng sẽ phải qua phòng ngân quỹ để được nộp tiền (khi
gửi) hoặc là nhận tiền (khi đi vay). Phòng ngân quỹ có chức năng quản lí trực
tiếp dòng tiền vào ra của doanh nghiệp.
- Cuối cùng là tổ kiểm tra nội bộ. Đây là bộ phận có chức năng phát
hiện sai sót… của các bộ phận còn lại trong chi nhánh.
Tất cả các bộ phận trên đều phải chịu sự chỉ đạo và điều hành của giám
đốc chi nhánh. Giám đốc không fải là người trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ,
mà là người có trách nhiệm quản lí và tổ chức điều hành câc bộ phận của chi
nhánh.
Vào đầu tuần (thứ 2) đều có tổ chức họp giao ban, đánh giá kết quả hoạt
động của tùân trước đó và đề ra mục tiêu, phương hướng và nhiệm vụ cụ thể
của tuần tới. Vào cuối tháng, đều có tổng kết đánh giá tình hình hoạt động.
2.1.3. Tình hình hoạt động của chi nhánh ngân hàng Ngoại Thương
Hưng Yên.
Do đặc điểm là một chi nhánh của ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam,
do đó trong báo cáo của chi nhánh Hưng Yên sẽ không có báo cáo về kết quả
hoạt động kinh doanh cuối năm về chi phí, lỗ lãi, mà chỉ có các số liệu về huy
động và sử dụng vốn.
Trong hơn 2 năm hoạt động, mặc dù còn ít kinh nghiệm, tuy vậy
kết quả hoạt động của chi nhánh được đánh giá là rất tốt. Đặc biệt trong bối
cảnh cổ phần hóa và gia nhập WTO, thì việc làm ăn có hiệu quả và có lãi là
yếu tố đặc biệt quan trọng, quyết định đến sự sống còn của 1 chi nhánh nói
riêng cũng như của cả hệ thống nói chung.
Dưới đây là số liệu tổng hợp được từ chi nhánh Ngân hàng Ngoai thương
+ Cho vay ngắn hạn
0 31.645.927.789 98.130.040.458
+ Cho vay trung, dài hạn
0 27.816.489.822 29.466.003.177
Nguồn: số liệu tổng hợp của chi nhánh Ngân hàng Ngoai thương Hưng
Yên 2004 – 2006 (lấy từ hệ thống cơ sở dữ liệu trên máy của chi nhánh -
phòng PR).
Đó là số liệu mà tôi đã thu thập được từ nguồn của phòng PR, số liệu
được tổng hợp trong vòng 3 năm, bắt đầu từ khi chi nhánh Hưng Yên đi vào
hoạt động là tháng 11 năm 2004 đến ngày 31 tháng 12 năm 2006.
Số liệu thu thập được sẽ được chia làm 3 mảng chính:
- Tình hình huy động vốn
- Tình hình họat động cho avy
- So sánh, đối chiếu và nhận xét
Các phần dưới đây sẽ thực hiện nhiệm vụ phân tích số liệu, so sánh các
năm và chỉ ra nguyên nhân tăng giảm của từng thời kì.
2.1.3.1. Họat động huy động vốn.
Bảng 2: Tình hình huy động vốn từ 11/2004 đến 31/12/2006
Đơn vị: đồng
Chỉ tiêu 2004 2005 2006
1. Nguồn vốn huy động 1.526.978.305 81.957.720.247 97.926.389.317
-Tiền gửi của TCTD
0 2.195.674.890 2.509.171.603
- Tiền gửi của khách hàng
VNĐ
Ngoại tệ
1.151.945.760 12.850.720.135 25.296.418.816
34.985.355 1.151.265.200 2.829.031.876
- Tiền gửi tiết kiệm
VNĐ
khoảng 1/12) trong hoạt động huy động nói chung. Điều này cũng có thể hiểu
được, bởi vì chi nhánh lúc bấy giờ mới được đưa vào hoạt động khoảng 1
năm, do đó còn thiếu kinh nghiệm về thị trường và chưa có đủ các sản phẩm
tiên tiến nhất để các khách hàng có thể tiếp cận.
Vào năm tài khóa 2006, nhìn vào số liệu thu thập được ta đã thấy được
những nét mới. Đó là hoạt động huy động vốn đã tăng lên, từ 82 tỷ năm 2005
đã lên đến 98 tỷ năm 2006, tốc độ tăng là gần 20% so với năm 2005, một con
số rất đáng biểu dương.. Trong đó tiều gửi từ các tổ chức tín dụng tăng nhẹ
(hầu như ko thay đổi về số tuyệt đối)
Tuy vậy mốc đánh dấu ở đây chính là tiền gửi thanh toán của khách hàng
đã tăng gấp đôi, từ 13 tỷ năm 2005 đã lên đến con số 27 tỷ năm 2006. Rõ ràng
chi nhánh Hưng Yên đã gây được niềm tin cho khách hàng gửi thanh tóan.
Điều này cũng hoàn tòan dễ hiểu, bởi vào năm 2006 chi nhánh ngân hàng đã
hoàn thiện hệ thống thanh tóan trên cơ sở ứng dụng và phát triển công nghệ tin
học viễn thông vào hoạt động kinh doanh. Ta có thể chỉ ra một số sản phẩm,
dịch vụ và công nghệ sau được áp dụng:
- Triển khai hệ thống thanh toán Swift, tận dụng lợi thế được biết đến là
một Ngân hàng có uy tín lớn trong lĩnh vực thanh toán quốc tế.
- Áp dụng Sản phẩm “VCB Vision 2010”: Sản phẩm Ngân hàng bán lẻ
hay còn gọi là sản phẩm Ngân hàng lõi “VCB Vision 2010”. Được bắt đầu xây
dựng từ năm 1995, sản phẩm “VCB Vision 2010”, với hệ thống thông tin tích
hợp và tập trung, đã chính thức được đưa vào sử dụng trong toàn hệ thống
Vietcombank từ năm 2001. Việc xây dựng thành công “VCB Vision 2010”
trong toàn hệ thống đóng một vai trò chiến lược cho phép chi nhánh Hưng
Yên ứng dụng và triển khai các sản phẩm bán lẻ trên nền tảng công nghệ hiện
đại.
- Đưa áp dụng Sản phẩm “VCB Online”: Trên nền tảng hệ thống “VCB
Vision 2010”. Công chúng được thực sự làm quen với khái niệm “Ngân hàng
trực tuyến”. Với “VCB Online”, khách hàng của Vietcombank có thể mở tài
khoản ở một nơi nhưng thực hiện giao dịch ở bất kỳ chi nhánh nào thuộc hệ
Trên nền công nghệ cao và hiện đại như vậy, mặc dù là một chi nhánh trực
thuộc cấp tỉnh, tuy vậy chi nhánh ngân hàng Ngoại thương Hưng Yên đã phát
huy được thế mạnh của mình.
Bảng 3: Tình hình huy động vốn qua tiết kiệm từ 11/2004 đến 31/12/2006
Đơn vị: đồng
Chỉ tiêu 2004 2005 2006
- Tiền gửi tiết kiệm
VNĐ
Ngoại tệ
242.680.000 59.369.265.325 43.892.788.992
97.367.190 5.427.294.697 20.349.924.072
Nguồn: số liệu về tình hình huy động vốn của chi nhánh Ngân hàng
Ngoai thương Hưng Yên 2004 – 2006 (lấy từ hệ thống cơ sở dữ liệu trên máy
của chi nhánh - phòng PR).
Đó là, trong năm tài chính 2006, mặc dù tiền gửi tiết kiệm huy động về số
tuyệt dối hầu như không đổi so với năm 2005, nhưng về cơ cấu đã thay dổi, đó
là tiền việt huy động giảm đi, nhưng tiền ngoại tệ huy đông được là rất lớn: 20
tỷ, gấp 4 lần năm 2005. Cơ cấu thay dổi phản ánh chiến lược của chi nhánh:
đó là phát huy thế mạnh truyền thống của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam
trong việc buôn bán, thanh tóan với nước ngòai. Với đặc thù là nằm tại một vị
trí gần thủ đô Hà Nội, giáp với Bắc Ninh và trên đường Quốc lộ 5 ra khu công
nghiệp Hải Phòng, chi nhánh Hưng Yên có lợi thế là nằm gần rất nhiều khu
công nghiệp, đây là cơ hội vàng cho các ngân hàng, bởi vì trong quá trình hoạt
động và sản xuất, vốn là một yếu tố không thể thiếu, nếu như không muốn nói
là hàng đầu quyết định tới sự tồn tại và phát triển doanh nghiệp. Trong hoạt
động kinh doanh của mình chắc chắn sẽ có hoạt động thương mại quốc tế, và
chính các doanh nghiệp ở đây đã chọn chi nhánh Hưng Yên để tiến hành gửi
tiết kiệm ngoại tệ, trong lúc cấp bách, cũng có thể chuyển sang gửi không kì
hạn đề thực hiện các giao dịch thanh toán với đối tác quốc tế.
2.1.3.2. Hoạt động cho vay.
đầu tư mạnh hơn nên nhu cầu vốn đang tăng cao như vậy. Điều này cũng hoàn
tòan phù hợp với hoàn cảnh thực tế, bởi vì nước ta đang trong thời kì phát
triển nhanh và nóng.
Bảng 5: Biểu đồ tổng dư nợ cho vay trong năm 2005 và 2006
Đơn vị: tỷ đồng
Nguồn: số liệu về dư nợ của chi nhánh Ngân hàng Ngoai thương Hưng
Yên 2005 – 2006 (lấy từ hệ thống cơ sở dữ liệu trên máy của chi nhánh -
phòng PR).
Xét về cơ cấu vốn cho vay, thì một đìều đang mừng là ngoại tệ chiếm
nhiều hơn so với đồng Việt Nam, bảng 6 dưới đây sẽ mô tả cụ thể
Bảng 6: Biểu đồ cơ cấu vốn cho vay trong năm 2005 và 2006
Đơn vị: tỷ đồng
Nguồn: số liệu về vốn vay của chi nhánh Ngân hàng Ngoai thương Hưng
Yên 2005 – 2006 (lấy từ hệ thống cơ sở dữ liệu trên máy của chi nhánh -
phòng PR).
Vốn cho vay mà ngoại tệ nhiều hơn, đồng nghĩa với việc khác hàng chíến lược
của chi nhánh không phải là cá nhân, các công ty làm ăn trong nước, mà là các
công ty có triển vọng, và có quan hệ làm ăn với nước ngòai, họ thường sử dụng
ngoại tệ trong các giao dịch của mình. Ngoại tệ là một thế mạnh của ngân hàng
ngoại thương, do đó chiến lược này là hòan tòan chính xác và hợp với tình hình
hiện tại cũng như trong tương lai khi có nhiều doanh nghiệp nước ngòai vào làm
ăn ở Việt Nam hơn. Hơn thế nữa, các doanh nghiệp làm ăn với nước ngòai thường
là nhưng doanh nghiệp có triển vọng và có độ rủi ro thấp, khả năng thanh tóan cao,
do đó việc chọn chiến lược này là một quyết định hoàn tòan chính xác của lãnh
đạo chi nhánh. Trong quá trình thực tập, tôi có hỏi thêm số liệu về dư nợ quá hạn
cũng như nợ xấu thì được giám đốc và trưởng phòng PR cung cấp thông tin sau:
- Về các sản phẩm thì chi nhánh ngân hàng cung cấp chủ yếu là các sản phẩm liên
quan đến thanh tóan quốc tế, bảo lãnh như L/C, kinh doanh ngoại tệ.
- Khách hàng chủ yếu là các doanh nghiệp làm ăn với nước ngòai, nợ xấu của ngân
hàng hầu như không có, bởi trường hợp muộn nhât mà các doanh nghiệp nộp hoàn