MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 64

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1 . KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI
1.1.1Khái niệm
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất đối với nền
kinh tế. Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc
vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế.
Theo Giáo sư Peter S.Rose trong cuốn “Quản trị ngân hàng thương mại”
thì Ngân hàng là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính
đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện
nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong
nền kinh tế.
Còn theo Ngân hàng Thế giới định nghĩa: Ngân hàng là tổ chức tài chính
nhận tiền gửi chủ yếu ở dưới dạng không kỳ hạn hoặc tiền gửi được rút ra với
một thông báo ngắn hạn (tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các khoản tiết
kiệm). Các Ngân hàng gồm có: Ngân hàng thương mại - chỉ tham gia vào các
hoạt động nhận tiền gửi, cho vay ngắn, trung và dài hạn; Ngân hàng Đầu tư -
hoạt động buôn bán chứng khoán và bảo lãnh phát hành; Ngân hàng Nhà ở -
cung cấp tài chính cho lĩnh vực phát triển nhà ở và nhiều loại khác nữa. Tại một
số nước còn có các ngân hàng tổng hợp kết hợp hoạt động ngân hàng thương
mại với hoạt động ngân hàng đầu tư và đôi khi thực hiện cả dịch vụ bảo hiểm.
Luật pháp nước Mỹ thì cho rằng” “Bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài
khoản tiền gửi cho phép khách hàng gửi tiền theo yêu cầu và cho vay đối với tổ
chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một ngân hàng”.
Còn theo Luật các Tổ chức Tín dụng ở Việt Nam, tại khoản 2 điều 20 quy
định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt
động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”.
Từ những định nghĩa nói trên có thể rút ra Ngân hàng là một trong những
định chế tài chính, mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính, với
nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán.

trình hội nhập" của Phó Giáo Sư - Tiến sỹ Thái Bá Cẩn và Tiến sỹ Trần Nguyên
Nam cho rằng: Dịch vụ ngân hàng gồm 11 loại hình: Nhận tiền gửi, cung cấp
các tài khoản giao dịch, quản lý tiền mặt, trao đổi ngoại tệ (dịch vụ kiều hối),
dịch vụ về tín dụng (chiếu khấu thương phiếu, cho vay tài trợ dự án, cho vay
tiêu dùng), dịch vụ uỷ thác, cho thuê tài chính, tư vấn tài chính, dịch vụ quỹ
tương hỗ và trợ cấp.
Tuy nhiên, dịch vụ ngân hàng cần được hiểu theo hai khía cạnh: Rộng và
hẹp.
Theo nghĩa rộng: Dịch vụ ngân hàng là toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín
dụng, thanh toán, ngoại hối…của hệ thống ngân hàng đối với doanh nghiệp và
công chúng. Quan niệm theo nghĩa rộng này được sử dụng để xem xét lĩnh vực
dịch vụ ngân hàng trong cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân của một quốc
gia. Quan niệm này phù hợp với cách phân ngành dịch vụ ngân hàng trong dịch
vụ tài chính của WTO và Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ cũng như
nhiều nước phát triển.
Theo nghĩa hẹp: Dịch vụ ngân hàng chỉ bao gồm những hoạt động ngoài
chức năng truyên thống của định chế tài chính trung gian (nhận tiền gửi và cho
vay). Quan niệm này nên dùng trong phạm vi hẹp khi xem xét hoạt động của
một ngân hàng cụ thể để xem xét các dịch vụ mới phát triển như thế nào, cơ cấu
của chúng trong toàn bộ hoạt động của mình.
Trong bài này, dịch vụ ngân hàng được xem xét theo nghĩa hẹp, không
bao hàm hoạt động truyền thống của ngân hàng thương mại như huy động vốn
và cho vay. Các dịch vụ ngân hàng được đề cập ở đây là các hoạt động gắn liền
với việc thu phí, hưởng hoa hồng do các ngân hàng thương mại thực hiện thông
qua việc phục vụ các doanh nghiệp, các tổ chức, các cá nhân nhằm tăng nguồn
thu cho ngân hàng.
1.1.2Đặc điểm của dịch vụ Ngân hàng
Dịch vụ ngân hàng trước hết mang những đặc điểm chung của hoạt động
dịch vụ như: dịch vụ là vô hình (phi vật chất). Tính vô hình là đặc điểm để phân
biệt sản phẩm dịch vụ với các sản phẩm của ngành sản xuất vật chất khác trong

vực ngân hàng. Hơn nữa, đội ngũ cán bộ năng động, nhiệt tình và thành thạo
trong các hoạt động nghiệp vụ cũng là đòi hỏi của hoạt động dịch vụ ngân hàng.
Năm là, Các dịch vụ ngân hàng mang tính hỗ trợ cao, có mối liên kết chặt
chẽ với nhau. Sự ra đời và phát triển dịch vụ này là tiền đề cho sự ra đời và phát
triển của dịch vụ khác. Ví dụ: Dịch vụ thanh toán quốc tế phát triển đã đẩy
mạnh sự phát triển của dịch vụ mua bán ngoại tệ.v.v…
Nhờ đó, đã tạo nên sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các dịch vụ trong sự phát triển
dịch vụ ngân hàng. Ngân hàng có thể cung cấp những dịch vụ trọn gói cho
khách hàng.
1.2 CÁC DỊCH VỤ NGÂN HÀNG CHỦ YẾU
Ngân hàng thực hiện rất nhiều các nghiệp vụ khác nhau, trong đó có thể
kể đến một số hoạt động cơ bản như sau:
1.2.1 Nhận tiền gửi
Đây là một trong những nghiệp vụ quan trọng nhất đối với hoạt động
kinh doanh của một ngân hàng thương mại. Hoạt động nhận tiền gửi giúp ngân
hàng có được nguồn vốn để từ đó thực hiện các hoạt động kinh doanh khác, đặc
biệt là nghiệp vụ cho vay. Một trong những nguồn vốn quan trọng là các khoản
tiền gửi tiết kiệm của khách hàng. Khách hàng có những khoản tiền nhàn rỗi
tạm thời chưa có nhu cầu sử dụng có thể gửi vào ngân hàng trong khoảng thời
gian ngắn hoặc dài tuỳ nhu cầu dự kiến sử dụng trong tương lai. Vì đây là
nguồn vốn quan trọng, hơn nữa trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt
nên các ngân hàng đã tìm mọi cách để huy động nguồn vốn này bằng nhiều
phương thức khác nhau đồng thời cố gắng đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người
gửi tiền.
Một nguồn vốn khác là lượng tiền trên các tài khoản tiền gửi giao dịch
mà ngân hàng có thể sử dụng trong thời gian khách hàng chưa cần dùng đến.
Đây là loại tài khoản tiền gửi cho phép người gửi tiền viết séc thanh toán cho
việc mua hàng hoá, dịch vụ và các nhu cầu cá nhân khác. Ngoài ra, ngân hàng
còn có thể huy động vốn từ nền kinh tế bằng việc phát hành các chứng khoán nợ
trên thị trường tài chính như: chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu. Để thu hút được

Hiện nay, rất nhiều ngân hàng cho khách hàng kinh doanh quyền lựa
chọn mua các thiết bị, máy móc, thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó ngân
hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê. Các ngân hàng phát triển nghiệp vụ
này để phục vụ cho những khách hàng không đủ điều kiện vay như một biện
pháp bảo đảm an toàn vốn do tài sản trong thời gian thuê vẫn thuộc sở hữu của
ngân hàng.
 Tài trợ các hoạt động của chính phủ
Vào những năm đầu của cuộc cách mạng công nghiệp, khả năng huy
động vốn và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở thành tâm điểm
chú ý của các Chính phủ. Do vậy, thông thường ngân hàng được cấp giấy phép
thành lập với điều kiện phải mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định
trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được. Đây chính là hình thức
tài trợ cho khoản bội chi ngân sách (đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh thế giới
hay khủng hoảng kinh tế).
1.2.3 Dịch vụ thanh toán
Dịch vụ này tạo điều kiện cho cho các khách hàng thực hiện các khoản
thanh toán mà không phải mang đi mang lại một lượng lớn tiền mặt, mở đầu
cho hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt. Thanh toán không dùng tiền mặt
là thanh toán qua ngân hàng, là tổng hợp các mối quan hệ chi trả tiền tệ được
thực hiện bằng cách trích chuyển từ tài khoản của người này sang tài khoản của
người khác với sự kiểm soát của ngân hàng mà không cần dùng tiền mặt.
Trong mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng, ngoài những nghiệp
vụ tín dụng, nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt đóng vai trò cực kỳ quan
trọng. Khối lượng và chất lượng của nghiệp vụ thanh toán của ngân hàng
thương mại về phương diện vi mô, nó tác động đến sự tăng giảm nguồn tài
nguyên khả dụng của ngân hàng và sự khai thác của nguồn tài nguyên đó. Do
vậy, ngân hàng cần phải sử dụng các công cụ thanh toán một cách thuận tiện,
hữu hiệu và chính xác.
Các công cụ thanh toán qua ngân hàng bao gồm:
 Séc

đọc thẻ POS hoặc rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động ATM. Công nghệ
thanh toán thẻ với nhiều ưu việt nổi trội của nó so với thanh toán bằng tiền mặt
như không lãng phí vốn trong nền kinh tế, giảm thiểu rủi ro, thuận tiện cho
khách hàng đặc biệt là những người hay phải đi xa…nên thẻ thanh toán đã
nhanh chóng đi vào cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.
Thẻ là một sản phẩm dịch vụ có nhiều tiện ích, an toàn dựa trên cơ sở sở
công nghệ hiện đại được ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm hạn chế
việc thanh toán bằng tiền mặt khi mà dân số ngày càng tăng, khối lượng giao
dịch ngày càng lớn. Đồng thời đây cũng là loại hình dịch vụ làm tăng thêm
nguồn thu nhập và khả năng cạnh tranh cho ngân hàng.
Các ngân hàng thường phát hành thẻ của ngân hàng mình với các loại
như thẻ từ, thẻ chíp, thẻ thông minh…Ngoài ra, còn có những tổ chức thẻ Quốc
tế như Master, Visa, Amex…với các sản phẩm thẻ như Visa, Mastercard,
Amex, Dinner’s Club…Dịch vụ thẻ đã được sử dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia,
vùng lãnh thổ. Số lượng thẻ đã phát hành và đang sử dụng vào khoảng trên 2 tỷ,
với trên 21 triệu đại lý chấp nhận thanh toán thẻ, hơn 700.000 máy rút tiền tự
động ATM trên thế giới.
Ở Việt Nam, hoạt động thanh toán thẻ mới chỉ được triển khai từ đầu
những năm 90 với sự đi đầu của ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Song cho
đến nay đã có trên 20 ngân hàng trong nước đã và đang triển khai dịch vụ này.
 Thư tín dụng
Phương thức thanh toán này là một sự thoả thuận mà trong đó một ngân
hàng nơi mở thư tín dụng theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư tín
dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho một người thứ ba (người hưởng
lợi số tiền của thư tín dụng) khi người thứ ba này xuất trình cho ngân hàng một
bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng
nếu bên bán thực hiện đúng và đầy đủ những quy định theo thư tín dụng.
Hình thức thanh toán này có độ an toàn và chuẩn xác cao, do đó nó được
dùng phổ biến trong quan hệ thanh toán quốc tế.
 Hối phiếu

Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, các ngân hàng có rất nhiều chuyên
gia về quản lý tài chính. Ngân hàng cung cấp dịch vụ tư vấn dựa trên nhu cầu
của khách hàng và đội ngũ chuyên gia tài chính của mình. Ngân hàng có thể tư
vấn về thuế, tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về thành lập, mua bán, sáp
nhập doanh nghiệp, tư vấn về công nghệ, thị trường cho các doanh nghiệp trên
cơ sở quan hệ với khách hàng và thông tin về thị trường, về công nghệ.
1.2.7 Dịch vụ bảo hiểm
Loại hình dịch vụ này nhằm đảm bảo cho khách hàng thanh toán nợ trong
trường hợp tử vong, thương tật hay gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả năng
thanh toán. Tuy nhiên, tuỳ theo quy định của từng quốc gia cũng giới hạn các
ngân hàng thực hiện dịch vụ này như phải thành lập công ty bảo hiểm trực thuộc
ngân hàng hoặc chỉ cung cấp bảo hiểm theo một tỷ lệ nhất định so với vốn chủ
sở hữu ngân hàng.
1.2.8 Dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán
Các ngân hàng có khuynh hướng đa năng trong việc cung cấp các dịch vụ
tài chính trọn gói cho khách hàng, trong đó có dịch vụ môi giới. Dịch vụ môi
giới được phát sinh nhờ các ngân hàng thương mại có lợi thế thông tin tài chính,
do vậy cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng
khoán khác.
1.2.9 Dịch vụ đại lý
Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi nhánh
hoặc văn phòng ở nhiều nơi. Do vậy, các ngân hàng (thường là những ngân
hàng thương mại lớn) cung cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng
khác như thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu
mối trong đồng tài trợ.
Bên cạnh những dịch vụ kể trên, ngân hàng còn có các dịch vụ khác như
cung cấp các kế hoạch hưu trí, cung cấp dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp, cung
cấp các dịch vụ của ngân hàng quốc tế…
1.2.10 Quản lý ngân quỹ
Ngân hàng cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ, trong khi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status