Kho¸ luËn tèt nghiÖp Phan ThÞ V©n- Líp NhËt 2- K38F
MỤC LỤC
TRAN
G
LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG I. LÍ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA HÀNG THUỶ SẢN XUẤT KHẨU VIỆT
NAM SANG THỊ TRƯỜNG MỸ
1
1.1 LÍ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1
1.1.1 NĂNG LỰC CẠNH TRANH LÀ GÌ 1
1.1.2 CÁC YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH NĂNG LỰC CẠNH
TRANH
2
1.1.2.1 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH QUỐC GIA
2
1.1.2.2 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH NGÀNH HÀNG
3
1.1.2.3 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH SẢN PHẨM
4
1.2 BỐI CẢNH VÀ XU THẾ CẠNH TRANH CỦA HÀNG
THUỶ SẢN XUẤT KHẨU TRÊN THẾ GIỚI
6
1.2.1 TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG THUỶ SẢN TRÊN THẾ
GIỚI
6
1.2.2 CÁC THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU THUỶ SẢN LỚN 9
DOANH CỦA NGƯỜI MỸ
29
2.1.1.1 THỊ HIẾU TIÊU DÙNG CỦA NGƯỜI MỸ 29
2.1.1.2 TẬP QUÁN KINH DOANH CỦA NGƯỜI MỸ 31
2.1.2 CÁC SẢN PHẨM THUỶ SẢN TRONG VÀ NGOÀI
NƯỚC ĐƯỢC NGƯỜI TIÊU DÙNG MỸ ƯA CHUỘNG
33
2.1.3 CÁC QUỐC GIA CHỦ YẾU VỀ XUẤT KHẨU THUỶ
SẢN SANG MỸ
39
2.1.3.1 CANADA 40
2.1.3.2 THÁI LAN 42
2.1.3.3 TRUNG QUỐC 43
2.1.4 CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI VÀ HỆ THỐNG LUẬT
PHÁP MỸ LIÊN HỆ TRỰC TIẾP ĐẾN NGÀNH THUỶ SẢN
45
2.2 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU THUỶ SẢN CỦA VIỆT
NAM SANG THỊ TRƯỜNG MỸ TRONG NHỮNG NĂM GẦN
ĐÂY
48
2.2.1 KẾT QUẢ XUẤT KHẨU HÀNG THUỶ SẢN VIỆT
NAM SANG THỊ TRƯỜNG MỸ TRONG THỜI GIAN QUA
48
2.2.2 Các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu thuỷ sản mạnh
sang Mỹ
50
2.2.3 Các sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu chính 52
2.2.3.1 Mặt hàng tôm: 53
2.2.3.2 Mặt hàng cá đông lạnh 55
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Phan ThÞ V©n- Líp NhËt 2- K38F
pháp luật trong ngành thuỷ sản Mỹ
84
3.3.2 Giải quyết tốt vấn đề thương hiệu sản phẩm 85
3.3.3 Lựa chọn kênh phân phối hiệu quả nhất 87
3.3.4 Thực hiện tốt mối quan hệ ngoại giao 87
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Phan ThÞ V©n- Líp NhËt 2- K38F
LỜI NÓI ĐẦU
Trong dự thảo Luật Thủy sản lần thứ 12 đã được Quốc hội thông qua
ngày 11/11/2003 và sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2004, Đảng và Nhà
nước ta đã xác định ngành Thuỷ sản l!ẳmột ngàkh kinh tế mũi nhọn trong
nền kinh tế quốc dân. Với đường bờ biển dài hơn 3000 km, hệ thống sông
ngòi ao hồ dày đặc, hơn 4 triệu lao động nghề cá, tiềm năng phát triển ngành
thuỷ sản của Việt Nam là rất lớn. Đóng góp trên 10% trong tổng kim ngạch
xuất khẩu cả nước năm 2002, đưa Việt Nam đứng vào hàng thứ 11 trong số
các nước xuất khẩu thuỷ sản lớn nhất thế giới năm 2000, xuất khẩu thuỷ sản
đã trở thành ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong điều kiện hiện nay
khi đất nước đang trên đà phát triển, mở cửa kinh tế hội nhập với khu vực và
thế giới. Đây là hướng đi rất đúng đắn của Đảng và nhà nước ta vì xuất khẩu
thuỷ sản phù hợp với khả năng của Việt Nam, phát huy được lợi thế so sánh
khi cạnh tranh với các nước khác.
Các thị trường xuất khẩu thuỷ sản lớn của Việt Nam là Nhật Bản, Mỹ,
Trung Quốc và EU. Lô hàng thuỷ sản Việt Nam đầu tiên cập cảng nước Mỹ
vào tháng 7/1994, sau 4 tháng Mỹ bãi bỏ lệnh cấm vận kinh tế với Việt Nam,
mở ra cho thuỷ sản Việt Nam một thị trường mới đầy hứa hẹn. Từ đó đến nay,
kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường Mỹ không ngừng tăng lên, đặc
biệt là sau khi “Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ” được ký kết
(7.2000) và chính thức có hiệu lực (10/12/2001), Việt Nam đã được hưởng
Quy chế Tối huệ quốc của Mỹ. Từ năm 2001, Mỹ đã trở thành bạn hàng lớn
Chương II. Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Mỹ và
đánh giá năng lực năng lực cạnh tranh của hàng thuỷ sản xuất khẩu Việt
Nam sang thị trường Mỹ, phản ánh thực trạng các mặt hàng thuỷ sản được
người tiêu dùng Mỹ ưa chuộng, các nước xuất khẩu thuỷ sản chính vào Mỹ
với các sản phẩm thế mạnh, kinh nghiệm của các nước, từ đó so sánh và đánh
giá năng lực cạnh tranh của hàng thuỷ sản Việt Nam so với các nước đó.
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Phan ThÞ V©n- Líp NhËt 2- K38F
Chương III. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của thủy sản
xuất khẩu Việt Nam sang thị trường Mỹ.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn Thạc sĩ Trần
Việt Hùng, các thầy cô giáo khoa Kinh tế ngoại thương, Trung tâm thông tin
Bộ Thuỷ sản (10 Nguyễn Công Hoan, Hà Nội), công ty TNHH Minh Phú
(tỉnh Cà Mau) đã giúp đỡ em hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này.
Hà Nội ngày 5 tháng 12 năm 2003
Sinh viên thực hiện
Phan Thị Vân- Lớp Nhật 2- K38
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Phan ThÞ V©n- Líp NhËt 2- K38F
CHƯƠNG I. LÍ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ
TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA HÀNG THUỶ SẢN XUẤT KHẨU VIỆT NAM SANG
THỊ TRƯỜNG MỸ
1.1 LÍ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
1.1.1 Năng lực cạnh tranh là gì
Ngày nay chúng ta đang sống trong một môi trường siêu cạnh tranh,
tức là một môi trường có mức độ cạnh tranh rất khốc liệt và liên tục gia tăng.
Vậy cạnh tranh là gì và năng lực cạnh tranh là gì?
Cạnh tranh trên thị trường hàng hoá (sau đây gọi tắt là cạnh tranh) là
việc đấu tranh hoặc giành giật của một số đối thủ về khách hàng, thị trường
hoặc nguồn lực của các tổ chức.
Năng lực cạnh tranh là một khái niệm phức tạp, hiện nay năng lực cạnh
năm trước để đánh giá năng lực cạnh tranh của một quốc gia người ta phân
thành 8 nhóm chỉ tiêu với 500 tiêu chí khác nhau. 8 nhóm đó là độ mở của
nền kinh tế, vai trò hoạt động của chính phủ, hoạt động tài chính, công nghệ,
kết cấu hạ tầng, quản trị nguồn nhân lực, lao động, thể chế pháp luật). Về
năng lực cạnh tranh ngành hàng, có các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh
là lợi thế so sánh, năng suất lao động, sản phẩm… Về năng lực cạnh tranh sản
phẩm, thì người ta lại chú ý đến các chỉ tiêu giá cả, chất lượng, quy mô thị
trường. Cụ thể như sau:
1.1.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia
a) Môi trường kinh tế vĩ mô
Môi trường vĩ mô là các hệ thống chính sách, quan điểm, công cụ, biện
pháp và chủ trương mà Nhà nước can thiệp vào nhằm gây ảnh hưởng tới hoạt
động sản xuất và kinh doanh theo chiều hướng tích cực và có lợi nhất. Những
chỉ tiêu này cụ thể hơn bao gồm các chính sách về thuế quan như hệ thống
thuế quan, hàng rào phi thuế quan, các chính sách về xuất nhập khẩu, chính
sách về tỷ giá hối đoái, mức độ can thiệp của Nhà nước, năng lực và quy mô
của Chính phủ, những chính sách tài khoá, các chỉ tiêu liên quan đến tài chính
như khả năng thực hiện các hoạt động trung gian tài chính, rủi ro tài chính,
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Phan ThÞ V©n- Líp NhËt 2- K38F
đầu tư và tiết kiệm, các chỉ tiêu về kết cấu hạ tầng như giao thông liên lạc,
kho tàng bến bãi, các chỉ tiêu về quản trị, lao động…
b) Khoa học và công nghệ
Khoa học và công nghệ liên tục được nhắc đến như là chìa khoá cho sự
thành công của mỗi quốc gia. Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế tri thức
đang dần chiếm vị trí thống lĩnh thì khoa học công nghệ đặc biệt là sự phát
triển của mạng lưới thông tin Internet trở thành yếu tố quan trọng bậc nhất.
Đối với các quốc gia đang phát triển, thì việc đầu tư vào khoa học và công
nghệ để thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một bước tiến
chiến lược vững chắc trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia
trên trường quốc tế. Các chỉ tiêu về khoa học công nghệ bao gồm những chỉ
lượng trở thành yếu tố hàng đầu chứ không phải là yếu tố số lượng. Hơn nữa,
yêu cầu về chất lượng sản phẩm ngày càng tăng và đa dạng, các quốc gia
cũng sử dụng các hàng rào phi thuế quan ngày một nhiều hơn với yếu tố chất
lượng sản phẩm như một công cụ để bảo hộ sản xuất trong nước. Chất lượng
của sản phẩm là kết quả tổng hoà của các khâu khác nhau trong quá trình sản
xuất. Đối với mặt hàng thuỷ sản, việc nâng cao chất lượng được thực hiện bởi
việc áp dụng nhất loạt các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, các quy định
về kiểm dịch và đặc biệt là hệ thống HAACP.
Tiếp theo là tính đa dạng hoá của mặt hàng. Việc đa dạng hoá mặt hàng
luôn là một động thái chiến lược nhằm nâng cao tối đa tính thích nghi của
ngành hàng đối với sự thay đổi và đặc điểm khác nhau của các thị trường mục
tiêu. Nhờ đó, nó còn giúp cho việc mở rộng thị trường, thâm nhập các thị
trường mới và bao được nhiều các phân đoạn thị trường khác nhau.
1.1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm
a) Giá cả
Các nhà sản xuất luôn hiểu rằng, sản phẩm làm ra có mức giá phải
chăng, rẻ hơn đối thủ cạnh tranh trong khi chất lượng như nhau thì sẽ có năng
lực cạnh. Giá cả luôn là yếu tố quyết định cuối cùng xét trong tầm vĩ mô.
Muốn giảm giá bán thì doanh nghiệp phải tăng năng suất, giảm các chi phí
phụ có trong giá thành sản phẩm. Điều này lại liên quan đến năng lực quản lí
của doanh nghiệp, trình độ kĩ thuật công nghệ, nguồn nhân lực v.v… Một ví
dụ dễ thấy về mặt hàng Cá tra và cá basa của Việt Nam có giá cả phù hợp,
chất lượng tốt đã thể hiện rõ thế mạnh của mình trên thị trường Mỹ trong vài
năm trở lại đây.
b) Chất lượng
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Phan ThÞ V©n- Líp NhËt 2- K38F
Đời sống nâng cao, người tiêu dùng cũng đòi hỏi những sản phẩm có
chất lượng cao hơn. Chất lượng sản phẩm phân đoạn thị trường. Đặc biệt với
những nước phát triển như Mỹ, các nước EU, Nhật Bản, thu nhập trung bình
của người dân rất cao thì yếu tố chất lượng, và lại là chất lượng hàng thuỷ sản
96.1
0
20
40
60
80
100
120
140
160
1990 1995 2000
Nu«i trång TS Tæng s¶n lîng TS thÕ giíi Khai th¸c TS
Hình 1.2: Giá trị thương mại thuỷ sản thế giới (tỷ USD)
38.9
51.7
55.2
82.5
107.8
115.2
43.6
56.1
60
0
20
40
60
80
100
120
140
tiên tiến và sử dụng lò vi sóng làm ra các sản phẩm thuận tiện, ăn liền và các
sản phẩm giá trị gia tăng khác đang ngày càng gia tăng.
Trong tổng số sản lượng thuỷ sản, chỉ 25% được bán ra dưới dạng tươi
sống trong khi 75% là dùng để chế biến. Trong tổng số 75
% lượng thuỷ sản chế biến này, 40% được chế biến thành bột cá và dầu cá,
60% được chế biến thành thực phẩm cho người. Trong những năm qua, sản
lượng bột cá rất ổn định (chiếm 30% trong tổng sản lượng). Sản lượng khai
thác dùng để chế biến bột cá cao nhất chiếm tới 38% vào năm 1970 nhưng lại
giảm xuống nhanh chóng còn 27% vào năm 1973 do hiện tượng El Ninô ở
ngoài khơi vùng biển Nam Mỹ và từ đó đến nay vẫn chưa được khôi phục.
Về xuất khẩu thuỷ sản, trong những năm gần đây, xuất khẩu cá và các
sản phẩm thuỷ sản trên thế giới (bao gồm bột cá và dầu cá) tăng lên đáng kể
với giá trị tăng từ 7 tỷ USD năm 1976 lên tới 56 ty USD năm 2001. Các nước
đang phát triển đóng vai trò quan trọng trong buôn bán thương mại và lượng
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Phan ThÞ V©n- Líp NhËt 2- K38F
xuất khẩu chiếm gần 50% trong tổng lượng xuất khẩu trên thế giới. Năm 2000
và 2001, lượng xuất khẩu của những nước này cao hơn ít so với các nước phát
triển và xu hướng sẽ tiếp tục còn tăng cao hơn, đặc biệt là trong tình hình
nguồn lợi khó khăn của các nhà xuất khẩu thuỷ sản chính ở các nước phát
triển.
Về nhập khẩu thuỷ sản, tổng nhập khẩu các sản phẩm thuỷ sản thế giới
giảm nhẹ trong năm 2001 về giá trị đạt 59.300 triệu USD. Các nước phát triển
chiếm hơn 80% tổng nhập khẩu sản phẩm thuỷ sản. Nhật Bản vẫn là nước
nhập khẩu thuỷ sản lớn nhất thế giới chiếm 22% tổng nhập khẩu thuỷ sản của
thế giới, mặc dù đã giảm thị phần từ mức 30% trước đây của nước này. Nhập
khẩu các sản phẩm thuỷ sản của Nhật Bản đã giảm do tình trạnh nền kinh tế
suy yếu kéo dài.
EU tăng hơn nữa nhập khẩu thuỷ sản vì nguồn cung cấp thuỷ sản của
họ phụ thuộc vào nhập khẩu. Nhập khẩu của EU chiếm 35% giá trị nhập khẩu
của thế giới. Mỹ vừa là nước xuất khẩu lớn thư 4 thế giới vừa là nước nhập
1999 57,6 +4,5
2000 60,0 +4,1
Nguồn: Tạp chí khoa học và công nghệ thuỷ sản số 8/2003
Theo công bố của FAO, giá trị nhập khẩu thuỷ sản năm 2000 đạt 60 tỷ
USD, tăng 4,1% so với mức năm 1999, 4,9% so với mức năm 1996 và 37,6%
so với mức năm 1991. Diễn biến giá trị nhập khẩu thuỷ sản thế giới thời kỳ
1991- 2000 như ở bảng 2.
Cuộc khủng hoảng tài chính ở khi vực Đông Á và Đông Nam Á năm
1997 ảnh hưởng rất lớn tới nhập khẩu thuỷ sản thế giới. Tuy nhiên, tới năm
1999 gía trị đã vượt mức cao của năm 1996 và tiếp tục tăng trưởng với mức
trên 4%/năm. Diễn biến giá trị nhập khẩu thuỷ sản thế giới thập kỉ 1991- 2000
vừa qua cho thấy nó luôn luôn biến động, tăng giảm đan xen rất khó có thể dự
báo chính xác được.
1.2.2.1 Thị trường Mỹ
Mỹ là một nước nhập khẩu thuỷ sản lớn thứ hai trên thế giới sau Nhật
Bản với trị giá nhập khẩu trên 8 tỷ USD/năm. Năm 2000, Mỹ nhập khẩu thuỷ
sản từ 130 nước trên thế giới với khối lượng 1,6 triệu tấn, giá trị đạt khoảng
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Phan ThÞ V©n- Líp NhËt 2- K38F
10 tỷ USD. Năm 2002 Mỹ nhập khẩu khoảng 2 triệu tấn thuỷ sản với giá trị
cũng đạt tương đương 10 tỷ USD. Người tiêu dùng Mỹ sử dụng xấp xỉ 8%
tống sản lượng thuỷ sản của thế giới, trong đó hơn một nửa từ nhập khẩu. Mỹ
có khoảng 1300 nhà máy chế biến thuỷ sản với trang bị hiện đại, đóng góp
khoảng 25 tỷ USD vào tổng thu nhập quốc dân. Có thể khẳng định Mỹ là thị
trường tiềm năng rất lớn đối với xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam.
Các mặt hàng thuỷ sản được dân chúng Mỹ ưa chuộng là tôm, cá nước
ngọt, phi lê tươi và đông lạnh như cá basa, cá tra, tôm hùm sống, tươi và ướp
lạnh, cá ngừ nguyên con ướp đông lạnh, cá ngừ đóng hộp, cá hồi nguyên con
tươi và ướp lạnh. Cụ thể các mặt hàng này được tiêu dùng như thế nào ở thị
trường Mỹ sẽ được trình bày cụ thể ở chương II phần I (Bức tranh chung về
thị trường thuỷ sản Mỹ)
1998 3103 -8,2 13.291 -16,8
1999 3415 +10,0 15.266 +14,7
2000 3544 +4,1 15.513 +2,0
2001 3590 +1,0 15269 -1,6
Nguồn: Tạp chí khoa học và công nghệ thuỷ sản số 8/2003
Hàng năm, Nhật Bản khai thác được 7 triệu tấn thuỷ sản các loại và
hơn 1 triệu tấn là thu được từ nuôi trồng, nhưng Nhật Bản vẫn phải nhập khẩu
từ 3,5 đến 4 triệu tấn thuỷ sản để đáp ứng nhu cầu rất cao trong nước. Mức
tiêu thụ trung bình về thuỷ sản là 65,2kg/người.năm, với dân số 126 triệu
người, hàng năm Nhật Bản tiêu thụ 8,2 triệu tấn thuỷ sản. Đây là một con số
khổng lồ. Trong vài thập kỷ qua Nhật Bản luôn là thị trường nhập khẩu thuỷ
sản số 1 của thế giới và cũng là thị trường tiêu thụ thuỷ sản lớn nhất của các
nước khu vực Châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng.
Trước cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997, nhập khẩu thuỷ sản của
Nhật Bản tăng trưởng rất nhanh và đạt con số kỷ lục là 18,3 tỷ USD năm
1995, chiếm 32,6 tổng giá trị nhập khẩu thuỷ sản của thế giới. 3 năm sau cuộc
khủng hoảng, nhập khẩu thuỷ sản giảm sút rất lớn và xuống mức thấp nhất là
13,3 tỷ USD năm 1998 (bằng mức năm 1992). Tuy nhiên, những năm gần
đây, kinh tế Nhật Bản dần khôi phục, mức sống của người Nhật được hồi
phục, sức mua các sản phẩm thuỷ sản lại tăng lên. Năm 1999 nhập khẩu tăng
14,7% so với mức năm 1998 và năm 2000 tăng 2% so với mức năm 1999.
Các mặt hàng thuỷ sản nhập khẩu chính của Nhật Bản là tôm, cá thu, cá
ngừ, cá hồi, cua, cá chình, cá tuyết, nhuyễn thể chân đầu, tôm đóng hộp, bạch
tuộc, ngọc trai… trong đó tôm là mặt hàng có giá trị nhập khẩu lớn nhất và
giữ vị trí số 1 thế giới cho đến năm 1998, từ năm 1999 đến nay nhập khẩu
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Phan ThÞ V©n- Líp NhËt 2- K38F
tôm của Nhật đứng hàng thứ 2 trên thế giới sau Mỹ. Năm 2002, Việt Nam
vượt qua Ấn Độ trở thành nước đứng vị trí thứ 2 về giá trị tôm xuất khẩu sang
thị trường Nhật Bản.
Năm Giá trị xuất khẩu
thuỷ sản (tỷ
USD)
% tăng, giảm
so với năm kế
trước
Khối lượng xuất
khẩu thuỷ sản
(triệu T)
% tăng, giảm
so với năm
kế trước
1991 38,9 33,6
1992 40,3 +3,6 34,7 +3,2
1993 41,2 +2,2 39,4 +13,5
1994 47,3 +14,8 46,4 +17,8
1995 51,7 +9,3 47,6 +2,6
1996 52,8 +2,1 44,5 -6,5
1997 53,4 +1,1 46,2 +3,8
1998 51,2 -4,1 38,6 -16,5
1999 52,8 +3,1 42,8 +10,9
2000 55,2 +4,5 48,6 +13,6
Nguồn: Tạp chí khoa học và công nghệ thuỷ sản số 3/2002
Sau đây, xin nêu những nét chính về xuất khẩu thuỷ sản của một số
nước dẫn đầu.
1.2.3.1 Thái Lan
Năm 1993 Thái Lan vượt qua Mỹ trở thành nước xuất khẩu thuỷ sản số
1 thế giới và giữ vững vị trí này tới ngày nay. Diễn biến giá trị xuất khẩu thuỷ
sản của Thái Lan thời kì 1991- 2000 như sau:
Bảng 1.4: Giá trị thuỷ sản xuất khẩu Thái Lan 1991-2000
Hép c¸ c¸c lo¹i,
4.6, 5%
Nguồn: Tạp chí khoa học và công nghệ thuỷ sản số 3/2002
Xét riêng 3 mặt hàng tôm sú đông, hộp tôm và hộp cá ngừ đã chiếm
73% tổng giá trị xuất khẩu của Thái Lan. 3 mặt hàng này đã chiếm lĩnh thị
trường Mỹ. Sau thị trường Mỹ, Nhật Bản, EU và các nước Đông Á là các thị
trường chính tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản của Thái Lan.
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Phan ThÞ V©n- Líp NhËt 2- K38F
Tuy dẫn đầu thế giới suốt thập kỷ qua về xuất khẩu thuỷ sản, nhưng từ
năm 1996 trở lại đây, xuất khẩu của Thái Lan đã chững lại. Trong khi đó,
Trung Quốc đang tăng tốc về xuất khẩu thuỷ sản. Họ chỉ còn kém Thái Lan
hơn 600 triệu USD. Với tốc độ tăng trưởng là 24% (1999- 2000) thì chỉ sau
vài năm, việc Trung Quốc đuổi kịp và vượt Thái Lan là không còn nghi ngờ.
1.1.2.1 Trung Quốc
Năm 2000, Trung Quốc đã có bứt phá ngoạn mục, vượt qua Nauy vươn
lên vị trí số 2 và đang đe doạ vị trí số 1 của Thái Lan. Sau thời kỳ 1999- 2000,
giá trị xuất khẩu thuỷ sản tăng lên 200% là mức tăng kỉ lục và từ vị trí thứ 10,
Trung Quốc vươn lên đứng hàng thứ nhì trên thế giới.
Diễn biến của giá trị xuất khẩu thuỷ sản của Trung Quốc như sau:
Bảng 1.5: Giá trị thuỷ sản xuất khẩu của Trung Quốc thời kỳ 1991-
2000
Năm Giá trị xuất khẩu thuỷ
sản (triệu USD)
% tăng giảm
1991 1.181 -
1992 1.560 +30,0
1993 1.542 -1,3
1994 2.320 +54,6
1995 2.854 +23,9
1996 2.854 0
Trung Quc cú tim nng rt ln v thu sn, tng sn lng thu sn nm
2000 vt 40 triu tn. H cú cỏc loi sn phm t cao cp ti bỡnh dõn>
Gn õy, cụng nghip cỏ philờ v hp cỏ ó cú bc tin vt bc. H khụng
ch cú tim nng rt ln v ngun nguyờn liu m cũn nhp khu nhiu thu
sn nguyờn liờ ca cỏc nc lng ging tỏi ch xut khu. Vic Trung
Quc tr thnh nc xut khu thu sn s 1 th gii chc s khụng cũn xa.
H luụn l i th cnh tranh rt ỏng ghm ca cỏc nc xut khu thu sn
khu vc v trờn th gii. Vic tụm chõn trng nuụi ca Trung Quc ang ln
lt sn phm cựng loi ca Cuao ti th trng M l bng chng.
*Sau Thỏi Lan v Trung Quc l hai nc dn u, Nauy nhiu nm
lin ng v trớ xut khu thu sn s 2 th gii, mi chu tt xung v trớ s
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Phan ThÞ V©n- Líp NhËt 2- K38F
3. Năm 1999 giá trị xuất khẩu thuỷ sản đạt cao nhất 3,76 tỷ USD, mức độ
tăng trưởng bình quân hàng năm thời kỳ 1991- 1999 là 63,5%, là mức tăng
cao nhất khu vực Tây Âu. Xuất khẩu thuỷ sản Nauy cũng dựa hẳn vào các sản
phẩm cá, đặc biệt là cá hồi nuôi nhân tạo.
*Mỹ: Thời kì 1989- 1992, Mỹ là nước xuất khẩu thuỷ sản số 1 thế giới.
Đến nay Mỹ đã tụt xuống hàng thứ 4 và hết hi vọng quay lại thời hoàng kim
xưa. Xuất khẩu thuỷ sản của Mỹ giảm liên tục từ 3,58 tỷ USD năm 1992
xuống còn 2,4 tỷ USD năm 1998 (giảm 33%). Từ năm 1998 đến năm 2000,
giá trị xuất khẩu tăng dần và đạt 3 tỷ USD năm 2000 (số 4 thế giới). Nguyên
nhân chính là hàng xuất khẩu của Mỹ có giá trị không cao, ít hàng cao cấp,
chủ yếu là cá biển khai thác (cá tuyết, cá hồi, cá trích), hàng cao cấp chỉ có
tôm hùm, cá biển, surimi cá tuyết. Thị trường tiêu thụ thuỷ sản của Mỹ cũng
hẹp (chủ yếu là Nhật Bản, Canađa). Xu hướng của Mỹ là xuất khẩu tiếp tục
duy trì hoặc giảm nhẹ, nhập khẩu tăng lên dẫn đến thâm hụt thương mại quốc
tế về thuỷ sản của Mỹ ngày một tăng (hiện nay là 7 tỷ USD).
1.3 SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH MẶT
HÀNG THUỶ SẢN XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
Vị trí ngành thuỷ sản xuất khẩu trong xuất khẩu nói chung