Vai trò của thương hiệu trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành nông sản Việt Nam - Pdf 14

Lời Nói đầu
Thương hiệu đóng vai trò hết sức quan trọng không chỉ đối với hàng hoá
của doanh nghiệp, sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp mà còn đối với cả
nền kinh tế quốc gia. Thương hiệu là tài sản vô hình vô cùng quý giá của doanh
nghiệp, niềm tự hào của dân tộc, biểu tượng tiềm lực kinh tế của một quốc gia.
Trong những năm gần đây các doanh nghiệp Việt Nam đã có những chuyển
biến rõ rệt trong nhận thức về thương hiệu, xác định đây là công cụ cạnh tranh
cực kỳ quan trọng và đã từng bước có sự chuẩn bị về kế hoạch và chiến lược
xây dựng thương hiệu. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, tiềm lực tài chính của
các doanh nghiệp Việt Nam còn nhỏ bé nên việc tạo lập, củng cố, quảng bá
thương hiệu gặp nhiều khó khăn và hạn chế. ĐÕn nay chúng ta chưa có thương
hiệu mạnh để cạnh tranh với các hãng có tên tuổi trên thế giới, ở cả trong nước
và ngoài nước. Đặc biệt với ngành nông sản, một trong những ngành chủ chốt
trong nÒn kinh tế của đất nước thì vấn đề tạo lập một thương hiệu vững mạnh
trên thị trường thế giới là điều hết sức cần thiết mà các nhà kinh tế cần quan tâm.
Ngành nông sản Việt Nam đang đứng trước những thách thức và cơ hội to lớn
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Vì vậy cần phải tạo lập một thương
hiệu vững chắc cho ngành nông sản để nâng cao năng lực canh tranh của ngành
nông sản để có thể cạnh tranh với các nước trên thế giới. Đấy chính là vấn đề mà
tôi đề cập đến trong đề tài này. Với câu hỏi đặt ra là:” Làm thế nào để nâng cao
năng lực canh tranh của ngành nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tê”.
Với mong muốn tìm hiểu, nghiên cứu nhằm góp phần trả lời câu hỏi trên, tôi
đã chọn đề tài: Vai trò của thương hiệu trong việc nâng cao năng lực cạnh
tranh của ngành nông sản Việt Nam.
Đề tài được chia thành 4 chương:
• Chương I : Thương hiệu và các yếu tố cấu thành thương hiệu.
• Chương II: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành nông sản.
• Chương III: Thương hiệu trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của
ngành nông sản Việt Nam.
• Chương IV: Giải pháp phát triển thương hiệu để nâng cao năng lực cạnh
tranh của ngành nông sản

định của một công ty nhất định. Và khi nhắc đến một sản phẩm nào đó thì họ
liên tưởng đến một nhãn hiệu cụ thể nào đó.
Như vậy, nhãn hiệu hàng hoá là dấu hiệu đặc trưng để xác định nhà sản xuất
hay nhà cung cấp một loại hàng hoá hay dịch vụ nào đó. Hiệp định về những
khía cạnh liên quan đến thương mại quyền sở hữu trí tuệ TRIPS đã định nghĩa
như sau:”Nhãn hiệu hàng hoá là bấy kỳ một dấu hiệu hay tổ hợp dấu hiệu nào
đó có khả năng phân biệt hàng hoá hay dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng
hoá, dịch vụ của doanh nghiệp khác.”
Trong Bộ Luật Dân Sự Việt Nam đã quy định:” Nhãn hiệu hàng hoá là những
dấu hiẹu dùng để phân biệt hàng hoá dịch vụ cùng chủng loại của cơ sở sản xuất
kinh doanh. Nhãn hiệu hàng hoá có thể là từ ngữ, hình ảnh hay sự kết hợp của
các yếu tố đó được thể hiện bằng nhiều màu sắc”.
2
Tóm lại, có thể nói trong định nghĩa về nhãn hiệu hàng hoá nêu lên hai bộ
phận: thứ nhất là tên nhãn hiệu, là bộ phận mà ta có thể đọc được. Thứ hai là bộ
phận của nhãn hiệu (biểu tượng) là bộ phận của nhãn hiệu mà ta có thể nhận biết
được, không đọc dược như hình vẽ màu sắc, ví dụ như hình ảnh con sư tử vàng
của hãng bia Tiger.
Khi hàng hoá được lưu thông trên thị trường thì nhãn hiệu hàng hoá lúc đó
được gọi là nhãn hiệu thương mại. Nhãn hiệu thương mại có thể được đăng ký
bảo hộ hay không phụ thuộc vào người chủ nhãn hiệu. Trên thực tế hiện nay cho
thấy nếu như nhãn hiệu thương mại đã được đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp thì người chủ sỏ hữu sẽ được độc quyền sử dụng nhãn hiệu thương mại
dưới sự bảo hộ của pháp luật. Khi đó, chủ sở hữu có thể toàn quyền sử dụng,
mua bán, hay cho thuê nhãn hiệu thương mại của mình. Điều này tức là chủ
nhãn hiệu có thể định giá cho nhãn hiệu của mình. Với ý nghĩa đó, thương hiệu
của hàng hoá ra đời và được hiểu là nhãn hiệu hàng hoá sau khi đã được thương
mại hoá, được mua bán trên thị trường.
Dưới góc độ xây dựng thương hiệu, tên nhãn hiệu là thành tố cơ bản vì nó
thường là yếu tố chính hoặc là liên hệ chính của sản phẩm một cách cô đọng và

2. Sử dụng từ thông dụng: từ thông dụng là những từ hiện dùng, thực sự có
nghĩa trong một ngôn ngữ nào đó (Future, Rạng ông, Thống Nhất, Trung
Thành...)
3. Sử dụng từ ghép: từ ghép là sự kết hợp các từ hiện dùng và các âm tiết dễ
nhận biết (VINAMILK, Thinkpad)
4. Sử dụng từ viết tắt: thông thường từ viết tắt được tạo thành từ những chữ
cái đầu của tên công ty, từ viết tắt cũng có thể phát âm được và mang một thông
điệp nào đó (VNPT, FPT, IBM, LG...)
Interbrand cho rằng phát triển thương hiệu không phải bắt đầu từ sự ra đời của
sản phẩm hay dịch vụ mà bắt đầu ngay từ khái niệm hướng đến sự hình thành
tên nhãn hiệu bởi tên nhãn hiệu là ấn tượng đầu tiên tạo ra nhận thức nhãn hiệu
trong tiềm thức người tiêu dùng.
2.2 Logo
Dưới góc độ xây dựng thương hiệu, logo là thành tố đồ hoạ của nhãn hiệu góp
phần quan trọng trong nhận thức của khách hàng về nhãn hiệu. Thông thường,
logo nhằm củng cố ý nghĩa của nhãn hiệu theo một cách nào đó. Các nghiên
cứu đều cho thấy lợi ích logo đối với nhận thức nhãn hiệu của khách hàng là rất
quan trọng. Logo có thể tạo ra liên hệ thông qua ý nghĩa tự có của nó hoặc thông
qua chương trình tiếp thị hỗ trợ. So với nhãn hiệu, logo trừu tượng và độc đáo và
dễ nhận biết hơn, nhưng cũng tiền ẩn nguy cơ khách hàng không hiểu logo có ý
nghĩa gì với nhãn hiệu nếu không được giả thích thông qua chương trình hỗ trợ
trực tiếp.
Dưới góc độ pháp luật, logo gồm các yếu tố hình độc đáo, riêng có tạo thành
một chỉnh thể thống nhất. Logo tạo ra khả năng phân biệt của sản phẩm vì vậy,
logo được xem xét bảo hộ với tư cách là nhãn hiệu hàng hoá.
4
Với đặc tính đa dạng của của các yếu tố đồ hoạ, logo có thể là một hình vẽ,
một cách trình bày chữ viết (tên doanh nghiệpt, sản phẩm), hoặc kết hợp cả hình
vẽ và chữ viết tạo ra một bản sắc riêng của thương hiệu. Logo chính là biểu
tượng đặc trưng, là “ bộ mặt” của thương hiệu.Thông thường, các chuyên gia áp

một đối thủ đáng gờm của coca cola.
5
• Thứ hai là ngắn gọn: Một slogan hay phải luôn là một slogan ngắn gọn, dễ
hiểu, dễ đọc. Với nhiệm vụ phải đi vào tiềm thức của khách hàng, không ai đi xây
dung matt slogan dai dằng dặc đầy đủ toàn bộ về tính năng, tác dụng, tính ưu việt
của sản phẩm cả, bởi khách hàng sẽ chẳng ai bỏ công đi nhớ một slogan dài như
vậy. Cà phê Trung Nguyên đã phải bỏ slogan dài cũ đi:” mang lại nguồn cảm hứng
sáng tạo mới” bằng một slogan ngắn gọn hơn “ khơi nguồn sáng tạo’. Quả thực
slogan sau ngắn gọn, ấn tượng và dễ nhớ hơn nhiều.
• Thứ ba là không phản cảm: slogan phải tuyệt đối tránh những từ ngữ có thể
gây phản cảm hoặc xúc phạm đến người khác cho dù đó chỉ là một bộ phận khách
hàng không lớn.
• Thứ tư là cần nhấn mạnh vào lợi ích của sản phẩm: Slogan phải thể hiện
được tính năng và lợi ích khi khách hàng sử dụng sản phẩm. Ví dụ như:”connecting
people" (kết nối mọi ngườik) của hãng điện thoại Nokia hay “ Luôn luôn lắng
nghe. Luôn luôn thấu hiểu” của hãng bảo hiểm quốc tế Prudential.
III. Ý nghĩa của thương hiệu
1 Đối với doanh nghiệp
Nhà kinh tế Kevin Lane Keller đã viết: “Càng ngày các doanh nghiệp càng
nhận thấy rằng một trong những tài sản quý giá nhất của họ chính là thương hiệu”.
Thương hiệu đã và đang trở thành thứ tài sản vô hình quan trọng và vũ khí cạnh
tranh sắc bén của doanh nghiệp trên thị trường.
Năng lực cạnh tranh bằng thương hiệu là danh tiếng, uy tín dựa trên tổng hợp tất
cả sự khác biệt và những nét đặc trưng đã được khách hàng chấp nhận. Lợi thế
cạnh tranh bằng thương hiệu được thể hiện ở:
• Thương hiệu giúp người bán có cơ hội thu hút một nhóm khách hàng trung
thành và lưu giữ hình ảnh về sản phẩmT, doanh nghiệp ở những khách hàng tương
lai. Trong kinh doanh "đồng tiền đến rồi đồng tiền lại đi" nhưng khách hàng thì
phải ở lại. Muốn khách hàng ở lại với mình thì hình ảnh của doanh nghiệp, của sản
phẩm phải đọng lại trong họ thông qua một dấu hiệu nhận biết, thương hiệu là dấu

người tiêu dùng đã tiết kiệm được rất nhiều thời gian và công sức trong việc lựa
chọn được sản phẩm mong muốn nhất.
3. Thương hiệu mạnh - niềm tự hào của một quốc gia.
Khi nói đến Pháp người ta nghĩ ngay đến rượu vang, nói đến Nhật người ta
nghĩ ngay đến Sony, Honda, Toyota mặc dù rượu vang không phải là tất cả nước
Pháp cũng như Sony, Honda, Toyota không phải là tất cả nước Nhật. Người Mỹ
cũng đã phải kinh ngạc trước chất lượng của các xe ô tô và đồ điện tử của Nhật,
cũng như ô tô, quần áo và thực phẩm của Châu Âu.
Như vậy, việc xây dựng thương hiệu không chỉ thúc đẩy sản phẩm của doanh
nghiệp mà còn góp phần tạo nên diện mạo quốc gia. Những thương hiệu mạnh đã
quảng bá hình ảnh và trình độ phát triển của nước Nhật, nước Pháp đến toàn thế
giới.
Những thương hiệu mạnh sẽ đóng vai trò sứ giả để sản phẩm các quốc gia
chiếm lĩnh thị trường thế giới, tạo nên những bước đệm vững chắc góp phần đưa
đất nước hội nhập kinh tế quốc tế.
7
Chương II: Thực trạng năng lực cạnh tranh
của ngành nông sản
I. Tình hình sản xuất hàng nông sản của Việt NamI
Việt Nam với đặc trưng là một nước nông nghiệp, điều kiện khí hậu, địa lý đã
tạo điều kiện thuận lợi cho ngành sản xuất nông sản phát triển. Một số mặt hàng
đã trở thành thế mạnh của Việt Nam trong thời gian qua như: cà phê, cao su, lúa,
hạt điều …
Thứ nhất: mặt hàng cà phê được phân bố rộng rãi từ Bắc tới Nam trên nhiều
tỉnh trung du, cao nguyên và miền núi. Trước kia cà phê được trồng gồm 3 loại:
cà phê chè (Arabica), cà phê vối (Robusta) và cà phê mít (Exceta). Nay chỉ có cà
phê chè và cà phê vối được trồng ở những vùng sinh thái khác nhau. Do chú
trọng đầu tư thâm canh nên cà phê Việt Nam đã cho năng suất và sản lượng cao.
Liên tục trong nhiều nam qua năng suất tăng rõ rệt từ 650-800kg nhân /ha, nay
đạt bình quân 1.4tấn nhân /ha, cá biệt có những nơi năng suất đạt từ 4,5-5 tấn

Một số mặt hàng nông sản khác của nước ta đã có bước phát triển rõ rệt, sản
xuất tăng trưởng liên tục với nhịp độ cao, cơ cấu kinh tế đang dần được chuyển
dịch theo hướng phát huy lợi thế so sánh của từng vùng, địa phương cũng như
trong cả nước, đã hình thành nhiều vùng hàng hoá tập trung tương đối lớn. Kinh
tế nông thôn có những bước chuyển biến khá rõ rệt, đời sống nông dân ở nhiều
vùng được cải thiện, nhưng vấn đề nổi bật là các loại hàng hoá này có chất
lượng thấp, tổ chức tiêu thụ còn nhiều yếu kém, thường xảy ra tình trạng nhiều
khi tiêu thụ không bắt kịp nhất là trong vụ thu hoạch, giá cả xuống thấp gây thiệt
hại cho nông dân. Tình trạnh này kéo dài làm cho nông dân buộc phải chuyển
đổi các loại cây trồng, hoặc quy về sản xuất tự cung tự cấp, hoặc chuyển sang
ngành nghề khác.
Qua những yếu tố trên đây, có thể thấy tình trạnh sản xuất hàng nông sản
Việt Nam vẫn mang tính chất của nền sản xuất nhỏ, tự cung tự cấp và mới đang
trong quá trình chuyển sang nền kinh tế hàng hoá, năng suất lao động thấp do đó
kéo dài thời gian sản xuất sản phẩm nên không tạo được sức cạnh tranh trên thị
trường.
II. Thực trạng công nghệ chế biến nông sản
Hàng nông sản của Việt Nam ở vị trí khá cao so với các quốc gia khác trong
khu vực cũng như trên thế giới, hàng nông sản của nước ta có mặt hầu hết trên
tất cả các thị trường của thế giới nhưng lượng ngoại tệ thu về từ hàng nông sản
vẫn còn rất khiêm tốn do giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản như gạo, cà
phê, cao su, hạt điều... đều bán thấp hơn giá thế giới từ 20-40USD. Công nghệ
và các cơ sở chế biến nông sản của Việt Nam trong thời gian dài ít được quan
tâm đầy đủ. Đây là một trong những nguyên nhân chính làm thất thoát 20-30%
lượng hàng nông sản hàng năm. Một phần của vấn đề này là do khó khăn về
nguồn vốn đầu tư nên trình độ công nghệ thấp kém và chậm được đổi mới, tổn
thất sau thu ho¹ch còn rất lớn. Cơ sở chế biết hàng nông sản xuất khẩu còn ít
9
như ngành cà phê mới chỉ có khoảng hơn 20 cơ sở chế biết công nghiệp hoàn
chỉnh, chủ yếu là sơ chế đảm bảo chiếm khoảng hơn 30% sản lượng cà phê /

2003. Tổn kim ngạch xuất khẩu của cả nước ngày một tăng, năm sau tăng nhanh
hơn năm trước. Xét từ năm 1991, nước ta xuất khẩu đạt 2078 triệu USD thì đến
năm 2000 đã đạt tơi 14308 triệu USD ggấp 7 lần, trong đó kim ngạch xuất khẩu
nông sản đạt 4300 triệu USD, tăng hơn năm 1991 là 3, 9 lần và chiếm 30% tổng
10
kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế. Trong mặt hàng nông sản, lúa gạo vẫn
chiếm tỷ trọng cao nhất, sản lượng lúa cả năm cảu nước tăng 1, 2 triệu tấn.
Chính phủ cho phép tiếp tục xuất khẩu gạo, cáo doanh nghiệp đã ký kết được
nhiều hợp đồng với các nước Châu Phi và một số nước trong khu vực như
Malaysia, philipines… Cộng giá xuất khẩu gạo tăng cao nên tổng sản lượng
xuất khẩu là 3, 9 triệu tấn (so với năm 2003s) nhưng kim ngạch xuấ khẩu tăng
trên 23%, đạt trên 900 triệu USD. Tổng kim ngạch xuất khẩu 4 tỷ USD hàng
nông sản trong năm 2004 thực sự là một thành công. Thành quả xuất khẩu này
khẳng định việc nâng cao chất lượng, xúc tiến thương mại, xây dung thương
hiệu, nâng cao năng lực cạnh tranh của từng ngành hàng. Năm 2004, cùng với
các chính sách, hoạch đinh của các cơ quan quản lý, hầu hết các doanh nghiệp,
hiệp hội ngành hàng đã có những bước đi cụ thể, bước đầu có kết quả trong việc
khẳng định vị thế sản phẩm của mình trên thị trường quốc tế. Tổng công ty chè
đã tập trung xây dựng thương hiệu có mẫu mã bao bì đạt tiêu chuẩn quốc tế với
tổng chi phí quản cáo khoảng 5 triệu USD, đồng thời xây dung mội sàn giao
dịch chè ở Hà Nội tạo điều kiện thuận lợi cho sản phẩm chè “ xuất ngoại” . Hiệp
hội hồ tiêu cũng đã có chương trình kìm tốc độ tăng diện tích để tập trung vào
việc nâng cao chất lượng, phấn đấu đạt 60% sản lượng hồ tiêu đạt chất lượng
cao trong năm 2007. Các doanh nghiệp xuất khẩu gạo cũng đang thúc đẩy
chương trình 1 triệu ha sản xuất lúa chất lượng cao bằng việc tăng cường việc
ký hợp đồng bao tiêu gạo chất lượng cao, gạo đặc sản với nông dân. Sản phẩm
cà phê cũng vươn đến những thị trường Mỹ, Châu Âu bằng thương hiệu “ Made
in Viet Nam” …
11
Bảng 1. Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu của cac mặt hàng nông sản chủ yếu

làm tăng cán cân thương mại và nguồn ngoại tệ của quốc gia. Số liệu cũng cho
thấy mặt hàng goạ và cà phê là có mức chênh lệch nhất trong 4 mặt hàng so với
các đối thủ cạnh tranh.
Sau đây ta đi phân tÝch cụ thể mặt hàng cà phê – là mặt hàng có nguồn thu
ngoại tệ lớn nhất so với các mặt hàng nông sản khác. có thể nói cà phê là thức
uống mà được nhiều người ưu thích, là măt hàng xuất khẩu ở nhiều thị trường và
đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn.
• Phân chia xuất khẩu theo thị trường.
Trước kia thị trường xuất khẩu cà phê của Việt Nam chủ yếu là các nước
thuộc khu vực I. Liên Xô là thị trường chính, khố lượng xuất khẩu cà phê của
Việt Nam sang thị trường này là 55-60%. Từ cuối năm 1985 trở đi Việt Nam bắt
đầu xuất sang các nước thuộc khu vực II. Thời kỳ này, Việt Nam chưa gia nhập
Hiệp Hội cà phê quốc tế (ICO) nên việc xuất khẩu chỉ là xuất thử hoặc qua trung
gian, thường là Singapore với tỷ lệ 30-40% tổng sản lượng bằng 60% lượng xuất
khẩu sang khu vực II với giá thấp và chất lượng không cao trong khi chất lượng
yêu cầu của các nước tiêu thụ trực tiếp lại rất cao. Đến năm 1994 trở đi Việt
Nam mới thâm nhập vào thị trường Châu Âu, Nhật, Mỹ, giảm lượng xuất khẩu
qua trung gian Singapore, nâng kim ngạch xuất khẩu lên đáng kể. Sự có mặt của
12
cà phê Việt Nam trên thị trường Mỹ là chứng nhận cho cố gắng to lớn của
những nhà xuất khẩu Việt Nam.
Bảng 2: Thị trường xuất khẩu cà phê của Việt Nam.
Đơn vị: Tấn
Tạp chí kinh tế phát triển số 125 tháng 3/2001
Qua bảng số liệu trên cho thấy nếu như niên vụ 1995-1996 thị trường Châu á
nhập 45.045 tấn cà phê chiếm 20, 4 tổng sản lượng xuất khẩu của Việt Nam, thị
trường Châu Âu nhập 94.982 tấn (chiếm 43,03%) thì trong niên vụ 1998-1999
thị trường Châu á chỉ còn nhập 28.564 tấn cà phê (chiếm 7c,2%), thị trường
Châu Âu nhập 278.125 tấn (chiếm 70,08%). Điều này chứng tỏ các nhà xuất
khẩu cà phê của Việt Nam đang từng bước việc hạn chế việc xuất qua trung gian

Châu úc 6.913 7.038 8.839 15.483
Tổng 220.755 324.318 390.279 396.893
Nhìn chung giá nông sản của Việt Nam thường thấp hơn so với một số nước,
bên cạnh đó nước ta thường xuất khẩu theo giá FBO nên giá trị thu về thường
không cao. Thêm vào đó diễn biến về giá cả trong những năm qua cũng đã làm
cho hàng nông sản Việt Nam đã khó khăn lại càng khó khăn hơn, giá nông sản
liên tục giảm đã làm ảnh hưởng đến tình trạnh sản xuất và tiêu thụ ở Việt Nam.
Sau đây là bảng xuất khẩu hàng nông sản về giá trị và sản lượng trong những
năm gần đây.
Bảng 4: Xuất khẩu hàng nông sản năm 2004-2005.
Mặt
hàng
Năm 2004 Năm 2005
Lượng
(1000tấn
)
Trị giá
(Tr
USD)
Giá BQ
(USD/tấn)
Lượng
(1000tấn
)
Trị giá
(Tr
USD)
Lượng
(USD/tấn)
Gạo 3200 1098 382,46 5000 1320 402,7

có những tiến bộ đáng kể như mặt hàng cà phê loại 1 tăng từ 18% (vụ 2000-
2001) lên 24% năm 2004, loại B giảm từ 60% (2000-2001) xuống còn 7%
(2004-2005) Tỷ lệ cao su thượng hạng tăng từ 94, 04 năm 2001 lên 97,3% năm
2004. Tuy đã tăng được tỷ trọng phẩm cấp cao nhưng mẫu mã đơn điệu nên
chưa thâm nhập được vào phần thị trường cấp cao và do đó giá bán luôn thấp
hơn giá của đối thủ cạnh tranh gây thua thiệt cho hoạt động sản xuất và xuất
khẩu. Mặc dù nông sản Việt Nam có chất lượng khá tốt nhưng các loại có chất
lượng không đồng đều, tỷ lệ phế phẩm còn cao. Hầu hết trong những năm gần
đây, một số dây chuyền chế biến nông sản được nhập ngoại có quy trình công
nghệ tiên tiến nhưng chưa khai thác được tối đa công suất.
Nhìn chung, khoảng 70% sản lượng nông sản hàng năm được chế biến tại
các hộ gia đình, chất lượng không cao. Gần 30% qua chế biến tại các cơ sỏ sản
xuất công nghịêp có dây chuyền phần lớn đã lại hậu, sản phẩm dùng làm nguyên
liệu, do đó giá trị kim ngạch xuất khẩu nông sản không cao là một tất yếu.Tóm
lại cần nâng cao chất lượng của nông sản Việt Nam nhằm nâng cao khả năng
cạnh tranh trên trường quốc tế.
• Về hệ thống thu thập thông tin - dự đoán và nghiên cứu thị trường.
Kinh doanh mặt hàng nông sản của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chủ
yếu bằng hình thức mua bán theo hợp đồng kỳ hạn, giá cả được xác định dựa
vào giá giao dịch nông sản trong ngày của thị trường khu vực. Yếu tố quan trọng
của việc thúc đẩy xuất khẩu nông sản là thông tin và các dữ liệu thị trường phải
chính xác, kịp thời so với thị trường thế giới để làm cơ sở phân tích dự đoán thị
trường và đưa ra các quyết định mua bán. Đây là điều quan trọng nhất mà cũng
là điều mà các nhà xuất khẩu nông sản của Việt Nam đang thiếu. Có thể thấy
rằng bộ phận tham tán thương mại của Viẹt Nam ở nước ngoài đã không thực
hiện tốt việc thu thập và cung cấp thông tin về thị trường cho các doanh nghiệp.
Chính vì vậy, nguồn thông tin hạn hẹp duy nhất về thị trường thế giới mà các
nhà doanh nghiệp có đượng là nhờ mua của các hãng nước ngoài. Chính từ
nguồn thông tin này và một số nguồn thông tin hạn chế khác tự thu thập được,
kết hợp với kinh nghiệm và cảm tính kinh doanh của doanh nghiệp để ra quyết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status